CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HÁT TRỐNG QUÂN Ở HƯNG YÊN 14 1. Khái niệm “Hát trống quân” Hát trống quân là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian, một hình thức hát giao duyên từ lâu của người Việt ở Bắc Bộ. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hát trống quân.Trong cuốn Hát trống quân, tác giả Trần Việt Ngữ định nghĩa: “Hát trống quân là loại dân ca đối đáp thi tài đua trí với nội dung trao đổi những câu hát giao duyên tình tứ, trao đổi những nhận biết và kinh nghiệm sống giữa nam nữ trung niên, thanh niên trong xã hội nông nghiệp với văn minh lúa nước. Cũng theo lí giải của nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ thì tên gọi trống quân là: “Do đọc chệch từ trung quân, vì đã lấy điệu hát giải trí của đội Trung Quân mà vua Quang Trung tuyển chọn trong cuộc hành quân ra Bắc diệt Thanh”[47, tr.
Hay “do xưa kia có lệ, khi quan đổi lỵ sở thường được bạn đồng liêu theo tiễn một đoạn đường, tay cầm khẩu trống điểm nhịp, hát câu tiễn bạn trong đó có đoạn tống quân nam phố, thương như chi hà (tiễn bạn về phương Nam, nhớ thương ai đo được).Lối hát tiễn của giới nhà quan lan ra dân gian và đọc chệch tống quân thành trống quân” [47, tr.Tác giả Lê Văn Hảo có định nghĩa về trống quân như sau: “Trống quân là một loại hát hội vấn đáp nam nữ thanh niên, khuyến khích họ giãi bày tình cảm, trí thông minh và cốt cách qua trung gian nghệ thuật, trong không khí vui vẻ tưng bừng của hội thu”[15, tr. Cũng bàn về tên gọi của trống quân, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Loan cho rằng:Cái tên “trống quân” ở đây được bắt nguồn từ hai chữ trống quân trong câu kết trổ nhạc được nhắc đi nhắc lại sau mỗi lần hát của nam hay nữ, đó là “kia hỡi trống quân”. Cách gọi này không chỉ có ở hát trống quân mà còn ở một số thể loại nghệ thuật truyền thống khác cũng có cách đặt tên tương tự như tên gọi “hát lãi lèn” của thể loại hát xoan có nguyên do từ tiếng đệm kết sau mỗi quả cách là “Lãi len là hỡi lãi lèn, len hỡi là len” Căn cứ vào những ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể hiểu hát trống quân là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian có từ lâu đời. Đó là hình thức hát đối 15 đáp giữa một bên nam và một bên nữ có kèm theo gõ trống.
Hát trống quân có ở rất nhiều nơi nhưng phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, có nội dung chủ yếu thể hiện tình cảm giao duyên nam nữ. Khái niệm “Diễn xướng dân gian” Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt trong văn học và văn hoá dân gian.TheoTừ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) đã định nghĩa diễn xướng một cách ngắn gọn là: “Trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu”.Cùng với việc lí giải ý nghĩa của thuật ngữ “Diễn xướng dân gian”, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Dùng chữ diễn xướng dân gian ta muốn chỉ hẳn vào các hình thái sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, thực sự do quần chúng tạo nên, không bị ảnh hưởng của sự chỉ đạo của nhà nước hay của các nhà nghệ thuật chuyên nghiệp”[33, tr. Theo tác giả Lê Trung Vũ: “Diễn xướng vừa là hình thức sinh hoạt văn hoá xã hội định kì (như hội Gióng, hội Xoan, hội Chùa) quy mô làng xã; vừa là sinh hoạt văn hoá xã hội không định kì như (đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ …) quy mô gia đình hoặc việc làng xã. Diễn xướng là lối trình diễn rất tự nhiên không định kì cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí)” [78, tr.
Tìm hiểu về diễn xướng, tác giả Nguyễn Hữu Thu quan niệm: “Thuật ngữ diễn xướng là để chỉ trình bày những sáng tác văn nghệ của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành. Diễn xướng là thể thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của nhiều người từ lúc sơ khai cho đến thời đại ngày nay”. Tại hội nghị khoa học chuyên đề “Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian với nghệ thuật sân khấu”, các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm: “Diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân gắn bó chặt chẽ với các vị thần của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.Diễn xướng dân gian là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc, có quan hệ mật thiết với hầu hết 16 các bộ môn nghệ thuật dân tộc trước cũng như sau những bộ môn riêng biệt”. Bàn về khái niệm này, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu cho rằng: “Nói diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân gắn bó chặt chẽ với các vị thần của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.Diễn xướng dân gian là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc” là đúng nhưng chưa đủ vì nhân dân đã làm ra nhiều hình thức văn nghệ khác nhau.
Theo ông “thuật ngữ diễn xướng dân gian có thể và cần được hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau. Với nghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn (hay diễn xướng) và ít hoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên, (hay tính chất nguyên hợp) mà lâu nay ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp nó chỉ bao gồm các thể loại diễn (như trò diễn, trò tế lễ dân gian.Hoàng Tiến Tựu đã chia diễn xướng dân gian thành 4 loại: nói, kể, hát, diễn tương ứng với 4 phương thức phản ánh chủ yếu của văn học dân gian là suy lý, tự sự, trữ tình, kịch Căn cứ vào các ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể hiểu diễn xướng là yếu tố cấu thành duy nhất hợp với mục đích cuối cùng của một tác phẩm văn nghệ dân gian. Diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân giúp cho con người có thể nhận thức được nội dung thẩm mĩ của tác phẩm một cách đầy đủ và trí tưởng tượng phong phú. Các thuật ngữ trong hát trống quân.
Theo lời của các nghệ nhân, khi xưa trống quân ở Hưng Yên chỉ chuyên hát mộc mạc theo lời cổ, ngày nay người biên tập, dàn dựng sáng tác đưa vào một số từ gọi là thuật ngữ để lời hát trống quân nuột nà hơn. Đó là những thuật ngữ diễn tả sự mềm mại, nhẹ nhàng, tha thiết của hệ thống làn điệu hát trống quân vừa có ý nghĩa khoa học dựa trên cơ sở thực tế. Trong quá trình đi nghe hát trống quân ở các làng, các câu lạc bộ, chúng tôi thống kê các thuật ngữ được sử dụng trong hát trống quân ở Hưng Yên như sau: 17 Các thuật ngữ gọi các làn điệu trong hát trống quân: Cò lả:“Điệu hát dân gian, nét nhạc vui và nhịp nhàng, lời ca dựa vào thơ lục bát, tiếng chẵn trong câu thường được hỏi lặp lại”[50, tr. Sa mạc: “Điệu dân ca du dương êm đềm, lời theo thể lục bát”[50, tr.
Bồng mạc:“Điệu ngâm thơ lục bát biến thể, ngân dài giọng và kéo dài lời”[50, tr. Giã bạn:“Làn điệu hát khi đám hội kết thúc”[50, tr. Hát giã bạn gồm một hay nhiều bài hát kể lể tâm sự của trai gái trước khi chia taylàm cho lời ca thêm vấn vương, da diết. Nói lối:“Nói gần như trong ca kịch cổ truyền, trong cải lương, giọng điệu tự do thường có nhạc đệm làm nền”[50, tr.
Hát ví:“Lối hát đối đáp có tính chất trữ tình giữa trai gái trong lao động”[50, tr. Các thuật ngữ thể hiện nội dung trong các chặng hát: Giao duyên:“Trao đổi tình cảm giữa hai bên trai gái trong ngày hội truyền thống”[50, tr. Giao hẹn:“Nêu rõ điều kiện đặt ra với người nào đó trước khi làm việc gì”[50, tr. Ướm:“Nói thử để thăm dò ý kiến xem có thuận không”[50, tr.
Ước hẹn:“Hẹn với nhau nói về việc quan trọng”[50,tr. Thách cưới:“Ra điều kiện cho bên nhà trai về sính lễ để gả con gái cho”[50,tr. Ứng đáp:“Trả lời lại (nói khái quát)”[50,tr. Ứng đối:“Đối đáp nhanh”[50, tr.
18 Ứng tác:“Sáng tác và biểu diễn ngay tại chỗ không có chuẩn bị trước”[50, tr. Các thuật ngữ thể hiện cách xưng hô trong hát trống quân: Chàng:“Từ dùng để gọi người đàn ông trẻ tuổi có vẻ đáng mến, đáng yêu. Từ phụ nữ dùng gọi chồng hoặc người yêu còn trẻ ý thân thiết”[50, tr. Nàng:“Từ dùng chỉ phụ nữ trẻ tuổi được người yêu quý trọng”[50, tr.656] Tìm hiểu các thuật ngữ trong hát trống quân ở Hưng Yên, chúng tôi nhận thấy hệ thống làn điệu hát trống quân đã góp phần thể hiện thế giới tình cảm phong phú của con người.Lời hát mang đậm chất dân gian mà chủ yếu là lời từ ca dao, hát ví, hát đố.
Do đó đòi hỏi người hát phải có vốn văn học dân gian sâu sắc. Dù là già hay trẻ khi bước vào cuộc hát họ gọi nhau bằng những từ xưng hô rất trân trọng thể hiện được tình cảm mộc mạc của người bình dân. Hát trống quân không chỉ là cuộc hát vui mà còn là cuộc đua trí, thử tài để bên nam bên nữ hiểu nhau hơn. Đây là loại hình sinh hoạt dân gian mang tính sáng tạo rất cao.
Khái quát về vùng đất Hưng Yên Về lịch sử hình thành:Trong Hội thảo khoa học “Hưng Yên truyền thống và phát triển” tổ chức ngày 22 tháng 11 năm 2011,ông Nguyễn Khắc Hào, phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên đã nêu rõ: “Hưng Yên vốn là vùng đất phù sa cổ được hình thành từ hàng vạn năm về trước, tích tụ một bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa đậm nét.Vào thời Hùng Vương dựng nước, trên địa bàn Hưng Yên đã có bộ lạc Trâu (bộ lạc chọn con trâu là vật tổ) hay còn gọi là bộ lạc Câu Lậu sinh sống. “Bằng chứng là các di chỉ, di tích còn lại đã được khai quật như mộ cũi ở An Viên (huyện Tiên Lữ), mộ thuyền tại Đống Lương (huyện Kim Động) cùng truyền thuyết về Chử Đồng Tử- Tiên Dung…” [9]. Theo dòng chảy lịch sử, Hưng Yên ngày nay đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau. Thời Hùng Vương, vùng đất Hưng Yên vốn thuộc bộ Dương Tuyền.Thời Bắc thuộc, vùng Hưng Yên thuộc quận Giao Chỉ; thuộc quận Giao Châu.Thời 19 Ngô, vùng Hưng Yên gọi là Đằng Châu.
Thời nhà Đinh chia nước ra làm 10 đạo, Hưng Yên thuộc Đằng đạo. Nhà Tiền Lê, đổi Đằng Châu ra làm phủ Thái Bình. Thời Lý, Hưng Yên thuộc lộ Khoái Châu.