Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam, Trung Quốc" do nghiên cứu sinh Zhu Si (Chu Tư) thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Yên (Hà Nội, 2024, mã số chuyên ngành: 9.40).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đảo Hải Nam (còn gọi là Quỳnh Châu, Quỳnh Nhai, gọi tắt là "Quỳnh") nằm ở phía Nam Trung Quốc, sở hữu diện tích lục địa 35,4 nghìn km², diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km² cùng đường bờ biển dài 3.743,56 km. Dân cư trên đảo sinh sống chủ yếu bằng các nghề ngư nghiệp, nông nghiệp và du lịch. Với vị trí địa lý ven biển mang tính chất mở cùng lịch sử di dân lâu đời, Hải Nam trở thành không gian giao lưu văn hóa đặc thù, trong đó tín ngưỡng Ma Tổ giữ vị trí trung tâm trong đời sống tâm linh của cư dân duyên hải. Sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa của người di cư (đặc biệt từ Phúc Kiến, Quảng Đông) và cư dân bản địa đã hình thành nên diện mạo tín ngưỡng Ma Tổ thích ứng với môi trường biển đảo.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu nhận diện phương thức cấu thành và duy trì tín ngưỡng Ma Tổ trong cộng đồng Hải Nam trước những biến đổi kinh tế, chính trị, xã hội đương đại. Tín ngưỡng này không chỉ phản ánh niềm tin tâm linh mà còn gắn với sự cố kết cộng đồng, giáo dục truyền thống, phát triển du lịch và chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể (được UNESCO ghi danh năm 2009). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào khảo sát và phân tích một cách toàn diện, hệ thống về văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ của cộng đồng người Hải Nam từ góc độ văn hóa học, đặc biệt là sự vận hành của tín ngưỡng này ở ba cấp độ (gia đình, dòng họ, cộng đồng) trong mối quan hệ với chính sách của chính quyền địa phương thời kỳ sau cải cách mở cửa (1978) đến nay.

Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung giải quyết hai câu hỏi chính:

  1. Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam được cấu thành từ những yếu tố cơ bản nào và cách thức thực hành của người dân đương đại diễn ra ra sao?
  2. Chức năng và vị thế của văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ dưới sự tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội địa phương hiện nay như thế nào?

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống về văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam, từ đó làm rõ chức năng và vị thế của loại hình tín ngưỡng này dưới tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội địa phương đương đại.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
    1. Nghiên cứu sự hình thành, lan tỏa của văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đảo Hải Nam trong mối liên hệ với bối cảnh địa lý, dân cư, văn hóa biển tại chỗ và với các quốc gia có biển thuộc khu vực Đông Nam Á.
    2. Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đảo Hải Nam theo diễn trình lịch sử, các giai đoạn thăng trầm và sự hồi sinh từ sau thời kỳ cải cách mở cửa (1978) đến nay.
    3. Khảo sát thực trạng văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ tại đảo Hải Nam giai đoạn hiện nay, chỉ ra tính đa dạng của thực hành tín ngưỡng gắn với nhu cầu của cư dân và các chủ trương, chính sách quản lý của chính quyền địa phương.
    4. Phân tích chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống của người dân cùng các yếu tố đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ và tính cách cư dân đảo Hải Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ tại đảo Hải Nam (Trung Quốc) ở ba cấp độ: gia đình, dòng họ, cộng đồng thông qua hệ thống thiết chế thờ tự (bàn thờ gia đình, nhà thờ họ, đền, miếu) cùng các thực hành nghi lễ và phong tục tập quán liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Thời gian tư liệu thứ cấp: Khảo sát các di tích, văn bia, thư tịch cổ và địa chí liên quan đến đền thờ Ma Tổ tại đảo Hải Nam từ thời Tống đến nay.
    • Không gian địa bàn khảo sát: Khu vực ven biển phía Đông và phía Tây đảo Hải Nam – nơi tập trung truyền thống tôn thờ Ma Tổ và còn tồn tại các đền thờ cổ.
    • Thời gian điền dã thực địa: Tiến hành từ năm 2019 đến nay (giai đoạn tác giả thực hiện luận án).
    • Nội dung: Tập trung vào các thực hành văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đương đại gắn với nhu cầu dân sinh và chính sách văn hóa - kinh tế của địa phương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài Trung Quốc theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

                               CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ
[Nhóm 1: Tín ngưỡng Ma Tổ              [Nhóm 2: Tín ngưỡng Ma Tổ              [Nhóm 3: Tín ngưỡng Ma Tổ
 ở các nước Đông Nam Á]                ở Trung Quốc đương đại]                tại đảo Hải Nam]
 - Việt Nam: Phan Thị Hoa Lý,           - Kinh tế & Du lịch: Giang Kim Ba,     - Lịch sử & Địa chí: Quỳnh Đài Chí,
   Nguyễn Ngọc Thơ, Lý Thiên Tích...      Phạm Chính Nghĩa, Từ Thanh Thanh...    Vương Nguyên Lâm, Kobayashi...
 - Malaysia: Thạch Thương Kim,          - Chính sách & Di sản: Kha Lực,        - Lan tỏa & Nghi lễ: Lý Hiến Chương,
   Lý Hùng Chi, Lưu Xuân Yến...           Trương Tiểu Nghệ, Tiền Kim Hàng...     Hồ Đông Chí, Tăng Đình...
 - Singapore & Thái Lan: Yen Ching-     - Tái cấu trúc không gian:             - Đương đại & Quy hoạch: Lưu Phúc
   hwang, Tăng Linh, Mã Lệ Na...          Vương Tiêu Băng, Lâm Quốc Bình...      Chú, Châu Thông, Kim Vinh...

1. Các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam ở Đông Nam Á

  • Tại Việt Nam: Các học giả như Phan An, Ngô Hưng Đan, Chế Thị Hồng Hoa, Trần Kinh Hòa, Trần Hồng Liên, Lê Hồng Lý, Nguyễn Xuân Hương đã tìm hiểu về tín ngưỡng Thiên Hậu của người Hoa. Nguyễn Thị Thanh Xuyên (trong nghiên cứu tại Quận 5, TP.HCM) chỉ ra người Mân Nam và Hải Nam thường gọi bà là Đại Mẫu hoặc Ma Tổ. Nguyễn Ngọc Thơ (trong Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ) phân tích quá trình giải kiến tạo nội hàm và tiếp biến văn hóa của tín ngưỡng Thiên Hậu gốc Hoa Nam (bao gồm Hải Nam) khi hội nhập với cộng đồng Việt, Khmer. Phan Thị Hoa Lý (Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Việt Nam) vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa để so sánh kiến trúc đền thờ, lễ vật giữa miền Bắc (chịu ảnh hưởng Tứ Phủ) và miền Nam (bảo lưu sắc thái Hoa Nam rõ nét). Lý Thiên Tích khảo cứu văn bia tại Đền Thiên Hậu thuộc Hội quán Tuệ Thành (TP.HCM) để làm rõ sự dung hợp văn hóa của người Hoa vào xã hội Việt Nam.
  • Tại Malaysia: Lý Thiên Tích xác định 3 đặc điểm: đền thờ gắn liền với hội quán; tương tác mật thiết với thờ cúng tổ tiên; người Hoa gốc Hải Nam luôn phối thờ Ma Tổ cùng Thủy Vĩ Thánh Nương và 108 Huynh Đệ Công. Thạch Thương Kim khẳng định tính hỗn hợp, dung hợp của tín ngưỡng dân gian người Hải Nam tại Malaysia. Lưu Xuân Yến khảo sát trường hợp đền Thiên Hậu thuộc Hội quán Hải Nam tại Penang. Lý Hùng Chi (Tổng quan đền Thiên Hậu tại Malaysia) phân tích lịch sử đền Thiên Hậu Cung Lạc Thánh Lĩnh tại Tuyết Long (xây dựng năm 1889).
  • Tại Singapore: Yen Ching-hwang (A Social History of the Chinese in Singapore and Malaya) khẳng định vị trí trung tâm của tín ngưỡng Ma Tổ trong cộng đồng di dân. Tăng Linh phân tích ý nghĩa cố kết tộc người; Tăng Vĩ nghiên cứu quá trình phân linh từ Hải Nam sang Singapore; Tiêu Văn Soái khảo sát Thiên Phúc Cung, Việt Hải Thanh Miếu và Thiên Hậu Cung Quỳnh Châu.
  • Tại Thái Lan: Lý Thiên Tích, Vu Thu Ngọc và Mã Lệ Na phân tích vai trò của tín ngưỡng Ma Tổ (người Triều Sán gọi là "Thê Thánh Ma") như công cụ truyền thông đa văn hóa và mạng lưới liên kết cộng đồng thương nhân hàng hải.

2. Các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ ở Trung Quốc trong xã hội đương đại

  • Mối quan hệ với phát triển kinh tế và du lịch: Giang Kim Ba bàn về định hướng phát triển du lịch văn hóa Ma Tổ dưới góc nhìn toàn cầu. Phạm Chính Nghĩa nghiên cứu trường hợp Đền Hà Lâm (Huệ An, Phúc Kiến) chuyển đổi theo hướng "tài nguyên hóa", tích lũy vốn xã hội, văn hóa và biểu tượng. Từ Thanh Thanh phân tích sự phục hưng của "Tín ngưỡng thờ Ma Tổ Thương hội bán trà" tại Đền Thiên Hậu Phúc Châu hỗ trợ xúc tiến ngành trà trên Con đường Tơ lụa trên biển.
  • Mối quan hệ với chính sách nhà nước và di sản hóa: Kha Lực khảo cứu quan hệ nhà nước - xã hội tại đảo Mi Châu, chỉ ra sự phục hưng của tín ngưỡng là quá trình tái tạo chủ động giữa chính sách tôn giáo và nhu cầu dân chúng. Trương Tiểu Nghệ và Lý Hướng Bình so sánh 3 mô hình xây dựng tín ngưỡng tại Thiên Tân (chính phủ dẫn dắt), Phúc Kiến (tinh anh dân gian kết hợp chính quyền) và Quảng Đông (làng xã tự trị). Trần Phán nghiên cứu việc tái thiết Cung Thiên Phi Nam Kinh gắn với kinh tế quận Hạ Quan. Tiền Kim Hàng phân tích lễ hội "Ma Tổ về nhà mẹ" tại Cảng Hiền Lương gắn với cơ chế bảo tồn di sản. Trần Xuân Dương và Lâm Quốc Bình đánh giá hiện tượng hành chính hóa, quy chuẩn hóa lễ hội văn hóa tín ngưỡng. Vương Tiêu Băng và Lâm Hải Thông bàn về sự chuyển hóa từ tín ngưỡng dân gian thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

3. Các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ tại đảo Hải Nam

  • Về lịch sử và sự truyền bá: Thư tịch cổ Quỳnh Đài Chí (soạn thời Chính Đức 1506-1521 nhà Minh) ghi nhận đền Thiên Hậu xuất hiện muộn nhất vào thời Nguyên tại Quỳnh Sơn, Vạn Châu, Nhai Châu, Cảm Ân. Vương Nguyên Lâm khảo sát thời Minh - Thanh, ghi nhận trong 70 người khởi xướng xây đền có 58 quan chức triều đình và gần 10 thương nhân Quảng Đông, chứng minh vai trò dẫn dắt của quan lại địa phương. Nhà nghiên cứu Nhật Bản Kobayashi (Hải Nam đảo sử) chỉ ra đền Thiên Hậu cổ nhất tại Bạch Sa Luật (Hải Khẩu) được xây dựng từ thời Nguyên. Tổng quan địa chí đảo Hải Nam ghi nhận thời Nguyên có 5 đền, thời Minh - Thanh tăng thêm 42 đền (nhiều nhất ở Văn Xương với 11 đền, Vạn Ninh 7 đền). Lý Quyên và Vương Nguyên Lâm so sánh vị thế tín ngưỡng Ma Tổ (mang tính thương mại, hàng hải) với tín ngưỡng Tiển Phu Nhân (mang tính chính trị sâu sắc). Hồ Đông Chí, Tiết Thế Trung, Lý Hiến Chương, Lý Lộ Lộ, Châu Vĩ Dân, Lý Nhất Minh, Lý Khánh Tân đã khảo cứu sự du nhập tín ngưỡng theo các luồng di dân và Con đường Tơ lụa trên biển. Tăng Đình phân tích 5 bước nghi lễ truyền thống: lễ rượu lớn, lễ rượu sạch, lễ dạo chơi, lễ "về nhà mẹ đẻ" và lễ "lấy tro hương".
  • Về bối cảnh đương đại: Lưu Phúc Chú phân tích sự phục hồi của các đền thờ sau giai đoạn suy thoái (1949 và Cách mạng Văn hóa), ghi nhận sự kiện thành lập Hiệp hội Trao đổi Văn hóa Ma Tổ tỉnh Hải Nam (05/01/2011). Trần Cảnh (2007) và Hứa Xuân Mai (2014) ước tính toàn đảo hiện có từ hơn 100 đến 200 ngôi đền. Châu Thông nghiên cứu chiến lược quy hoạch không gian văn hóa Ma Tổ tại khu vực "ba Lê" (Lê Phong, Lê An, Lê Minh) thuộc hồ Lê An. Kim Vinh chỉ ra các hạn chế trong quản lý du lịch tâm linh tại Hải Nam.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù số lượng tài liệu về Ma Tổ rất phong phú, các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc khảo cứu sử liệu địa phương chí, miêu tả đơn lẻ từng ngôi đền hoặc xem xét sự truyền bá chung giữa Phúc Kiến - Quảng Đông sang Đông Nam Á. Chưa có công trình nào khảo sát điền dã thực chứng trên quy mô toàn đảo Hải Nam để phân tích cấu trúc thực hành của tín ngưỡng Ma Tổ tích hợp ở cả ba cấp độ thiết chế (gia đình, dòng họ họ Lâm, cộng đồng làng xã/thương cảng) và đánh giá sự biến đổi chức năng, vị thế của tín ngưỡng này dưới tác động đồng thời của các chính sách nhà nước đương đại (bảo tồn di sản, phát triển du lịch quốc tế, ngoại giao văn hóa).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm

Luận án vận dụng khung lý thuyết và các khái niệm nghiên cứu văn hóa - tôn giáo xã hội:

                            KHUNG LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM TRỤ CỘT
[Lý thuyết "Tái phù phép"]             [Lý thuyết "Kinh tế nghi lễ"]          [Hệ thống Khái niệm Văn hóa học]
 - Philip Taylor (2007): Hiện đại       - Mayfair Yang (2020): Nghi lễ         - Tín ngưỡng & "Cái thiêng"
   hóa không làm triệt tiêu tôn giáo      tôn giáo vận hành như cơ chế           (Ngô Đức Thịnh, Trần Ngọc Thêm).
   mà tạo ra sự "tái phù phép"            tái phân phối vốn xã hội, biểu         - Văn hóa tín ngưỡng dân gian
   (re-enchantment).                      tượng và kích thích kinh tế            (UNESCO 2009, Hoàng Học Quốc).
 - Tín ngưỡng là điểm tựa tâm lý        - Mối liên kết giữa mạng lưới          - Truyền thuyết Lâm Mặc (Chiêu Thừa:
   đáp ứng nhu cầu tìm kiếm bình an.      thương nhân và không gian đền thờ.     Thiên Phi hiển thánh lục).
  • Lý thuyết về sự "tái phù phép của hiện đại" (Re-enchantment of Modernity): Dựa trên công trình Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-revolutionary Vietnam (2007) do Philip Taylor chủ biên. Lý thuyết này bác bỏ luận điểm thế tục hóa đơn tuyến (cho rằng hiện đại hóa sẽ triệt tiêu tôn giáo), thay vào đó khẳng định hiện đại hóa kích hoạt sự "tái phù phép", nơi các thực hành tín ngưỡng thích ứng linh hoạt, trở thành phương tiện tâm lý giúp con người đương đại đối phó với những biến động, bất ổn kinh tế - xã hội và tìm kiếm sự bình an nội tâm.
  • Lý thuyết về "nền kinh tế nghi lễ" (Ritual Economy): Dựa trên công trình Re-enchanting Modernity: Ritual Economy and Society (2020) của Mayfair Yang, nghiên cứu sự phục hưng của các thiết chế nghi lễ truyền thống trong nền kinh tế thị trường Trung Quốc, phân tích cách thức dòng vốn dân gian, mạng lưới kinh doanh và hoạt động công đức tái cấu trúc không gian văn hóa địa phương.
  • Hệ thống khái niệm cơ sở:
    • Tín ngưỡng: Tiếp cận quan điểm của Ngô Đức Thịnh (niềm tin hướng về "cái thiêng" đối lập với "trần tục"), Trần Ngọc Thêm (nhu cầu tinh thần hướng về sự mầu nhiệm), Nguyễn Quốc Tuấn, Đào Duy Anh, cùng các quan điểm nhân học - tôn giáo học của E.B. Tylor (Văn hóa nguyên thủy), S.A. Tokarev, Claude Lévi-Strauss.
    • Văn hóa tín ngưỡng: Giá trị vật chất và tinh thần tích hợp trong sinh hoạt tín ngưỡng, tồn tại trong thực hành đời sống hàng ngày như phương tiện sáng tạo văn hóa (theo Mullen, Ngô Đức Thịnh).
    • Ma Tổ và Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ: Dựa trên Thiên Phi hiển thánh lục của Chiêu Thừa (thời Minh), ghi nhận Ma Tổ tên thật là Lâm Mặc, sinh năm 960 (năm Kiến Long nguyên niên thời Tống) tại đảo Mi Châu (Phủ Điền, Phúc Kiến), có khả năng quan sát thiên văn, cứu giúp ngư dân trên biển. Thuật ngữ "Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ" được chuẩn hóa từ hội thảo Phủ Điền năm 1987 và công trình Khái luận về Ma Tổ học (Hoàng Học Quốc, 2013), bao gồm 3 cấp độ: nhân vật/nghi lễ/di tích; công nghệ hàng hải/hội quán; và các giá trị văn học nghệ thuật, kiến trúc, kim thạch.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp tiếp cận định tính chuyên ngành Văn hóa học kết hợp nghiên cứu liên ngành Khoa học xã hội (Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học, Tôn giáo học, Lịch sử học):

  1. Phương pháp phân tích tài liệu: Xử lý văn bản lịch sử, bi ký, địa chí cổ (Quỳnh Đài Chí, các bản địa chí huyện) và các báo cáo, tạp chí khoa học của Trung Quốc, Việt Nam, các nước Đông Nam Á.
  2. Phương pháp khảo sát điền dã dân tộc học:
    • Sử dụng các thao tác: ghi chép thực địa, ghi âm, chụp ảnh, quay phim, quan sát tham dự trực tiếp các sinh hoạt thờ cúng thường nhật và lễ hội.
    • Thực hiện phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố các chủ thể văn hóa: Trưởng ban quản lý di tích, thủ nhang, chức sắc trông coi đền, người cao tuổi dòng họ Lâm và các chuyên gia nghiên cứu.
  3. Phương pháp so sánh: So sánh loại hình và biến đổi văn hóa giữa tín ngưỡng Ma Tổ tại Phúc Kiến (gốc) với Hải Nam (tiếp nhận); so sánh thực hành của cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam tại Đông Nam Á (đặc biệt là tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam).
Chỉ số khảo sát thực địa Số lượng / Dữ liệu thực tế
Thời gian triển khai Từ năm 2019 đến năm 2024
Số đợt điền dã 23 đợt khảo sát
Địa bàn điền dã chính TP. Hải Khẩu, TP. Tam Á, Quỳnh Hải, Vạn Ninh, Lăng Thủy, Lạc Đông...
Số lượng đền miếu khảo sát 15 ngôi đền Ma Tổ tiêu biểu
Số lượng lễ hội tham dự 8 buổi lễ hội Ma Tổ
Số lượng người phỏng vấn sâu 46 cá nhân (Trưởng ban quản lý, thủ nhang, nghệ nhân, chức sắc, chuyên gia)
Ghi chú trở ngại thực địa Giai đoạn 2020–2023 do dịch Covid-19, một số đền hoãn lễ hội (như đền làng La Mã, Ttr Cửu Sở, huyện Lạc Đông), tác giả kết hợp phỏng vấn hồi cố và tài liệu thứ cấp

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về tín ngưỡng Ma Tổ ở Trung Quốc

Chương 1 thiết lập nền tảng học thuật cho toàn bộ luận án thông qua việc điểm luận chi tiết các công trình nghiên cứu về Ma Tổ tại Đông Nam Á (Việt Nam, Malaysia, Singapore, Thái Lan), Trung Quốc đương đại và đảo Hải Nam; đồng thời xây dựng khung khái niệm và cơ sở lý luận.

Về mặt khái quát lịch sử, chương này trình bày bối cảnh ra đời của tín ngưỡng Ma Tổ tại đảo Mi Châu (Phủ Điền, Phúc Kiến) từ thời Tống. Luận án phân tích văn bản Thiên Phi hiển thánh lục để làm rõ sự tích nhân vật Lâm Mặc với 5 đặc điểm mầu nhiệm (sinh ra không khóc, thông minh tinh thông kinh Phật, đắc thủ phù lục đạo pháp năm 13–16 tuổi, am hiểu luồng lạch biển cả, hiển linh cứu hộ tàu thuyền). Chương 1 cũng hệ thống hóa các giai đoạn sắc phong của các triều đại phong kiến (Tống, Nguyên, Minh, Thanh) chuyển hóa vị thế từ "Thần Nữ", "Thiên Phi" đến "Thiên Hậu", "Thiên Thượng Thánh Mẫu", thúc đẩy tín ngưỡng lan tỏa dọc vùng duyên hải Trung Quốc và theo Con đường Tơ lụa trên biển vươn ra toàn cầu.

                           DIỄN TRÌNH LAN TỎA TÍN NGƯỠNG MA TỔ
[Giai đoạn Khởi nguồn]                 [Giai đoạn Thể chế hóa]                [Giai đoạn Di sản & Quốc tế]
 - Thời Tống (từ năm 960).              - Triều Nguyên, Minh, Thanh.           - Thế kỷ XIX - XX: Theo chân di
 - Đảo Mi Châu, Phủ Điền,               - Sắc phong từ "Thần Nữ",               dân sang Đông Nam Á.
   tỉnh Phúc Kiến.                        "Thiên Phi" đến "Thiên Hậu".         - 2009: UNESCO công nhận Di sản
 - Xuất phát từ niềm tin bảo hộ         - Gắn với mạng lưới thương             văn hóa phi vật thể đại diện của
   ngư dân duyên hải.                     thuyền và sứ thần triều đình.          nhân loại.

Chương 2: Bối cảnh địa lý, dân cư, kinh tế, văn hóa xã hội đảo Hải Nam và tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam

Chương 2 làm rõ môi trường dung dưỡng tín ngưỡng Ma Tổ thông qua phân tích các điều kiện địa - văn hóa của đảo Hải Nam:

  • Bối cảnh tự nhiên và dân cư: Vị trí hải đảo biệt lập ở cực Nam Trung Quốc với đường bờ biển dài 3.743,56 km tạo ra lối sống phụ thuộc sâu sắc vào biển cả. Lịch sử di dân liên tục từ đất liền (đặc biệt là các luồng di dân Mân Nam - Phúc Kiến và Lĩnh Nam - Quảng Đông) đã mang theo văn hóa tín ngưỡng gốc đến Hải Nam.
  • Không gian văn hóa và hệ thống tín ngưỡng: Tín ngưỡng Ma Tổ định vị trong bức tranh tín ngưỡng dân gian đa dạng của Hải Nam, đan xen và phối hợp cùng tín ngưỡng Tiển Phu Nhân (nữ thủ lĩnh lịch sử Lĩnh Nam), Thủy Vĩ Thánh Nương và 108 Huynh Đệ Công.
  • Diễn trình lịch sử tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam:
    • Thời Tống - Nguyên: Bắt đầu du nhập; ngôi đền cổ nhất được xây dựng tại Bạch Sa Môn (Hải Khẩu) với lịch sử hơn 800 năm. Thời Nguyên ghi nhận 5 ngôi đền chính thức.
    • Thời Minh - Thanh: Giai đoạn phát triển thịnh vượng nhất. Dưới sự thúc đẩy của tầng lớp quan lại (58 vị quan triều đình) và các thương nhân di dân, toàn đảo xây thêm 42 ngôi đền tại 13 châu huyện (tập trung nhiều nhất tại Văn Xương và Vạn Ninh). Đền thờ thường kết hợp mô hình Hội quán thương mại.
    • Từ năm 1949 đến nay: Trải qua giai đoạn gián đoạn do phong trào "dẹp bỏ mê tín", "phá cũ xây mới" thời Cách mạng Văn hóa khiến nhiều đền miếu bị phá hủy. Sau cải cách mở cửa (1978) và dấu mốc UNESCO ghi danh năm 2009, tín ngưỡng phục hưng mạnh mẽ với hơn 100 đến 200 cơ sở thờ tự được phục dựng do người dân tự quản hoặc chính quyền hỗ trợ.
  • Quan hệ lan tỏa sang Đông Nam Á: Khái quát mạng lưới Hội quán Hải Nam tại Việt Nam, Malaysia, Singapore, Thái Lan – nơi Ma Tổ được phụng thờ như biểu tượng gắn kết cộng đồng kiều bào đồng hương.
Thời kỳ lịch sử Số lượng đền miếu ghi nhận Đặc điểm không gian và lực lượng thúc đẩy
Thời Tống - Nguyên 5 đền (sớm nhất: Bạch Sa Môn, Bạch Sa Luật tại Hải Khẩu) Du nhập theo ngư dân và thương thuyền Phúc Kiến; phân bố tại các cửa biển lớn (Quỳnh Sơn, Vạn Châu, Nhai Châu, Cảm Ân).
Thời Minh - Thanh Tăng thêm 42 đền (khắp 13 châu huyện; Văn Xương 11 đền, Vạn Ninh 7 đền) Giai đoạn thịnh vượng nhất; do 58 quan lại địa phương và gần 10 thương nhân Quảng Đông dẫn dắt xây dựng; gắn với thiết chế Hội quán.
Thời kỳ 1949 – 1978 Đa số đền miếu bị phá hủy hoặc đình chỉ hoạt động Bị gián đoạn bởi các phong trào "dẹp bỏ mê tín" và thời kỳ Cách mạng Văn hóa.
Từ 1978 đến nay Hơn 100 – 200 ngôi đền phục hồi và xây mới Phục hưng mạnh mẽ nhờ Cải cách mở cửa và sự kiện UNESCO (2009); quản lý đa dạng (dân tự quản, nhà nước xếp hạng di tích, thành lập Hiệp hội Trao đổi Văn hóa Ma Tổ 2011).

Chương 3: Văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 là phần kết quả điền dã thực chứng trọng tâm của luận án, miêu tả chi tiết thực hành tín ngưỡng Ma Tổ theo 3 cấp độ cấu trúc xã hội:

                            CẤU TRÚC 3 CẤP ĐỘ THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG
[Cấp độ Gia đình]                      [Cấp độ Dòng họ (Họ Lâm)]              [Cấp độ Cộng đồng (Làng / Cảng)]
 - Bàn thờ Ma Tổ tại tư gia.            - Nhà thờ họ Lâm (Lâm thị tông từ).    - Hệ thống đền, miếu, Thiên Hậu Cung.
 - Nghi lễ thường nhật ngày rằm,        - Phụng thờ Ma Tổ với tư cách          - Ban quản lý di tích, thủ nhang trông coi.
   mùng một, trước khi ra khơi.           "Cô Tổ" (Tổ cô của dòng tộc).         - Đại lễ vía Ma Tổ (23/3 và 9/9 Âm lịch),
 - Cầu bình an, tài lộc gia đạo.        - Cố kết huyết thống và gia tộc.         nghi thức rước kiệu, tế lễ, diễn xướng.
  • Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ trong gia đình: Phân tích vị trí bàn thờ Ma Tổ trong không gian nhà ở của cư dân miền biển; thực hành thắp hương, khấn vái vào các ngày sóc, vọng (mùng một, ngày rằm), các dịp xuất hành đi biển hay buôn bán xa, nhằm tìm kiếm sự bảo trợ bình an và may mắn cho các thành viên trong gia đình.
  • Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ của dòng họ Lâm: Khảo sát các nhà thờ họ Lâm tại Hải Nam, nơi Ma Tổ được tôn xưng là "Cô Tổ" (người con gái tổ tiên của dòng họ). Phân tích cấu trúc cơ sở thờ tự của tông tộc, quy chế tế tự hàng năm và các thực hành nghi lễ riêng biệt của con cháu họ Lâm nhằm khẳng định danh dự gia tộc và củng cố mối liên kết huyết thống.
  • Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ trong cộng đồng:
    • Cơ sở thờ tự: Khảo sát 15 ngôi đền Ma Tổ tiêu biểu ven biển Hải Nam; phân tích đặc điểm quy hoạch không gian gắn liền với bến cảng, làng chài; nghệ thuật kiến trúc truyền thống Hoa Nam, kỹ thuật điêu khắc kim thạch và cách bài trí điện thần (Ma Tổ ở trung tâm, tả hữu có Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ, phối thờ cùng Thủy Vĩ Thánh Nương, Tiển Phu Nhân).
    • Mô hình quản lý: Khảo sát cơ chế vận hành từ ban quản trị dân gian tự quản làng xã đến các ban quản lý di tích có sự hướng dẫn của chính quyền và sự tham gia của Hiệp hội Trao đổi Văn hóa Ma Tổ.
    • Thực hành nghi lễ cộng đồng: Khảo tả chi tiết các hội lễ chính (ngày sinh 23/3 Âm lịch và ngày hóa thân 9/9 Âm lịch). Tường thuật trình thức 5 bước nghi lễ cổ truyền: lễ rượu lớn, lễ rượu sạch, lễ rước kiệu dạo chơi (tuần du), nghi lễ "về nhà mẹ đẻ" và nghi thức "lấy tro hương" phân thần.

Chương 4: Chức năng, vị thế của văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ đảo Hải Nam trong bối cảnh đương đại và việc bảo tồn phát huy

Chương 4 tập trung luận giải chức năng xã hội và vị thế chính trị - văn hóa của tín ngưỡng trong bối cảnh hiện đại:

  • Các chức năng xã hội chủ yếu:
    • Chức năng đáp ứng nhu cầu bình an: Là điểm tựa tâm linh giúp ngư dân và cư dân hải đảo giải tỏa lo âu trước rủi ro thiên tai biển cả, tái lập cân bằng tâm lý xã hội.
    • Chức năng thúc đẩy phát triển kinh tế: Vận hành nền "kinh tế nghi lễ", thu hút các nguồn lực tài trợ, công đức của giới doanh nhân, thương nhân để tái thiết hạ tầng công cộng và không gian văn hóa.
    • Chức năng cố kết xã hội: Kết nối các cá nhân trong gia đình, các chi phái trong dòng tộc họ Lâm và củng cố tình đoàn kết cộng đồng cư dân làng chài.
  • Vị thế của tín ngưỡng trong chính sách phát triển của chính quyền địa phương:
    • Chính sách bảo tồn di sản văn hóa: Triển khai các đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể sau khi UNESCO vinh danh; phục dựng các đền miếu cổ thành di tích lịch sử - văn hóa các cấp.
    • Chính sách kinh tế du lịch: Tích hợp đền Ma Tổ vào quy hoạch phát triển Đảo Du lịch Quốc tế Hải Nam, xây dựng các công viên văn hóa, bảo tàng và tour du lịch tâm linh (điển hình như quy hoạch tại khu vực ba làng Lê Phong, Lê An, Lê Minh ở hồ Lê An).
    • Chính sách ngoại giao văn hóa: Tận dụng mạng lưới tín ngưỡng Ma Tổ để đẩy mạnh giao lưu nhân dân, kết nối kiều bào Hoa kiều Hải Nam tại Đông Nam Á và tăng cường giao lưu xuyên eo biển với Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao.
  • Vấn đề bảo tồn và phát huy: Luận án chỉ ra các bất cập đương đại như quy mô miếu mạo manh mún, hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn thiện, năng lực quản lý của ban trị sự dân gian còn hạn chế, mức độ tham gia của cộng đồng chưa đồng đều và nguy cơ thương mại hóa làm phai nhạt tính thiêng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Làm sáng tỏ hướng tiếp cận văn hóa học: Luận án khẳng định giá trị của việc nghiên cứu tín ngưỡng hải thần không chỉ từ góc độ tôn giáo học thuần túy hay lịch sử học, mà từ góc nhìn văn hóa học tích hợp, đặt thực hành tín ngưỡng trong chỉnh thể văn hóa biển và môi trường sinh thái nhân văn hải đảo.
  2. Làm rõ các chiều cạnh cấu trúc thực hành: Luận án phân tích toàn diện văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở ba tầng bậc thiết chế tương liên: gia đình (cầu an gia đạo), dòng họ họ Lâm (tôn vinh tổ phụ/cô tổ) và cộng đồng làng xã (hội quán thương mại và lễ hội bảo an), chứng minh tính đa dạng và linh hoạt của thực hành văn hóa dân gian.
  3. Khẳng định quy luật giao lưu, tiếp biến văn hóa: Chứng minh tín ngưỡng Ma Tổ có nguồn gốc từ Phúc Kiến khi du nhập vào Hải Nam đã tích hợp sâu sắc với văn hóa bản địa, dung hợp với hệ thống thần linh địa phương (Tiển Phu Nhân, Thủy Vĩ Thánh Nương) và tiếp tục biến đổi khi lan tỏa sang cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á.
  4. Vận dụng lý thuyết đương đại vào bối cảnh cụ thể: Vận dụng lý thuyết "tái phù phép của hiện đại" (Philip Taylor) và "kinh tế nghi lễ" (Mayfair Yang) để lý giải quá trình phục hồi mạnh mẽ của tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam sau năm 1978, không phải là sự thụ động lặp lại quá khứ mà là sự tái tạo văn hóa chủ động trước các biến đổi kinh tế - chính trị.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp hệ thống tư liệu điền dã thực chứng: Luận án đóng góp nguồn tư liệu điền dã chi tiết (23 đợt khảo sát, 15 ngôi đền, 8 lễ hội, 46 phỏng vấn sâu) phản ánh chân thực diện mạo đền miếu, cách bài trí điện thờ và quy trình tế lễ Ma Tổ tại Hải Nam giai đoạn 2019–2024.
  2. Tư liệu tham khảo cho nghiên cứu so sánh Việt Nam - Trung Quốc: Đóng góp nguồn dữ liệu học thuật phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu so sánh về văn hóa tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thờ Nữ thần biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.
  3. Cung cấp căn cứ cho công tác quản lý di sản và phát triển du lịch: Đưa ra các cứ liệu thực tế hỗ trợ các nhà quản lý văn hóa, hoạch định chính sách du lịch trong việc xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn tính thiêng của di sản văn hóa phi vật thể và khai thác phát triển kinh tế du lịch tâm linh bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do quá trình điền dã thực địa của nghiên cứu sinh (2019–2024) diễn ra trùng với thời điểm bùng phát của dịch bệnh Covid-19 (2020–2023), một số đền thờ tại Hải Nam đã tạm hoãn hoặc không tổ chức lễ hội định kỳ (tiêu biểu như đền Ma Tổ tại làng La Mã, thị trấn Cửu Sở, huyện Lạc Đông). Vì vậy, tác giả không thể trực tiếp tham dự quan sát toàn bộ các lễ hội này mà phải bổ sung bằng phương pháp phỏng vấn hồi cố và khai thác tư liệu thứ cấp. Ngoài ra, địa bàn khảo sát thực tế tập trung trọng điểm ở khu vực ven biển phía Đông và phía Tây, chưa bao quát toàn bộ các điểm thờ tự nhỏ lẻ nằm sâu trong nội địa đảo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng khảo sát điền dã đối với toàn bộ các cơ sở thờ tự Ma Tổ tại vùng sâu nội địa và các đảo nhỏ thuộc Biển Đông.
    • Thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa thực hành tín ngưỡng Ma Tổ của cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam định cư tại các nước Đông Nam Á (Việt Nam, Malaysia, Singapore, Thái Lan) với thực hành tại chính đảo Hải Nam để làm rõ sự biến đổi căn tính tộc người qua các thế hệ di dân.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Tôn giáo học, Lịch sử học, Đông phương học và Trung Quốc học. Các chương nghiên cứu về cơ sở lý luận ("tái phù phép", "kinh tế nghi lễ"), phương pháp điền dã dân tộc học và nội dung khảo cứu thực hành 3 cấp độ (Chương 3) là nguồn tư liệu học thuật giá trị.
  • Nhà quản lý văn hóa và cán bộ hoạch định chính sách: Cung cấp bức tranh thực tế về sự tương tác giữa chính sách bảo tồn di sản phi vật thể của nhà nước và nhu cầu tâm linh của người dân; là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc quản lý lễ hội dân gian và xây dựng quy hoạch du lịch văn hóa tâm linh.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa người Hoa: Cung cấp dữ liệu đối sánh quan trọng để tìm hiểu về mạng lưới hội quán, sự chuyển di văn hóa tín ngưỡng từ Hoa Nam sang khu vực Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngôi đền Ma Tổ cổ nhất tại đảo Hải Nam có niên đại như thế nào và nằm ở đâu?

Theo các thư tịch cổ (Quỳnh Đài Chí, Hải Nam đảo sử của Kobayashi) và khảo sát thực địa của luận án, ngôi đền Ma Tổ có lịch sử lâu đời nhất tại đảo Hải Nam là Đền Thiên Hậu nằm ở Bạch Sa Môn (thuộc Bạch Sa Luật, thành phố Hải Khẩu), được xây dựng từ thời nhà Tống - Nguyên, có lịch sử hơn 800 năm.

2. Tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam được thực hành qua những cấp độ xã hội nào?

Luận án chỉ ra tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam được cấu thành và thực hành qua 3 cấp độ xã hội cụ thể:

  • Cấp độ gia đình: Thờ cúng tại bàn thờ tư gia, thực hành nghi lễ ngày sóc vọng và cầu bình an trước các chuyến đi biển.
  • Cấp độ dòng họ: Thực hành tại các nhà thờ họ Lâm, nơi Ma Tổ được tôn xưng là "Cô Tổ" của dòng họ họ Lâm nhằm củng cố liên kết huyết thống.
  • Cấp độ cộng đồng: Thực hành tại hệ thống đền, miếu, Thiên Hậu Cung gắn với các bến cảng, làng chài, do ban quản lý di tích hoặc ban trị sự dân gian điều hành thông qua các đại lễ hội vía Ma Tổ (ngày 23/3 và 9/9 Âm lịch).

3. Nghi lễ cúng tế Ma Tổ truyền thống tại cộng đồng ngư dân Hải Nam gồm các bước cơ bản nào?

Theo khảo sát của luận án, lễ hội Ma Tổ truyền thống tại các vùng duyên hải Hải Nam (như thị trấn Đông Doanh, Phô Tiền, Thanh Lan) bao gồm 5 bước nghi thức chính:

  1. Lễ rượu lớn (đại tửu lễ)
  2. Lễ rượu sạch (tịnh tửu lễ)
  3. Lễ dạo chơi (tuần du / rước kiệu thần)
  4. Nghi lễ "về nhà mẹ đẻ"
  5. Nghi thức "lấy tro hương" trong lễ phân thần

4. Tầng lớp nào đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và phát triển các đền thờ Ma Tổ tại Hải Nam thời Minh - Thanh?

Dẫn chứng từ nghiên cứu lịch sử của PGS.TS. Vương Nguyên Lâm trong địa chí Minh - Thanh, trong số 70 người đứng tên chủ trì xây dựng các đền thờ Ma Tổ tại Hải Nam, có tới 58 người là quan chức triều đình địa phương (chủ yếu là quan tri huyện, quan phủ) và gần 10 người là thương nhân (đa số quê quán tại Quảng Đông). Điều này chứng minh quan lại triều đình và giới thương nhân là hai lực lượng xã hội chủ chốt thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam thời kỳ này.

5. Dữ liệu khảo sát điền dã thực tế của luận án được thực hiện với quy mô ra sao?

Nghiên cứu sinh đã triển khai 23 đợt khảo sát thực địa từ năm 2019 đến năm 2024 tại các địa bàn ven biển của đảo Hải Nam (Hải Khẩu, Tam Á, Quỳnh Hải, Vạn Ninh, Lăng Thủy...). Tác giả đã khảo sát trực tiếp 15 ngôi đền Ma Tổ tiêu biểu, tham dự 8 buổi lễ hội và thực hiện phỏng vấn sâu 46 cá nhân liên quan gồm trưởng ban quản lý di tích, thủ nhang, chức sắc và các nhà nghiên cứu chuyên môn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam, Trung Quốc" của tác giả Zhu Si là công trình chuyên khảo văn hóa học nghiên cứu hệ thống về tín ngưỡng Nữ thần biển Ma Tổ tại đảo Hải Nam từ nguồn gốc lịch sử đến thực hành đương đại. Dựa trên khung lý thuyết về sự "tái phù phép của hiện đại" và "kinh tế nghi lễ" kết hợp 23 đợt điền dã thực chứng, luận án đã làm rõ cấu trúc thực hành tín ngưỡng ở ba cấp độ gia đình, dòng họ và cộng đồng làng xã. Nghiên cứu khẳng định tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam là sản phẩm của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa cư dân di dân và bản địa, đồng thời chứng minh vị thế thích ứng linh hoạt của tín ngưỡng này trong việc đáp ứng nhu cầu tâm lý bình an của người dân và đóng góp vào các chính sách bảo tồn di sản, phát triển kinh tế du lịch và ngoại giao văn hóa của địa phương trong xã hội hiện đại.