Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG MA TỔ Ở TRUNG QUỐC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam ở các nước Đông Nam Á Trên thế giới, sáu trên bảy lục địa có sự tồn tại của đền Ma Tổ và kho lưu trữ di sản văn hoá phi vật thể của Ma Tổ được phân bố rõ ràng ở nhiều quốc gia khác nhau như ở châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Singapore, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines.; châu Âu: Anh, Pháp, Đan Mạch.; Bắc Mỹ: Canada, Hoa Kỳ, Mexico.; Nam Mỹ: Brazil, Argentina.; châu Phi: Nam Phi, Mauritius.; châu Đại Dương: Úc, New Zealand. Việc nghiên cứu về văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ liên quan đến nhiều ngành học như Tôn giáo học, Xã hội học, Lịch sử học, Chính trị học, Văn học, Nghệ thuật học, Địa Lý học, Kiến trúc học, Truyền bá học, Quản lý học, Thể dục học, Y học.
Trên thế giới có các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Malaysia, Mỹ, Úc, Pháp, Ý. nghiên cứu về văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ. Chúng ta biết rằng, “Đảo Hải Nam là quê hương Hoa kiều nổi tiếng tại Trung Quốc, Hoa kiều Hải Nam xuất hiện sớm nhất từ thời nhà Tống. Đời nhà Minh, nhiều thuyền triều cúng của các nước Nam Dương qua Quỳnh Châu đến Quảng Châu và nơi khác.
Khi cư dân nội địa Trung Quốc di cư vào đảo Hải Nam, có một số người Trung Quốc từ Hải Nam chuyển sang Nam Dương, tức là lịch sử di dân của vùng Đông Nam Á đương đại”[153]. Trong nội dung này tôi tập trung giới thiệu về việc nghiên cứu văn hoá tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam ở các nước Đông Nam Á có cùng khu vực địa lý với hòn đảo này như Việt Nam, Malaysia, Singapore, Thái Lan v. 7 - Các nghiên cứu về Ma Tổ của đảo Hải Nam ở Việt Nam Tín ngưỡng Ma Tổ truyền bá sang Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII theo bước chân di dân của người Hoa, vì vậy khi nhắc đến nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ của Việt Nam thì không thể không đề cập đến người Hoa. Có nhiều học giả như Phan An, Ngô Hưng Đan, Chế Thị Hồng Hoa, Trần Kinh Hòa, Trần Hồng Liên, Lê Hồng Lý, Phan Thị Hoa Lý, Nguyễn Xuân Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Thị Thanh Xuyên.
đã có nhiều nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ (ở Việt Nam gọi Ma Tổ là bà Thiên Hậu), tuy nhiên những nghiên cứu liên quan đến nhóm người Hoa gốc Hải Nam thì rất ít, xin tóm lược như sau: Nguyễn Thị Thanh Xuyên trong bài “Tín ngưỡng Thiên Hậu ở quận 5 thành phố Hồ Chí Minh” có nhắc đến Người Mân Nam (nam Phúc Kiến) và Hải Nam thích gọi bà là Đại Mẫu hoặc Ma Tổ (Mazu) [21, tr. Nguyễn Ngọc Thơ có nhiều bài viết về tín ngưỡng này, ví dụ như bài “Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa truyền thống ở Việt Nam” [16], “Tìm hiểu lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu ở cộng đồng ngư dân sông đốc” [19], “Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ” [ 17]. Đặc biệt, tác giả Nguyễn Ngọc Thơ đã xuất bản cuốn sách Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ, trong đó có đề cập đến tín ngưỡng Thiên Hậu ở vùng đất Hải Nam. Tác giả cho rằng: “Tín ngưỡng Thiên Hậu xuất phát từ Hoa Nam (bao gồm Hải Nam), Trung Quốc , được truyền bá đến Tây Nam Bộ trong quá trình di dân, tín ngưỡng Thiên Hậu của người Hoa đã không ngừng giải kiến tạo một phần nội hàm và ý nghĩa biểu trưng của mình để trở nên tương thích hơn với các cộng đồng tín ngưỡng mới (Việt, Khmer v.), đồng thời cũng trải qua quá trình tăng quyền văn hoá và chuyển dịch trọng tâm nhu cầu văn hoá để gia tăng tính thiêng của tín ngưỡng - yếu tố bảo đảm tính bền vững của truyền thống tín ngưỡng dân gian và khẳng nhận bản sắc tộc người”[17tr.
8 Tác giả Phan Thị Hoa Lý trong sách Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Việt Nam dựa vào lý thuyết tiếp biến văn hoá và phương pháp điền dã, kết hợp với dữ liệu lịch sử đã giới thiệu về tín ngưỡng Thiên Hậu của người Hoa gốc Hải Nam ở ở Tp.Hồ Chí Minh, Huế và Hội An về mặt kiến trúc (đền thờ), lịch sử truyền bá của tín ngưỡng Ma Tổ, lễ hội thờ cúng và đặc điểm sùng bái của họ. Theo nhận định của tác giả này thì nhìn chung, nghi lễ thờ cúng Thiên Hậu của người gốc Hoa Hải Nam ở Việt Nam đa phần là giống nhau, đều thờ cúng ở Hội quán với tổ tiên, cái khác ở đây là về kiến trúc, càng đi xuống phía Nam thì các kiến trúc và nghi lễ cùng lễ vật thờ cúng càng hoàn chỉnh hơn (giống với kiến trúc, nghi lễ đền thờ Ma Tổ của Trung Quốc hơn). Cụ thể là ở miền Bắc kiến trúc đền thờ với màu xám, màu trắng làm chủ đạo trong khi kiến trúc ở miền Nam nhiều màu sắc đa dạng hơn như cam, đỏ. giống với vùng Hoa Nam Trung Quốc.
Ngoài ra, lễ vật thờ cúng của mỗi vùng cũng có chút khác biệt, ví dụ như ở phố Hiến, những đồ thờ cúng tương tự như thờ Tứ Phủ như xôi, trầu, oản, mâm ngũ quả. còn ở miền Nam thì có bánh bao chay, bí đao, đậu phụ, cà chua, cà rốt. và cả hải sản, rất giống với vùng Hoa Nam Trung Quốc, nghĩa là bảo tồn bản sắc Ma Tổ Trung Quốc rõ nét hơn so với ở miền Bắc[8]. Lý Thiên Tích (Trung Quốc) trong bài viết “Một nghiên cứu sơ bộ về niềm tin Ma Tổ của người Hoa tại Việt Nam--lấy Đền Thiên Hậu Hội quán Tuệ Thành của Thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ”, vừa phân tích hai bia ký trong hội quán, vừa miêu tả tình hình truyền bá của tín ngưỡng Ma Tổ của người Hoa tại Việt Nam.
Sau đó, trần thuật về việc xây dựng, biến đổi và chức năng của đền Thiên Hậu tại Hội Quán Tuệ Thành. Cuối cùng, tác giả cho rằng đền Thiên Hậu đó đã trở thành một di tích văn hoá và lịch sử của Việt Nam, điều này tiết lộ rằng niềm tin Ma Tổ của người Hoa ở Việt Nam đã được dung hòa vào văn hoá địa phương [108]. 9 - Các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam ở Malaysia Cũng Lý Thiên Tích trong bài viết “Nhìn nhận về tín ngưỡng Ma Tổ của người Hoa và Hoa kiều tại Malaysia” có giới thiệu qua tình hình truyền bá của tín ngưỡng Ma Tổ tại Malaysia, sau đó phân tích ra ba đặc điểm, là: (1) Đền Ma Tổ được liên kết chặt chẽ với hội quán; (2) Tín ngưỡng Ma Tổ thờ cúng tổ tiên tương tác với nhau; (3) Người Hoa gốc Hải Nam luôn luôn thờ cúng Ma Tổ với Thủy Vĩ Thánh Nương và 108 Huynh Đệ Công [104]. Thạch Thương Kim (Trung Quốc) trong bài “Điều tra về tín ngưỡng dân gian của người Hoa gốc Hải Nam tại Malaysia” có nhắc đến, các vị thần chính trong tín ngưỡng dân gian của người Hoa gốc Hải Nam tại Malaysia bao gồm Thiên Hậu, Thủy Vĩ Thánh Nương, Huynh Đệ Công, Tiển Phu Nhân.
Ở Malaysia, việc thờ thần biển dần dần mất tục xưa, trở thành một tiêu chí để phân biệt nhóm phương ngôn Hải Nam, nên tín ngưỡng dân gian của người Hoa gốc Hải Nam tại Malaysia có tính hỗn hợp, bao dung và thậm chí là tùy tiện [157]. Lưu Xuân Yến (Trung Quốc) trong bài “Đặc điểm của tín ngưỡng Ma Tổ của người Hoa tại Penang Malaysia - lấy ngôi đền Thiên hậu Hội quán Hải Nam tại Penang làm ví dụ”, tác giả dùng phương pháp điều tra điền dã và phân tích trường hợp cá biệt, vừa miêu tả kỹ về lịch sử, nhân khẩu của người hoa tại Penang, vừa giải thích mối quan hệ chặt chẽ giữa người Hoa tại Penang và tín ngưỡng Ma Tổ. Bên cạnh đó, tác giả đã tóm tắt được đặc điểm tín ngưỡng Ma Tổ của người Hoa tại Malaysia như luôn luôn liên quan đến tộc người, người dự đa phần theo tông tộc mà tế cúng, khác với đặc điểm của Ma Tổ Mi Châu, Phủ Điền, Phúc Kiến [137]. Lý Hùng Chi (Trung Quốc) trong cuốn “Tổng quan đền Thiên Hậu tại Malaysia” có nhắc đến người thờ cúng Thiên Hậu Thánh Mẫu nhiều nhất là người Phúc Kiến, sau đó là người Hải Nam.
Ở Malaysia có nhiều đền Thiên Hậu Cung, trong đó Thiên Hậu Cung Lạc Thánh Lĩnh của hội quán Hải Nam tại Tuyết Long là đền nổi tiếng nhất. Đền này xây dựng vào năm 1889 và trùng tu vào năm 1960 và năm 1989, vì lịch sử lâu dài và kiến trúc tinh tế mà ngôi đền này trở thành điểm du lịch nổi tiếng của Kuala Lumpur. Hình như tín ngưỡng Thiên Hậu (cũng gọi là Ma Tổ) được phổ biến trong người Hoa tại Malaysia [115]. - Các nghiên cứu về Ma Tổ của đảo Hải Nam ở Singapore Yen Ching-hwang (Úc) trong cuốn A Social History of the Chinese in Singapore and Malay (Lịch sử xã hội của người Hoa tại Singapore và Malay) cho rằng tín ngưỡng Ma Tổ là một trong những tín ngưỡng được Hoa kiều tin tưởng trong xã hội lịch sử Malaysia và Singapore [38].
Tăng Linh (Trung Quốc) trong bài “Thần Minh” trong ranh giới của cộng đồng: Một nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ của Singapore vào thời đại di dân” cho biết tín ngưỡng Ma Tổ là một phần quan trọng của cuộc sống tôn giáo người Hoa tại Singapore. Sau khi dựa trên sự phân tích về tài liệu lịch sử và so sánh hình thái Ma Tổ địa phương và Ma Tổ của Mẫn Việt (bao gồm Hải Nam) phát hiện ra, tín ngưỡng Ma Tổ Singapore chủ yếu có ý nghĩa đoàn kết tộc người, nên mang đậm sắc thái cộng đồng hóa [167]. Tăng Vĩ (Trung Quốc) trong bài viết “Nghiên cứu về sự truyền bá và bản địa hoá văn hoá Ma Tổ tại Singapore” có viết, sau khi tín ngưỡng Ma Tổ không ngừng phân linh (bao gồm trường hợp phân linh từ đảo Hải Nam) sang nước ngoài, trong đó có Singapore. Vì vậy, tác giả tập trung trình bày về quá trình truyền bá và bản địa hoá của tín ngưỡng Ma Tổ tại Singapore, qua đó 11 cung cấp một trường hợp về sự tích hợp hữu cơ của quốc tế hoá và bản địa hoá về văn hoá Ma Tổ.