Chương 1: Tổng quan về văn bản thân tích hai huyện Từ Sơn và Tiên Du. - Chương 2: Tìm hiểu giá trị văn bản thân tích hai huyện Từ Sơn và Tiên Du. Phần Phụ lục bao gồm: - Phụ lục 1: Phiếu lược thuật thân tích của hai huyện Từ Sơn và Tiên Du ngày nay lưu trữ tại VNCHN. - Phụ lục 2: Danh mục, phân loại và thông tin về các vị thần trong văn bản thân tích hai huyện Từ Sơn và Tiên Du.
-Phụ lục 3: Phiên âm, dịch nghĩa một số văn bản thần tích có giá trị ở một số địa phương tiêu biểu. Các quy ước trình bày trong Luận văn - Các quy ước về việc viết tắt - Các quy ước khác PHAN NOI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN VE VAN BAN THAN TICH HAI HUYEN TU SON VA TIEN DU 1. Vai nét vé hai huyện Từ Sơn và Tiên Du. Địa lý tự nhiên và địa lý hành chính.
Dia ly tu nhién. Vị tri dia ly: Tu Son va Tién Du 1a hai huyén nam 6 phia Bac tinh Bac Ninh, cách trung tâm tỉnh 5km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 25km về phía Nam. Diện tích tự nhiên cụ thể như sau: Huyện Từ Sơn: 2.519,90 ha; với 12 đơn vị hành chính gồm: 07 phường (Đông Ngàn, Đông Nguyên, Tân Hồng, Đình Bảng, Châu Khê, Đông Ky, Trang Hạ) và 5 xã (Hương Mạc, Phù Khê, Tương Giang, Tam Sơn, Phù Chẩn). Huyện Từ Sơn giáp ranh với các địa phương sau: - _ Phía Bắc giáp với các xã của huyện Yên Phong.
- __ Phía Đông Băc và Đông giáp với huyện Tiên Du. - — Phía Nam và Tây Nam giáp với huyện Gia Lâm, Hà Nội. - —_ Phía Tây giáp với huyện Đông Anh, Hà Nội. Huyện Tiên Du: 9.568,65 ha, với 14 đơn vị hành chính gồm: 01 thị trân (thị tran Lm) và l3 xã (xã Liên Bão, xã Đại Đồng, xã Phật Tích, xã Hiên Vân, xã Lạc Vệ, xã Nội Duệ, xã Tri Phương, xã Hoàn Sơn, xã Tân Chị, xã Minh Đạo, xã Cảnh Hưng, xã Việt Đoàn, xã Phú Lâm).
Huyện Tiên Du giáp ranh với các địa phương sau: - Phía Băc giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong. - Phía Nam giáp huyện Thuận Thành. - Phía Đông giáp huyện Quê Võ. - Phía Tây giáp thị xã Từ Sơn 8 Địa hình: Do năm trong vùng đồng băng châu thổ sông Hồng nên địa hình hai huyện Từ Sơn và Tiên Du tương đối băng phăng.
Hầu hết diện tích của hai huyện đều có độ dốc <30 (trừ một số nơi có đôi núi thập như: núi Tiêu Sơn, núi Phật Tích, núi Chè, núi Bất Lự, núi Đông Sơn, đôi Lim, nui Móng, Long Khám, Hiên Vân. Địa hình vùng đồng băng có xu thế nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc — Đông Nam mang nét đặc trưng và chuyên tiếp từ trung du xuống đồng băng. Độ cao trung bình là: 2,5 — 6,0m so với mặt nước biển. Đặc điểm địa chất hai huyện Từ Sơn và Tiên Du tương đối đồng nhất do năm gon trong vùng đông băng châu thổ sông Hồng nên Từ Sơn, Tiên Du mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng.
Mặt khác, do năm trong miền kiến tạo Đông Bắc nên có những nét mang tính chất của vùng Đông Bắc, bề day trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của câu trúc mỏng, càng xuống phía Nam cấu trúc địa chất càng dây hơn phía Bắc. Khí hậu: năm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng âm, mưa nhiêu, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa. Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Hàng năm có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Băắc và gió mùa Đông Nam, gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi âm mưa rào.
Dia lý hành chính. Theo các nguôn tài liệu khảo cô học, từ thời Hùng Vương, vùng đất Từ Sơn, Tiên Du đã có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống dọc theo đôi bờ sông Tiêu Tương thuộc địa phận các xã Đình Bảng, Đồng Nguyên, Tam Sơn, Tương Giang của huyện Từ Sơn và sông Thiên Đức chảy qua các xã Chi Phương, Cảnh Hưng, Tân Chị của huyện Tiên Du. Huyện Từ Sơn Tên huyện Từ Sơn mới xuất hiện từ đâu thế kỷ XX. Trước đó, vùng đất thuộc Từ Sơn lệ vào huyện có tên là Đông Ngàn.
Thời Đinh (970 — 980) trở về trước huyện Đông Ngàn gọi là châu Cổ Lãm. Dưới thời Lê Đại Hành (989 — 1005) gọi là châu Cổ Pháp. Tháng § năm 1010, Lý Thái Tổ đổi thành phủ Thiên Đức. Thời 9 thuộc Minh (1214 — 1227) gọi là huyện Đông Ngàn thuộc châu Vũ Ninh.
Sang thời Trần thì bắt đầu gọi là huyện Đông Ngàn. Từ thời Lê (thế kỷ XV) đến cuối thời Nguyễn (đầu thế ký XX), huyện Đông Ngàn thuộc phủ Từ Sơn. Vào thé ky XV, huyện Đông Ngàn có 88 xã và 1 châu. Thời Lê Thánh Tông (1490), huyện có 90 xã.
Thời Gia Long (1802 — 1819) huyện có 13 tổng với 96 xã, thôn, phường gồm: tổng Hội Phụ có 8 xã, tổng Tuân Lệ có 10 xã, tổng Hà Lỗ có 9 xã, tổng Yên Thường có 8 xã, tổng Hạ Dương có 6 xã, tổng Dục Tú có 4 xã, tổng Mẫn Xá có 6 xã, tông Phù Lưu có 7 xã, tổng Xuân Canh có I1 xã thôn, tổng Phù Chân có 4 xã, tổng Nghĩa Lập có 8 xã thôn, tổng Cổ Loa có 8 xã thôn, tổng Tam Sơn có 8 xã thôn [25, tr. Từ thời Minh trở đi, có một số xã được đổi tên như: Ông Mặc đổi thành Hương Mặc; Phù Cảo đổi thành Phù Tảo; Hoa Thiều đổi là Kim Thiều. Sách “Đồng Khánh dư địa chí” chép huyện Đông Ngàn có 13 tổng, 92 xã, thôn, sở. Đầu thế kỷ XX, 3 tổng: Tuân Lệ, Xuân Canh, Cô Loa được cat khỏi huyện Đông Ngàn để thành lập huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên (nay là Hà Nội).
Từ đây, huyện Đông Ngàn còn 10 tổng gồm: tổng Hội Phụ có 8 xã, tông Hà Lỗ có 9 xã, tổng Yên Thường có § xã, tổng Dục Tú có 4 xã, tổng Mẫn Xá có 6 xã, tổng Phù Lưu có 7 xã, tổng Phù Chẩn có 4 xã, tổng Nghĩa Lập có 7 xã, tổng Tam Sơn có 8 xã, tong Ha Duong có 6 xã [25, tr. Trước năm 1945, xã Đông Mai và xã Yên Từ của tổng Tam Sơn được chuyển về huyện Yên Phong. Sau Cách mạng thang 8 nam 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị giải thể, đơn vị hành chính cấp xã cũ được giữ nguyên và trực thuộc huyện Từ Sơn. Năm 1949, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu I ban hành Quyết định sô 422PC/2 về việc hợp nhất một số xã của huyện Từ Sơn như: xã Đồng Ky hợp nhất với xã Trang Hạ lấy tên là xã Đồng Quang, xã Dương Lôi hợp nhất với xã Phù Lưu và Đại Đình lấy tên là xã Tân Hồng.
Bốn xã được giữ nguyên là Đình Bảng, Dục Tú, Phù Chân, Tiền Phong [25, tr. Năm 1952 cắt một số xã thôn của quận Từ Sơn về quận Đông Anh như: Quan Đình, Quan Độ, Hương Mạc, Vân Điềm, Lễ 10 Khê, Hà Lỗ. Năm 1961, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa II kỳ họp thứ 2, 10 xã và 1 thị trấn của huyện Từ Sơn được chuyển về Hà Nội, trong đó Š5 xã được chuyên về huyện Đông Anh; 5 xã và | thi trấn được chuyển về huyện Gia Lâm. Năm 1963, hai huyện Từ Sơn và Tiên Du hợp nhất thành huyện Tiên Sơn.
Đến năm 1999, theo Nghị định số 68/1999/NĐ — CP lại tách thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn. Huyện Từ Sơn khi đó có II đơn vị hành chính trực thuộc [25, tr. Năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/NĐÐ — CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ 6.133,23 ha diện tích tự nhiên và 143.843 nhân khẩu của huyện Từ Sơn gom 12 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có 7 phường: Đông Ngàn, Đồng Ky, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Tân Hồng, Dinh Bảng, Châu Khê và 5 xã: Tam Sơn, Tương Giang, Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chan [25, tr. Thành phủ Từ Sơn (cũng là huyện ly Đông Ngàn), theo sách Đại Nam nhất thống chí, trước năm 1808 đặt tại xã Vĩnh Kiều.
Năm Gia Long thứ 7 (1808) chuyển về xã Thạc Quả, sau đó rời đến xã Câm Chương. Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827) mới chuyên đến địa điểm giáp ranh xã Phù Lưu và xã Xuân Thụ. Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) mới đắp thành. Trước tháng 9 năm 2008 đóng ở thị trân Từ Sơn.
Hiện nay đóng ở trung tâm thị xã Từ Sơn. Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, thị xã Từ Sơn có 140.536 nhân khẩu, trong đó có 70. Huyện Tiên Du Tên gọi của huyện Tiên Du là từ tên dãy núi Tiên Du năm tại thôn Phật Tích. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép “khi Triệu Đà tiến quân đánh An Dương Vương đóng quân ở núi này” và “tướng quân Nguyễn Thủ Thiệp thời 12 sứ quân cũng đóng quân tại vùng này”.
Còn theo sách Đại Nam nhất thống chí tên huyện Tiên Du có từ thời Trân trở về trước [15, tr. Thời thuộc Minh (1414 - 1427) huyện Tiên Du thuộc châu Vũ Ninh và là một bộ phận của phủ Bắc Giang [15, tr. Bắt đầu từ thời Lê (1428), huyện Tiên Du thuộc phủ Từ Sơn. Theo sach Dir dia chi cia Nguyễn Trãi và Hồng Đức bản đồ ghi răng huyện này thời Lê (1428-1781) có đến 52 xã [25, t2, tr.
11 Thời Gia Long (1802 — 1819) huyện có 9 tổng với 52 xã, gồm: tổng Phù Đồng: tông Dũng Vi; tổng Đại Vi; tổng Đông Sơn; tông Thụ Triển; tổng Nội Duệ:; tổng Khăc Niệm; tổng Chỉ Nê: tổng Nội Viên. Các xã: Nguyễn Xá, Phù Dong, Van Trinh năm 1807 phiêu tán, đến năm 1808 phục hồi. Đến năm Đông Khánh thứ nhất (1886), huyện có 9 tông với 56 xã thôn [186, tr. 490], gồm: tổng Phù Đồng: tổng Dũng Vi; tổng Đại Vi; tổng Đông Sơn; tổng Thụ Phúc; tổng Nội Duệ; tổng Khắc Niệm; tổng Chỉ; tổng Nội Viên.
Đâu thế kỉ 20, tông Khắc Niệm được chuyển về huyện Võ Giàng, sau đó một thời gian lại được chuyên trả lại cho huyện Tiên Du. Sau Cách mạng tháng Tám, khi cấp tổng bị bãi bỏ, đơn vị hành chính xã cũ được giữ Nguyễn và trực thuộc huyện Tiên Du. Năm 1948, các xã được thành lập trên cơ sở một số làng sát nhập lại. Năm 1961, xã Phủ Đồng và xã Trung Hưng (sau đổi là Trung Màu) được chuyển về huyện Gia Lâm (Thành phố Hà Nội).