Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nghiên cứu ca dao - dân ca dưới góc nhìn bối cảnh (Trường hợp ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long) do nghiên cứu sinh Trần Văn Thịnh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp và PGS. Nguyễn Văn Nở, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 62 22 01 21).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn học dân gian là bộ phận cấu thành văn hóa dân gian, phản ánh lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng. Các công trình nghiên cứu ca dao - dân ca truyền thống tại Việt Nam phần lớn tiếp cận văn bản như một chỉnh thể ngôn từ độc lập, khép kín, phân tích trên bình diện thi pháp hoặc ngôn ngữ học thuần túy. Hướng tiếp cận này tách rời tác phẩm khỏi môi trường diễn xướng thực tế, làm mờ nhạt các dạng thức tồn tại cụ thể và các thành tố ngoài văn bản (như chủ thể diễn xướng, người tham gia, tâm lý, không gian, thời gian và mục đích giao tiếp). Trong bối cảnh hiện đại, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước nguy cơ mai một nhanh chóng. Luận án đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ứng dụng lý thuyết bối cảnh trong folklore học hiện đại để khảo sát, phục hồi và diễn giải ca dao - dân ca ĐBSCL như một quá trình giao tiếp nghệ thuật hoàn chỉnh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định 4 mục tiêu cụ thể:

  1. Vận dụng lý luận của lý thuyết bối cảnh để xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu, sưu tầm ca dao - dân ca, từ đó xây dựng cơ sở lý luận và công cụ cho việc sưu tầm, nghiên cứu ca dao - dân ca ở ĐBSCL.
  2. Làm rõ vai trò, vị trí của ca dao - dân ca ĐBSCL trong đời sống văn hóa qua các giao tiếp nói năng và các hình thức diễn xướng dân ca, khẳng định các giá trị di sản trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương.
  3. Chỉ ra những đặc điểm mới của ca dao - dân ca ĐBSCL và mở ra những định hướng mới trong nhận diện thể loại ca dao - dân ca.
  4. Mở ra những định hướng mới trong hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và quản lý di sản ca dao - dân ca ĐBSCL trong bối cảnh hiện đại.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án triển khai 7 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận nghiên cứu văn học dân gian và ca dao - dân ca dưới góc nhìn bối cảnh qua việc tổng thuật quan niệm lý thuyết và các công trình của học giả tiêu biểu.
  2. Xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ của việc nghiên cứu ca dao - dân ca truyền thống.
  3. Xây dựng cơ sở lý luận và công cụ tiếp cận chuyên biệt cho ca dao - dân ca ĐBSCL từ hướng tiếp cận bối cảnh.
  4. Thu thập, tập hợp, thống kê ca dao - dân ca ĐBSCL gắn liền với các dạng thức tương ứng trong bối cảnh sử dụng thực tế.
  5. Phân loại các dạng thức tồn tại trong bối cảnh của ca dao - dân ca ĐBSCL.
  6. Nhận diện đặc điểm các yếu tố văn bản và ngoài văn bản; phân tích, đánh giá các thành tố tiêu biểu trong từng dạng thức, đặc biệt là các thành tố không thể nhận diện trực tiếp qua văn bản thuần túy.
  7. Phân tích, hệ thống hóa các luận điểm nhằm định hướng nhận diện đặc trưng thể loại ca dao - dân ca và hệ thống đặc điểm của ca dao - dân ca ĐBSCL từ góc nhìn bối cảnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ca dao - dân ca người Việt tại ĐBSCL ở các dạng thức gắn liền với bối cảnh sử dụng (dạng thức lời nói trong giao tiếp hàng ngày và dạng thức diễn xướng dân ca); hệ thống lý luận của trào lưu bối cảnh trong folklore học.
  • Đối tượng khảo sát: Giới hạn trong phạm vi ca dao - dân ca của người Việt tại tiểu vùng văn hóa ĐBSCL. Không khảo sát ca dao - dân ca của các dân tộc thiểu số (Hoa, Khmer, Chăm) và loại trừ mảng đồng dao (ca dao trẻ em). Luận án cũng tạm thời chưa tiếp cận các yếu tố kỹ thuật âm nhạc thuần túy như thang âm hay hệ thống ghi âm nốt nhạc.
  • Phạm vi tư liệu: Bao gồm 160 mẫu ca dao - dân ca sưu tầm thực tế điền dã (ký hiệu từ NN001 đến NN160 tại Phụ lục 1) và các văn bản trong Phụ lục 2; các tuyển tập văn học dân gian Nam Bộ và ĐBSCL (của Khoa Ngữ văn - Đại học Cần Thơ, Chu Xuân Diên, Huỳnh Ngọc Trảng, Đỗ Văn Tân); các công trình sưu tầm và khảo cứu dân ca của Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa; cùng các tác phẩm văn xuôi phản ánh bối cảnh sinh hoạt dân gian của các nhà văn Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Minh Thuận, Trần Kim Trắc, Trần Bảo Định, Thanh Giang, Phi Vân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế về folklore trong bối cảnh

Trào lưu nghiên cứu bối cảnh khởi nguồn từ những ghi nhận sơ khởi của Bronislaw Malinowski (1925), sau đó phát triển mạnh mẽ tại Hoa Kỳ giai đoạn 1965–1979 qua cuộc tranh luận học thuật về "văn bản và bối cảnh" (Text - context controversy):

  • Alan Dundes (1964) trong công trình Texture, Text and Context đã đề xuất mô hình phân tích ba cấp độ: kết cấu (texture), văn bản (text) và bối cảnh (context), nhấn mạnh việc thu thập bối cảnh để giải thích dị bản và xác định đặc trưng thể loại.
  • Dan Ben-Amos (1967, 1971) với các bài viết Folklore: The Definition Game Once Again và Toward a Definition of Folklore in Context đã định nghĩa lại folklore không phải là tập hợp văn bản tĩnh mà là một "quá trình giao tiếp", một "hành động nghệ thuật trong bối cảnh".
  • Barbara Kirshenblatt-Gimblett (1969) phân tích truyện ngụ ngôn trong bối cảnh tương tác xã hội (A parable in Context: A Social Interactional Analysis of Storytelling Performance).
  • Robert A. Georges (1969) tiếp cận sự kiện kể chuyện (Toward an Understanding of Storytelling Events) để chỉ ra các yếu tố ngoài văn bản chi phối tiến trình diễn xướng.
  • Phía các nhà nghiên cứu bảo vệ quan điểm lấy văn bản làm trung tâm (Roger Welsch, D. Wilgus với bài phát biểu năm 1973 The Text is the Thing, Stephen Jones) bày tỏ lo ngại việc chuyển trọng tâm sang bối cảnh sẽ làm biến đổi đối tượng của folklore học từ sản phẩm thẩm mỹ sang nghiên cứu sự kiện và con người thuần túy.

Tình hình tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết bối cảnh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, lý thuyết bối cảnh được giới thiệu và vận dụng qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn giới thiệu lý thuyết: Nguyễn Thị Hiền (1999, 2000) công bố các bài viết về quá trình văn bản hóa folklore ở Hoa Kỳ và các phương pháp nghiên cứu folklore phương Tây; Trần Thị An (2008) thảo luận về hướng tiếp cận type và motif gắn với đời sống thực tồn của folklore; các bài viết chuyên đề của Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Hữu Nghĩa.
  • Giai đoạn ứng dụng chuyên sâu: Lê Thị Thanh Vy (2013, 2020) nghiên cứu tục ngữ trong văn học dưới góc nhìn bối cảnh; Huỳnh Vũ Lam (2015, 2019) bảo vệ luận án và xuất bản sách chuyên khảo về truyện dân gian Khmer ĐBSCL; Nguyễn Hữu Nghĩa (2018) nghiên cứu truyện cổ dân gian có yếu tố Phật giáo tại Việt Nam và Myanmar.

Lịch sử nghiên cứu ca dao - dân ca ĐBSCL

  • Giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX: Các công trình sưu tập đầu tiên ghi nhận dạng thức diễn xướng của Trương Vĩnh Ký (Miscellanées, 1888), Trương Minh Ký (Câu hát An Nam, 1886), Huỳnh Tịnh Của (Câu hát góp, 1897/1910), Đặng Lễ Nghi, Đinh Thái Sơn, Nguyễn Bá Thời, Chu Ngọc Chi, Nguyễn Công Chánh, Hoàng Minh Tự, Khấu Võ Nghi.
  • Giai đoạn 1954–1975 ở miền Nam: Công trình của Phạm Khắc Thiệu, Phạm Duy (Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, 1972), Nguyễn Văn Hầu, Lữ Phương, Nguyễn Kiến Thiết (Tánh cách đặc thù của ca dao miền Nam, 1972 - phân tích thể văn và thể ca).
  • Giai đoạn sau 1975 đến nay: Hệ thống công trình sưu tầm và khảo cứu dân ca các tỉnh của Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa (Dân ca Bến Tre, Dân ca Kiên Giang, Dân ca Cửu Long, Dân ca Hậu Giang, Dân ca Đồng Tháp, 300 điệu lí Nam bộ, Hát ru Việt Nam); công trình sưu tầm văn bản của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (Ca dao dân ca Nam bộ, 1984); Huỳnh Ngọc Trảng (Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, 1999/2006); các nghiên cứu thi pháp, ngôn ngữ của Nguyễn Thị Phương Châm, Nguyễn Kim Châu, Trần Văn Nam.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Luận án chỉ ra ba khoảng trống học thuật chính:

  1. Ca dao - dân ca từ trước đến nay chủ yếu bị tiếp cận như một chỉnh thể ngôn từ độc lập đã bị tách xuất khỏi sự kiện diễn xướng, dẫn đến việc xem văn bản là dạng thức tồn tại duy nhất của thể loại.
  2. Các yếu tố bối cảnh khi được đề cập thường chỉ dừng lại ở bối cảnh lịch sử - xã hội vĩ mô dùng chung cho toàn bộ tập hợp văn bản, chưa gắn với từng sự kiện diễn xướng vi mô cụ thể.
  3. Dân ca thường bị phân tách riêng thành đối tượng của âm nhạc học, chưa được nghiên cứu liên ngành trong mối quan hệ hữu cơ với ca dao như một quá trình giao tiếp xã hội trong nhóm nhỏ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án sử dụng khung lý thuyết liên ngành:

  • Lý thuyết bối cảnh trong folklore học (Folklore in Context): Xem sự kiện diễn xướng là một hệ thống cấu trúc gồm các thành tố tương tác: người diễn xướng, người tham gia/người nghe, hoàn cảnh giao tiếp, không gian, thời gian, trạng thái tâm lý trước/sau diễn xướng, và văn bản ngôn từ.
  • Chức năng luận (Functionalism): Phân tích chức năng thực tế của từng tiết mục ca dao - dân ca trong đời sống sinh hoạt, lao động và nghi lễ.
  • Lý thuyết hội thoại (Ngữ dụng học): Khảo sát cấu trúc cuộc thoại, cặp thoại, tham thoại, hành động ngôn từ, hành động dẫn lời và mượn lời ca dao trong giao tiếp thường nhật.
  • Nhân học văn hóa: Ứng dụng quan sát tham dự và miêu tả dữ liệu nhân học của các chủ thể văn hóa dân gian.

Phân loại nguồn tư liệu trong nghiên cứu bối cảnh

Luận án phân lập các nguồn tư liệu dựa trên ba cặp đặc tính cấu trúc:

  • Hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh: Mức độ hiện diện đầy đủ của các thành tố cấu thành sự kiện diễn xướng (ngữ liệu điền dã trực tiếp có độ hoàn chỉnh cao hơn ngữ liệu trích xuất từ tác phẩm văn học).
  • Trực tiếp và gián tiếp: Tư liệu do nhà nghiên cứu trực tiếp chứng kiến, tham dự so với tư liệu ghi nhận qua lời kể hồi cố của nghệ nhân hoặc qua tác phẩm nghệ thuật.
  • Đồng đại và lịch đại: Phân biệt bối cảnh đang diễn ra trong đời sống hiện nay với các bối cảnh diễn xướng lịch sử đã mai một cần được tái tạo.
+------------------------------------------------------------------------------------+
|                      HỆ THỐNG NGUỒN TƯ LIỆU VÀ DẠNG THỨC                           |
+------------------------------------+-----------------------------------------------+
| Tiêu chí phân loại tư liệu         | Biểu hiện thực tế trong luận án               |
+------------------------------------+-----------------------------------------------+
| Tính chất tiếp cận                 | Trực tiếp (điền dã) / Gián tiếp (văn học)     |
| Trạng thái thành tố                | Hoàn chỉnh (đủ bối cảnh) / Khiếm khuyết       |
| Trục thời gian                     | Đồng đại (giao tiếp) / Lịch đại (hò cổ truyền)|
| Dạng thức tồn tại chính            | Dạng thức lời nói / Dạng thức dân ca          |
+------------------------------------+-----------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê, phân loại 160 mẫu ngữ liệu điền dã và hàng trăm đơn vị văn bản theo tiêu chí bối cảnh, chức năng, cấu trúc hội thoại, độ tuổi và giới tính của chủ thể.
  2. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích chi tiết các thành tố của sự kiện diễn xướng từ các mẫu khảo sát, sau đó tổng hợp thành các mô hình và đặc điểm chung của ca dao - dân ca ĐBSCL.
  3. Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Tiếp cận sự kiện diễn xướng như một chỉnh thể có tôn ti trật tự giữa các thành tố văn bản và phi văn bản.
  4. Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu tư liệu giữa các địa bàn, so sánh dạng thức lời nói với dạng thức dân ca, so sánh ca dao với tục ngữ và so sánh ca dao ĐBSCL với các vùng miền khác.
  5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học dân gian, ngôn ngữ học hội thoại, nhân học văn hóa và xã hội học.
  6. Phương pháp điền dã: Xây dựng mạng lưới cộng tác viên được tập huấn kỹ thuật ghi âm, ghi chép bối cảnh, thu thập 160 mẫu ngữ liệu giao tiếp thực tế (mã NN) tại các tỉnh ĐBSCL.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề trong tiếp cận ca dao - dân ca dưới góc nhìn bối cảnh

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành của lý thuyết bối cảnh trên thế giới từ năm 1925 đến các tranh luận học thuật tại Mỹ thập niên 1960–1970; điểm luận các bài viết và công trình ứng dụng tại Việt Nam. Tác giả tổng kết lịch sử sưu tầm, nghiên cứu ca dao - dân ca ĐBSCL từ cuối thế kỷ XIX đến nay qua 5 khuynh hướng: thi pháp học, văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học và âm nhạc học. Chương này xác lập các luận điểm về những khoảng trống phương pháp luận của hướng nghiên cứu truyền thống, đặt ra yêu cầu phải xem ca dao - dân ca là một thực thể tồn tại dưới dạng thức một quá trình giao tiếp trong nhóm nhỏ.

Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn trong nghiên cứu ca dao - dân ca dưới góc nhìn bối cảnh

Chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết và bộ công cụ nghiên cứu bối cảnh cho ca dao - dân ca ĐBSCL. Tác giả phân tích đặc điểm các nguồn tư liệu (tính hoàn chỉnh/không hoàn chỉnh, trực tiếp/gián tiếp, lịch đại/đồng đại), nhận diện hai dạng thức tồn tại cơ bản trong thực tế là dạng thức lời nói và dạng thức dân ca. Tác giả chứng minh tính hệ thống của sự kiện diễn xướng thông qua việc bóc tách các thành tố cấu thành (tình huống, không gian - thời gian, người nói, người nghe, trạng thái tâm lý trước và sau diễn xướng, thông tin nhân học của chủ thể).

Thành tố diễn xướng Minh chứng mẫu NN058 (Cái Tắc, Hậu Giang)
Tình huống Đi ra vườn nhổ gừng, tình cờ nghe hai người hàng xóm than thở về vườn cam
Thời gian - Không gian Sáng sớm ngày 25/8/2018; trên mảnh vườn trái cây tại Cái Tắc, Hậu Giang
Người nói - Người nghe Người nói: Chú Tám (Đoàn Thanh Vũ); Người nghe: Bác Sáu (Đoàn Tấn Khanh) và người sưu tầm
Tâm lý người nói Trước: Đang phân tích giá cam và chanh; Sau: Than thở vườn cam mất giá so với chanh
Tâm lý người nghe Trước: Vui vẻ; Sau: Ngại ngùng giải thích giá chanh biến động theo thời điểm
Thông tin nhân học Hai anh em ruột, nông dân ĐBSCL
Chủ thể trong cuộc thoại Tâm lý trước khi diễn xướng Tâm lý sau khi diễn xướng
Người diễn xướng (Bác Ba trai) Tâm trạng bực bội Vẫn có chút bực bội nhưng không nói thẳng ra
Bác Ba gái (người nghe 1) Vui vẻ ngồi nói chuyện Bực bội, trách móc, la ó bác trai
Chị Phương (người nghe 2) Nói chuyện cười vui Có ý trách bác trai tối ngày đi mai mối
Người sưu tầm (người nghe 3) Nói chuyện cười vui với mọi người Tò mò trước câu nói của bác và chị

Chương 3: Ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc nhìn bối cảnh - trường hợp dạng thức lời nói

Chương 3 triển khai khảo sát thực nghiệm trên nguồn tư liệu điền dã dạng thức lời nói (160 mẫu NN) và các trích đoạn văn xuôi Nam Bộ.

  • Phân loại bối cảnh: Tác giả phân loại bối cảnh sử dụng ca dao trong nói năng theo chức năng cụ thể, chức năng khái quát và tổ hợp chức năng (Bảng 3.1 đến 3.4).
  • Đặc điểm giao tiếp: Thống kê cuộc thoại sử dụng ca dao theo giới tính (Bảng 3.6), nhóm tuổi (Bảng 3.7) và mối quan hệ xã hội/thân tộc (Bảng 3.8).
  • Cấu trúc ngữ dụng học: Khảo sát các loại cặp thoại (Bảng 3.9), tham thoại (Bảng 3.10), và phân tích cơ chế hành động ngôn từ gồm hai phương thức chính: hành động dẫn lời (dẫn trực tiếp câu ca dao kèm lời dẫn/khóa diễn xướng) và hành động mượn lời (sử dụng ý tứ ca dao để thể hiện ý định giao tiếp của bản thân) (Bảng 3.11 đến 3.14).

Chương 4: Ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc nhìn bối cảnh - trường hợp dạng thức dân ca

Chương 4 nghiên cứu dạng thức dân ca qua ba nguồn cứ liệu: điền dã thực tế, tác phẩm văn học và tư liệu âm nhạc dân gian đã xuất bản.

  • Bối cảnh diễn xướng: Khảo sát hai nhóm bối cảnh: dạng thức dân ca phi đối đáp (hát ru, các điệu lý sinh hoạt, giải trí, nghi lễ) và dạng thức dân ca đối đáp nam nữ (hò đối đáp trên sông nước, hò cấy, hát huê tình).
  • Tiểu dạng thức và nhịp điệu: Phân tích cấu trúc các tiểu dạng thức thuộc thể loại Lý (Bảng 4.3), Hò (Bảng 4.4), Hát huê tình (Bảng 4.5), Hát ru (Bảng 4.6); khảo sát mối quan hệ giữa nhịp điệu diễn xướng và cấu trúc văn bản qua các bảng thống kê nhịp điệu (Bảng 4.8 đến 4.11) và bản ký âm bài hò đối đáp thực tế (Hình 4.1).
  • Đặc điểm chủ thể diễn xướng: Khảo sát cơ cấu độ tuổi (Biểu đồ 4.2 đến 4.11 với các khoảng cách 4 tuổi và 10 tuổi) và cơ cấu giới tính của người cung cấp tư liệu dân ca (Bảng 4.12).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và giới thiệu khung lý thuyết bối cảnh trong folklore học đương đại, tổng thuật có hệ thống các luận điểm của học giả quốc tế và trong nước.
  • Xây dựng hệ thống công cụ phương pháp luận chuyên biệt từ góc nhìn bối cảnh để tiếp cận ca dao - dân ca ĐBSCL.
  • Nhận diện và mô hình hóa các thành tố của sự kiện diễn xướng ca dao - dân ca (tâm lý, hoàn cảnh, quan hệ xã hội, hành động ngôn từ) vốn không thể nhận biết qua văn bản thuần túy.
  • Xác lập cơ sở định hướng phân định ranh giới thể loại giữa ca dao - dân ca với các thể loại lân cận (đặc biệt là tục ngữ và dân ca nguyên hợp) dựa trên tiêu chí bối cảnh và hành động diễn xướng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phát hiện các phương diện hiện tồn và chiều kích sinh hoạt mới của ca dao - dân ca ĐBSCL trong đời sống đương đại, đặc biệt là dạng thức sử dụng ca dao trong lời ăn tiếng nói thường ngày.
  • Cung cấp tập hợp tư liệu điền dã mới gồm 160 mẫu ngữ liệu có ghi nhận đầy đủ các thông tin bối cảnh nhân học (Phụ lục 1).
  • Đưa ra các căn cứ khoa học hỗ trợ cho công tác sưu tầm, bảo tồn và quản lý di sản văn hóa dân gian ĐBSCL trước nguy cơ mai một trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi khảo sát tộc người: Đề tài chỉ giới hạn khảo sát ca dao - dân ca của người Việt tại ĐBSCL, chưa mở rộng sang kho tàng ca dao - dân ca phong phú của các dân tộc cùng cộng cư như người Khmer, người Hoa, người Chăm.
  • Phạm vi thể loại: Loại trừ mảng đồng dao (ca dao trẻ em) và các hình thức diễn xướng nghi lễ đặc thù khác do tính chất phức tạp của đối tượng.
  • Phương diện âm nhạc học: Luận án tạm thời chưa tiếp cận sâu các yếu tố kỹ thuật âm nhạc thuần túy như thang âm, cấu trúc điệu thức hay phân tích tổng phổ âm nhạc chi tiết.
  • Dữ liệu diễn xướng quá khứ: Do nhiều hình thức diễn xướng truyền thống (như hò trên sông nước, hò cấy lúa) đã hoàn toàn vắng bóng trong đời sống thực tế, tác giả phải dựa vào nguồn tư liệu gián tiếp (tác phẩm văn học, trí nhớ hồi cố của nghệ nhân), dẫn đến độ hoàn chỉnh của một số sự kiện diễn xướng lịch đại chưa đạt mức tuyệt đối.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng ứng dụng lý thuyết bối cảnh để khảo sát ca dao - dân ca của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng ĐBSCL.
  • Kết hợp nghiên cứu liên ngành chuyên sâu hơn giữa folklore học và âm nhạc học dân tộc (ethnomusicology) để phân tích sự tương tác giữa thang âm, nhịp điệu và ngữ cảnh giao tiếp.
  • Tiến hành các khảo sát định lượng diện rộng về sự biến đổi chức năng của ca dao trong giao tiếp đô thị và môi trường truyền thông số.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Ngôn ngữ học, Dân tộc học và Nhân học văn hóa có thể sử dụng khung lý thuyết và phương pháp phân tích bối cảnh làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Các cơ quan văn hóa tại 13 tỉnh thành ĐBSCL có thêm cơ sở khoa học để thiết kế các chương trình bảo tồn văn hóa phi vật thể gắn với không gian diễn xướng thực tế thay vì chỉ lưu giữ văn bản trên giấy.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật

  • Khung quy trình tách xuất và phân tích các thành tố của sự kiện diễn xướng (gồm tình huống, thời gian, không gian, thông tin nhân học, trạng thái tâm lý trước/sau của chủ thể).
  • Bộ công cụ phân tích ca dao trong hội thoại hàng ngày (cặp thoại, tham thoại, hành động dẫn lời và mượn lời).
  • Tập hợp 160 mẫu ngữ liệu điền dã có ghi chú bối cảnh nhân học chi tiết tại Phụ lục 1 của luận án.

Câu hỏi thường gặp

1. Hướng tiếp cận bối cảnh trong luận án khác gì so với hướng nghiên cứu ca dao truyền thống?

Hướng nghiên cứu truyền thống xem ca dao là một chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ độc lập, tách văn bản ra khỏi diễn xướng và chỉ phân tích thi pháp hoặc nội dung phản ánh. Hướng tiếp cận bối cảnh của luận án xem ca dao là một quá trình giao tiếp nghệ thuật, trong đó văn bản chỉ là một thành tố cùng tương tác với các yếu tố ngoài văn bản như người diễn xướng, người nghe, không gian, thời gian, mục đích giao tiếp và trạng thái tâm lý của các bên tham gia.

2. Luận án phân chia ca dao - dân ca ĐBSCL thành những dạng thức tồn tại cơ bản nào?

Luận án xác định hai dạng thức tồn tại tiêu biểu của ca dao - dân ca ĐBSCL trong đời sống thực tế:

  • Dạng thức lời nói: Ca dao được tích hợp vào các cuộc thoại giao tiếp hàng ngày dưới dạng mượn lời hoặc dẫn lời để thực hiện các hành động ngôn từ cụ thể.
  • Dạng thức dân ca: Ca dao tồn tại trong các môi trường diễn xướng hát xướng dân gian có nhịp điệu và âm nhạc (gồm dạng thức phi đối đáp như hát ru, các điệu lý và dạng thức đối đáp nam nữ như hò, hát huê tình).

3. Phương thức "mượn lời" và "dẫn lời" ca dao trong giao tiếp được hiểu như thế nào?

  • Dẫn lời: Người nói trích dẫn nguyên văn hoặc gần nguyên văn câu ca dao và có sử dụng lời dẫn/khóa diễn xướng (như "ông bà mình có câu...", "người xưa thường nói...") để xác định chủ thể phát ngôn là cộng đồng dân gian.
  • Mượn lời: Người nói dùng cấu trúc, hình ảnh hoặc ý tứ của câu ca dao như lời phát ngôn của chính mình nhằm diễn đạt cảm xúc, thái độ hoặc quan điểm cá nhân trong cuộc thoại mà không cần lời dẫn xuất xứ.

4. Nguồn ngữ liệu điền dã thực tế của luận án được tổ chức và ký hiệu như thế nào?

Nguồn ngữ liệu điền dã gồm 160 mẫu sự kiện giao tiếp có sử dụng ca dao do tác giả và cộng tác viên thu thập trực tiếp tại thực địa ĐBSCL, được đánh mã ký hiệu thống nhất từ NN001 đến NN160 (chữ "NN" viết tắt của "Nói năng"), mỗi mẫu đều ghi lại tình huống, không gian, thời gian, người nói, người nghe, diễn biến tâm lý và thông tin nhân học của các chủ thể.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Văn Thịnh là công trình chuyên khảo vận dụng lý thuyết bối cảnh trong folklore học để khảo sát ca dao - dân ca người Việt tại ĐBSCL. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã nhân học và lý thuyết hội thoại, tác giả đã bóc tách cấu trúc sự kiện diễn xướng ở hai dạng thức lời nói và dân ca, làm sáng tỏ các thành tố ngoài văn bản chi phối đời sống thực tồn của tác phẩm. Công trình đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân định thể loại văn học dân gian, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại khu vực Nam Bộ.