Chương 1 CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ 1. Lịch sử hình thành đất Nam Bộ Nam Bộ là nơi lưu dấu những bước chân cuối cùng của tiền nhân trong dặm trường bôn ba, mở rộng và xác lập lãnh thổ của người Việt về phía nam của tổ quốc. Nam Bộ là vùng đất thiêng liêng, có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước ta.
Một khu vực có tiềm năng về kinh tế, vững về chính trị cũng như thấm đượm tình yêu thương giữa những người con miền sông nước. Nhưng trước khi Nam Bộ hội tụ lại để dệt nên bức họa đồ Việt Nam hình chữ S, vùng đất này đã trải qua ba thời kỳ lịch sử lớn: Vùng đất Nam Bộ dưới thời Phù Nam; Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp và Vùng đất Nam Bộ của Việt Nam. Các nhà khoa học đã khẳng định rằng nước Phù Nam đã xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên, với trung tâm là vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện nay. Trong thời kì hưng thịnh, nước Phù Nam phát triển thành một đế chế gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam, Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca, trung tâm vẫn là vùng Nam Bộ Việt Nam – một khu vực phát triển nhanh vào lúc bấy giờ, cư dân chủ thể này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển.
Những ngư dân với truyền thống về hàng hải cùng nguồn kinh nghiệm tích lũy lâu dài và tài nghệ trong làm thủy lợi, khai phá và canh tác ở đồng bằng trũng thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển cải thiện cuộc sống ổn định. Đến giai đoạn vào cuối thế kỷ VI, Đế chế Phù Nam hưng thịnh đã bắt đầu quá trình suy yếu. Lợi dụng cơ hội này, một thuộc quốc của Phù Nam – 12 Chân Lạp, do người Khmer xây dựng, vào đầu thế kỷ VII đã đánh chiếm một phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ Việt Nam. Đây một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ.
Vùng đất Nam Bộ sau 627 năm từng là vùng đất thuộc Phù Nam, nay lại bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp. Với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao nhưng với dân số ít, người Khmer khi đó không có khả năng tổ chức khai thác vùng đồng bằng rộng lớn mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy. Song song đó, việc khai khẩn đất đai trên vùng đất gốc – Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực. Việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn.
Càng khó khăn hơn khi quân đội nước Srivijaya2 của người Java liên tục tấn công và lấn chiếm Thủy Chân Lạp vào nửa sau thế kỷ VIII. Chính điều này đã làm cho cả vương quốc Chân Lạp gần như lệ thuộc hoàn toàn vào Srivijaya2. Khó khăn chồng chất khó khăn, khi mà tình trạng chiến tranh giữa Chân Lạp và Chămpa diễn ra thường xuyên làm cho việc cai quản và khai phá vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều trở ngại. Chân Lạp lúc này chỉ dồn sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây.
Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, vùng đất Chân Lạp cường thịnh đã mở rộng lãnh thổ ra tận Nam Lào. Trong khi đó, dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất phía Nam không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở vùng này cũng không đậm nét. Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Chu Đạt Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ đã mô tả vùng đất này như sau: “Hầu hết là rừng thấp cây rậm.
Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây. 13 Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, nước Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương triều Ayuthaya hình thành vào giữa thế kỷ XIV. Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431), Ayuthaya liên tiếp tiến công Chân Lạp. Sang thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, rơi vào thời kì suy vong. Dưới tình trạng này, nước Chân Lạp hầu như không có khả năng kiểm soát, cũng như quản lý vùng đất còn ngập nước ở phía Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam ở thời điểm bấy giờ.
Trong bối cảnh Chân Lạp không đủ sức quản lý vùng đất phía Nam, từ đầu thế kỷ XVII, vùng đất Chân Lạp đã bắt đầu có lưu dân người Việt ở vùng đất Thuận – Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) đến khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt trên vùng này, tạo ra cho vùng đất này một cánh cửa tương lai tốt đẹp hơn. Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II. Từ đó, Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm. Đồng thời cư dân Việt ở vùng đất Nam Bộ cũng bắt đầu tự do khai khẩn đất, làm ăn sinh sống, tự tạo lập cuộc sống mới cho chính mình.
Năm 1623, khi mà cư dân Việt đã có mặt hầu khắp miền Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thuế. Đến năm 1628, sau cái chết của Chey Chetta II, chính quyền Chân Lạp bị chia rẽ, xuất hiện nhiều lỗ hổng, nhiều cuộc chiến đã diễn ra, điển hình là giữa các phe phái với nhau, với sự trợ giúp quân sự của một bên là nước Xiêm và một bên là chúa Nguyễn. Bối cảnh này vừa giúp cho người Việt có thể dễ dàng tiến hành khai phá những vùng đất hoang hoá ở đồng bằng sông Cửu Long vừa tạo điều kiện 14 cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp. Song song đó, cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong khoảng thời gian này cũng xuất hiện một số người trung thành với nhà Minh chống nhà Thanh đến tiến hành khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn ở vùng đất Nam Bộ, giúp đẩy nhanh quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ.
Vào năm 1708, để bảo vệ cư dân vùng đất Hà Tiên trước sự tiến công cướp bóc của người Xiêm vào thời điểm đó, Mạc Cửu đã xin và được nội thuộc vào triều đình chúa Nguyễn. Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cho đến năm 1757, đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn để đền ơn cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Qua đó, quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn thành.
Để thực thi chủ quyền, từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã tiến hành tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế. Năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1774, vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn.
Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, họ tiếp tục con đường sự nghiệp của các chúa Nguyễn. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lý trong cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam kỳ (vùng đất Nam Bộ ngày nay). Bên cạnh chính sách chính trị, quân sự, triều đình còn khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội, mở mang phát triển dinh điền, đồn điền, xây dựng thuỷ lợi, phát triển 15 giao thông, nâng cao đời sống của người dân ở một mức độ tốt hơn, phát triển hơn.
Như vậy, vùng đất phương Nam chính là nơi hợp lưu của nhiều lớp, nhiều dòng văn hóa. Xét về thời gian, Phù Nam, Khme rồi sau này là Việt, Hoa, Chăm đã tạo nên các lớp văn hóa nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau. Xét về không gian, có những vùng văn hóa tiếp giáp nhau, có khi giao nhau, hòa hợp vào nhau. Từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, Văn hoá Phù Nam rồi đến văn hoá Khmer vào thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, hai nền văn hóa này đã tiếp thu mạnh mẽ nền văn hoá Ấn Độ.
Tiếp đến là văn hoá Việt với sự kế thừa văn hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng. Đối với người Hoa, tuy rằng họ có mặt ở miền đất này muộn hơn nhưng vẫn kịp hình thành một nét văn hóa riêng độc đáo của chính mình, tô thêm cho bảng màu văn hóa miền Nam một màu sắc mới, sống động hơn, đẹp đẽ hơn. Sau người Hoa là người Chăm, họ cũng đã trở thành một thành viên không thể thiếu trong cộng đồng Việt Nam. Riêng đối với người Việt, khi tới đây khẩn hoang lập ấp, họ đã luôn trân trọng và cố gắng “làm sống lại những nền văn hóa thuộc cổ sử và sơ sử đã lắng sâu dưới lòng đất thấp” (dẫn theo Trần Nam Tiến, 2018).
Họ vừa giữ gìn được bản sắc đậm đà của văn hóa riêng mình, vừa ở tư thế kế thừa, đón nhận, giao lưu văn hóa với các dân tộc người Khmer, Chăm, Hoa. để cùng xây dựng một vùng văn hóa đặc sắc.