mở đầu bằng công trình của Vi Hồng nhà nghiên cứu người Tay, vào năm 1979 với Sli, lượn dân ca trữ tình Tày — Nùng [74], một công trình khảo cứu loại hình trữ tình. Tiếp tục hướng đi của Vi Hồng, Vũ Anh Tuan triển khai nghiên cứu truyện kế dân gian Tày, tức là đi vào lĩnh vực tự sự dân gian. Từ năm 1981 đến 1991, những bài báo của Vũ Anh Tuấn đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành từ nghiên cứu đầu tiên Thir tim hiểu nét đặc sắc về thi pháp dân gian Tay qua việc khảo sát một số truyện cô Tay dang Tam Cám [277], đến các chuyên luận Suy nghĩ về một số biểu tượng đặc thù trong truyện cô miễn nui [278], Van dé nghiên cứu và giảng dạy văn hoc dan gian miễn núi [279], Tìm hiểu một cặp mẫu ké dân gian miễn núi dưới góc độ loại hình [281]. Trong đó, tác giả luôn tuân theo một cơ sở lý luận chung dựa trên các nguyên lý nhận thức luận duy vật lịch sử về mối quan hệ lich sử dân tộc và nghệ thuật dân gian dé khang định một định hướng: loại hình học folklore không tách rời loại hình học lịch sử văn hoá tộc người [282, tr.
Nhận thức này đã kế thừa và góp phần phát triển kết quả những nghiên cứu về văn học dân gian miền núi của các tác giả đi trước như Phan Đăng Nhật, Võ Quang Nhơn. Năm 1987, Đặng Nghiêm Van bắt đầu công trình nghiên cứu Huyén thoại về nạn hông thuỷ và nguồn gốc tộc người [292, tr. Đây là một công trình được tiến hành trong hàng chục năm, có giá trị đích thực, có ý nghĩa sâu sắc trong việc xác định nguồn gốc tộc người và lý giải mối quan hệ văn hoá tộc người trên cơ sở dân tộc học và folklore. Chúng tôi coi những kiến giải khoa học cùng với những chứng cứ dân tộc học của ông trong công trình này như những luận đề cần thiết cho nghiên cứu của mình.
Năm 1990, lần đầu tiên phương pháp loại hình học đã được Lê Chi Qué giới thiệu và phân tích cụ thể thích ứng với đối tượng của khoa học văn học dân gian ở Việt Nam [221]. Sau đó trong một bài viết khác ông đã nhân mạnh "trong khoa học văn học dân gian ở thời đại chúng ta cần phải nghiên cứu cả quá trình lâu đài và phúc tạp, tính đa dạng của các biên thê tộc người, các giai đoạn lịch sử, các vùng 14 dân cư khác nhau" [192, tr. Quan diém đó cũng chính là cơ sở cho thao tác nghiên cứu của chúng tôi trong khi thực hiện so sánh đối chiếu để khảo sát, thâm định đánh giá những kiểu truyện dân gian Tay, Việt tiêu biểu với nhiều di bản trong các cau trúc mẫu ké xét theo các lớp văn hoá từ tang nền, tầng trên đến tang thêm. Năm 1991, sau hơn mười năm nghiên cứu văn học dân gian Tày, và sống ở những vùng văn hoá đậm chất Tày như Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng Bắc Cạn, Lạng Sơn.
Vũ Anh Tuấn đã khẳng định tính đặc sắc của văn học dân gian Tày, đặc biệt là truyện ké dân gian Tay trong luận án tiễn sĩ: Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện kề dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam[282]. Chuyên luận đã nêu bật ba vấn đề có tính nguyên tắc là: 1. Nghiên cứu truyện kế dân gian Tay không tách rời việc xem xét nó dưới góc độ loại hình các mối quan hệ văn hoá tộc người. Tính loại hình khu vực là một đặc điểm phô quát trong các tip truyện kê dân gian Tày, trong đó mối quan hệ Tày Việt có ý nghĩa điều hoà lớn.
Phương pháp khảo sát cụ thể văn học dân gian một tộc người xét đến cùng vẫn là phải nhận diện cho được dấu hiệu thấm mỹ đặc thù vì chức năng tộc người của văn hoá vẫn trực tiếp và bền bi tác động vào đời sống văn hoá một cộng đồng tộc người [282, tr. Công trình của Vũ Anh Tuấn đã xây dựng được những luận điểm quan trọng có tính gợi dẫn trong van đề nghiên cứu truyện ké dân gian đưới góc nhìn mối quan hệ văn hoá tộc người. Tuy nhiên, do khuôn khổ yêu cầu của đề tài, tác giả mới chỉ tập trung vào khảo sát đối tượng truyện kể dân gian Tày, hoặc nếu có so sánh Tày- Việt thì chỉ là một biện pháp để nhăm làm tăng tính chuyên biệt Tày. Bên cạnh Vũ Anh Tuấn còn có Hà Đình Thành, tác giả của loạt bài nghiên cứu so sánh truyện ké dân gian Tay Nùng [245 - 250].
Cũng trong lĩnh vực nghiên cứu truyện ké dân gian theo hướng so sánh loại hình văn hoá tộc người, sau đó đã xuất hiện nhiều bài nghiên cứu đáng chú ý như Thử xây dựng lại hệ thong huyền thoại Việt Mường [163] của Phan Ngọc, Tìm hiểu quan hệ giữa truyện dân gian của người Tay và người Thai cô với truyện dân gian 15 của người Việt của Đặng Việt Bích [1§], Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp tiếp cận văn hoá học của Phạm Đức Dương [39]; Can và phải tìm hiểu mẫu kể An Dương Vương trong mối quan hệ văn hoá Tày - Việt [283] của Vũ Anh Tuấn. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã khang định hướng nghiên cứu truyện ké dân gian Tày theo hướng tiếp cận loại hình quan hệ lịch sử - văn hoá tộc người như là một hướng di khoa học cần được tiếp tục triển khai sâu rộng hơn. Điểm qua những công trình nghiên cứu truyện ké dân gian của người Kinh (Việt) dưới góc độ so sánh quan hệ văn hoá - văn hoc dân gian, chúng ta không thể bỏ qua những mốc thời gian quan trọng sau: Từ những năm 60 của thế ky XX, cuộc trao đôi về truyện An Dương Vương và My Châu- Trọng Thủy như là những truyện ké dân gian đã đặt ra van đề nghiên cứu so sánh văn học dân gian. Năm 1968, Đinh Gia Khánh công bố chuyên luận Sơ bộ fìm hiểu những vấn dé của truyện cổ tích qua truyện Tam Cám [106].
Trong chuyên luận này, ông đã nhấn mạnh đến “tính đa dang của kiểu truyện này biểu hiện ra trong các di bản thuộc các môi trường lịch sủ- văn hóa khác nhau (ông đặc biệt phân biệt một dạng của truyện Tam Cám ở khu vực Đông Nam A và trong dang này ông lại cố gắng phân biệt những biến dạng khác nhau trong từng dân tộc hoặc tộc người) ”[31, tr. Với công trình này, khoa nghiên cứu văn hoc dân gian Việt Nam bước vao quĩ đạo của truyền thống nghiên cứu so sánh trong ngành folklore học thế giới. Đến những năm 70, Nguyễn Đồng Chi đã mô tả khá nhiều cốt truyện và các motif truyện cô tích trên thé giới trong Kho tang truyện cổ tích Việt Nam [21]. Phương pháp so sánh đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam làm chủ và vận dụng khá thành thục.
Khối lượng các công trình nghiên cứu truyện ké dân gian người Việt khá phong phú. Những năm 90 của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu theo hướng tìm hiểu thi pháp thể loại, nghiên cứu bản chất cội nguồn lịch sử và tiễn trình phát triển của truyện kể dân gian trong mối tương quan với nhiêu lĩnh vực folklore ở cả bê rộng lân bê sâu, của các tác giả Tăng Kim Ngân 16 với Cổ tích than kỳ người Việt đặc điểm cấu tạo cốt truyện [159], Nguyễn Thị Bích Hà với Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cô Việt Nam và Đông Nam A [54], Nguyễn Thị Huế với Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam [84]. Đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu của ba tác giả nữ viết khá nhiều về truyện ké dân gian người Việt (xin xem thư mục về các tác giả). Những công trình đó đã làm sáng tỏ nhiều van đề về văn hoá của người Việt cổ qua sự phân tích, giải mã các motif trong các kiểu truyện, kiểu nhân vật và đã cho chúng tôi nhiều gợi ý khi tiếp cận so sánh văn hoá giữa người Việt và người Tay.
Năm 2001, Nguyễn Tan Đắc cho xuất bản công trình Truyện kể dân gian đọc bằng type va motif [42]. Trong gần 300 trang, ông đã dành tới nửa số trang cho chuyên luận Đọc lai truyén T:am Cam ở Đông Nam A [42, tr. Can cu vao những ban kế ở dạng xa xưa nhất được sưu tầm từ cuối thế ky XIX, so sánh với những bản kế vào thé kỷ XX ở Việt Nam, ông đã tìm ra được sự khác biệt về cốt kể và một số motif quan trọng. Đặc biệt luận đề "sử dụng biện pháp nghiên cứu so sánh dựa trên type và motif của truyện để tìm hiểu sự giao lưu tương tác văn hoá giữa các dân tộc trong khu vực qua một truyện kể cụ thể” [42, tr.211] của ông đã làm cho hướng triển khai đề tài nghiên cứu của chúng tôi có thêm cơ sở lập luận.
Nhìn tổng quát, các công trình nghiên cứu truyện kể người Việt trong mấy chục năm qua đã vượt khỏi phạm vi mô tả đơn giản dé đạt đến trình độ nghiên cứu có lý thuyết và phương pháp rõ ràng. Tác giả Nguyễn Tan Đắc cho biết “ Mới bước vào lĩnh vực truyện ké dân gian, tôi thử làm hai điều, một là tìm hiểu mối quan hệ của truyện kế Việt Nam với khu vực Đông Nam A, và hai là thử đọc truyện kế bang type và motif”[42, tr. Có thé nói hướng đi và cách làm của ông tiêu biểu cho hướng đi khoa học của cả giới nghiên cứu trong việc tiếp cận truyện ké dân gian và thực sự có ý nghĩa cho luận án của chúng tôi. Lịch sử vấn đề nghiên cứu so sánh văn hóa Tày Việt từ góc độ văn hóa tộc người, lịch sử nghiên cứu truyện kế dân gian Tày, Việt để lại những bài học sâu sắc về nhiều phương diện cho những ai tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu này.
Nhưng phải nói ngay rang, van còn thiêu những công trình chuyên sâu đặt vân dé so sánh 17 truyện kể dân gian Tay, Việt từ góc nhìn văn hóa tộc người, trong bối cảnh Đông Nam Á, ứng dụng cách đọc bằng type và motif. Nhiệm vụ của luận án chúng tôi là góp phần làm đầy mảng trống đó. Xét mối quan hệ văn hoá Tày - Việt trên toàn bộ hệ thống tiếp cận như lịch sử nghiên cứu đã được tóm lược trên đây chính là mục đích của luận án “Mối quan hệ văn hoá Tay Việt dưới góc độ tham mỹ qua một số kiểu truyện dân gian cơ bản”. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3.
Mục đích nghiên cứu: 3.