phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài. Chƣơng 2: “Một tiếng đờn” và “Ta với ta” - chặng đƣờng mới trong nghiệp thơ của Tố Hữu. Chƣơng 3: Những yếu tố của thi pháp văn học dân gian trong “Một tiếng đờn” và “Ta với ta” 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 1.
Thi pháp Trong chuyên luận “Thi pháp thơ Tố Hữu”, GS. Trần Đình Sử khẳng định “Thi pháp là câu chuyện về hình thức bên trong, hình thức mang tính quan niệm, có tác dụng mở đường cho những cách nhìn, cách biểu hiện và sáng tạo ngôn ngữ. Đó là đặc điểm của thi ca xét trên phương diện chủ thể, tính chỉnh thể và hệ thống” [33, tr.11] Nói rõ hơn thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp là nguyên tắc bên trong, vốn có của sáng tạo nghệ thuật, hình thành cùng nghệ thuật.
Thi pháp học Thi pháp học là một yếu tố quan trọng giúp người đọc nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm nhờ việc đã nắm bắt được các công cụ để tìm hiểu văn bản nghệ thuật đã kể trên. Nhưng khác với việc xem xét hình thức văn học như những hiện tượng ngẫu nhiên, rời rạc thì thi pháp học đòi hỏi nghiên cứu hình thức nghệ thuật cũng như những hiện tượng có quy luật. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa bao quát được hết nội hàm của khái niệm “Thi pháp học”. Tuy nhiên, các định nghĩa khác nhau luôn có điểm chung ở một phạm vi nhất định của bộ môn chuyên ngành này là nghiên cứu hình thức và ngôn ngữ của văn học.
Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (tức là văn học) như là một nghệ thuật, là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mĩ được sử dụng trong đó. Trong cách hiểu rộng hơn, thi pháp học trùng với lí luận văn học, khi hiểu hẹp thì trùng với nghiên cứu ngôn ngữ thơ hay ngôn từ nghệ thuật. Thi pháp học đại cương nghiên cứu các phương thức có thể có trong việc thể hiện cấu tứ nghệ thuật của nhà văn văn và các quy tắc kết hợp, các phương thức phụ thuộc vào thể loại, loại hình văn học. Các phương tiện nghệ thuật có thể được phân loại theo các cấp độ khác nhau giữa cấu tứ 7 nghệ thuật, coi như cấp độ cao nhất và sự thể hiện cuối cùng của văn bản ngôn từ.
Thi pháp học miêu tả đặt mục đích tái hiện con đường từ cấu tứ đến văn bản cuối cùng, qua đó nhà nghiên cứu có thể hoàn toàn thâm nhập vào cấu tứ của tác giả. Ở đây, các cấp độ và bộ phận của tác phẩm được xem xét như một chỉnh thể. Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự phát triển của các biện pháp nghệ thuật riêng lẻ (định ngữ, ẩn dụ, vần,…); nghiên cứu các phạm trù (thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, các đối lập cơ bản), cũng như cả hệ thống các thủ pháp hay phạm trù vốn có của những thời đại văn học; Thi pháp học - khoa học về hệ thống các phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học. Trong nghĩa rộng thi pháp học trùng với lí luận văn học, trong nghĩa hẹp trùng với một trong các lĩnh vực của thi pháp lí thuyết.
Là lĩnh vực của lí luận văn học, thi pháp học nghiên cứu đặc trưng của các loại hình, thể loại văn học, các dòng và trào lưu, các phong cách, phương pháp, nghiên cứu quy luật liên hệ nội tại và tương quan các cấp độ của chỉnh thể nghệ thuật. Bởi vì tất cả các phương tiện biểu hiện trong văn học suy đến cùng đều quy về ngôn ngữ, vì thế có thể định nghĩa thi pháp học như là khoa học nghiên cứu cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ. Văn bản ngôn từ của tác phẩm là hình thức tồn tại vật chất duy nhất của nội dung. Mục đích của thi pháp học là chỉ ra và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản tham gia vào việc tạo thành ấn tượng thẩm mĩ của tác phẩm.
Thông thường người ta phân biệt thi pháp học đại cương (hay lí thuyết), thi pháp học bộ phận (miêu tả) và thi pháp học lịch sử; Thi pháp học là khoa học về các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học. Nó muốn bao quát không chỉ ngôn từ thơ, mà còn cả các khía cạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian. Nhiệm vụ của thi pháp học là nghiên cứu phương thức cấu tạo của tác phẩm văn học. Đối tượng của thi pháp học là các sáng tác có giá trị.
Phương pháp nghiên cứu thi pháp là tiến hành miêu tả, phân loại và giải thích các hiện tượng được nghiên cứu”. 8 Từ các định nghĩa trên, ta thấy thi pháp học chủ yếu là một lĩnh vực nghiên cứu về đặc trưng, tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn bản. Đó là lĩnh vực nghiên cứu quy luật nội tại của tác phẩm, cấu tạo và phong cách, nó phân biệt (chứ không đối lập) với các lĩnh vực nghiên cứu khác. Thi pháp về thực chất là hệ thống ngôn ngữ (kí hiệu) nghệ thuật, mang tính mở.
Thi pháp học bao gồm các bộ phận lí thuyết, miêu tả và lịch sử, gồm cả phong cách học, và ngày nay bao gồm cả tự sự học, tu từ học - mỗi bộ phận có đối tượng riêng, nhưng đều không ra ngoài phạm vi nói trên. Có nhà nghiên cứu đã ví thi pháp của văn học như là ngữ pháp trong ngôn ngữ, cho đến nay đã có nhiều lí thuyết và cách miêu tả ngữ pháp, nhưng không có một lí thuyết duy nhất miêu tả đầy đủ, trọn vẹn về ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể nào. Tình hình đó cũng giống như thi pháp học. Theo các nhà nghiên cứu Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi thì “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.
Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật. Khi nghiên cứu về thi pháp, chúng ta có thể tìm hiểu về đặc trưng thể loại, phương pháp, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ, các biện pháp ngữ âm (ngữ âm, từ vựng và hình tượng) trong tác phẩm để tìm hiểu sự tác động của nó đến các sáng tác văn học” [35, tr. Nguyễn Xuân Kính, hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Có thể hiểu, thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật - không gian - thời gian, kết cấu - 9 cốt truyện - điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính nội dung”.
Thi pháp văn học dân gian Theo các nhà nghiên cứu Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi thì "Văn học dân gian còn gọi là văn chương (hay văn học) bình dân, văn chương truyền miệng hay truyền khẩu là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân" [13, tr. Văn học dân gian có nhiều đặc điểm và thuộc tính quan trọng, đáng chú ý như tính truyền miệng, tính nguyên hợp, tính tập thể, tính vô danh. trong đó tính truyền miệng được coi là thuộc tính quan trọng nhất, có quan hệ nhiều nhất với các thuộc tính và đặc điểm khác của văn học dân gian. Văn học dân gian cùng với văn học viết đã góp phần tạo thành nền văn học của dân tộc và giữa chúng có mối quan hệ ảnh hưởng qua lại.
Tác phẩm văn học dân gian khi tồn tại ở dạng văn bản chữ viết, nó có nhiều nét chung với văn học viết. Điều đó có nghĩa là nghiên cứu thi pháp văn học dân gian vẫn phải dựa vào lí luận, phương pháp, khái niệm công cụ của thi pháp văn học nói chung. Tuy văn học viết và văn học dân gian có điểm giống nhau nhưng nếu chúng ta xét kĩ thì văn học dân gian vẫn có những nét đặc thù mà văn học viết không có được. Văn học dân gian là sản phẩm mà ngôn từ làm chất liệu cơ bản, nhưng nó không chỉ có yếu tố ngôn từ mà còn kết hợp với nhiều yếu tố của văn nghệ dân gian như: nhạc, vũ đạo, biểu diễn,… và các thành phần phi nghệ thuật khác, gắn với môi trường diễn xướng, quá trình hình thành, tồn tại, lưu truyền và biến đổi của nó.
Vì thế, nếu tách một tác phẩm văn học dân gian khỏi môi trường diễn xướng, sinh hoạt của nó thì tác phẩm đó không có ý nghĩa, chỉ còn là một cái xác khô cứng. Trước hết, khi nói đến thi pháp văn học dân gian là phải nói đến những đặc điểm của hình thức, những cách thức thể hiện và biểu hiện riêng của từng nghệ nhân, của đặc điểm dân tộc Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu xem ý kiến của nhà nghiên cứu Folklore Chu Xuân Diên như một định nghĩa. Theo ông, “Thi pháp văn 10 học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ thật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người”.