Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Văn học dân gian, mã số: 62.01) của nghiên cứu sinh Triệu Văn Thịnh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế và PGS.TS Đỗ Hồng Kỳ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2015), tập trung khảo sát đề tài "Hệ thống nhân vật trong sử thi M'nông và vấn đề thể loại".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sử thi dân gian là thể loại mang tính nguyên hợp cao, lưu giữ các giá trị văn học nghệ thuật cùng nguồn tư liệu lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của xã hội cổ truyền. Tại khu vực Tây Nguyên, việc sưu tầm sử thi bắt đầu từ thời kỳ viên công sứ Pháp Léopold Sabatier công bố bản dịch sử thi Đăm Săn tại Paris, tiếp theo là công trình của Dominique Antomarchi và Georges Condominas (1955) công bố sử thi Đăm Di. Ở Việt Nam, sau bản dịch Bài ca chàng Đăm Săn của Đào Tử Chí (1957) và tập Trường ca Tây Nguyên (1963), công tác sưu tầm, dịch thuật và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên có bước tiến lớn từ năm 2001 đến năm 2007 thông qua Dự án cấp nhà nước: Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì.

Riêng với sử thi M'nông (Ot Ndrong), tác phẩm được phát hiện chính thức năm 1988 tại buôn Bu Đơp, xã Đắk Mol, huyện Đắk Mil (nay thuộc huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông). Trong khuôn khổ dự án nêu trên, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm, ghi âm 215 bản hát kể, khảo sát gần 100 nghệ nhân và xuất bản được 26 tác phẩm (với 32 tập sách song ngữ M'nông – Việt do nghệ nhân Điều Kâu dịch). Tuy nhiên, các công trình trước đó chủ yếu tập trung vào các vấn đề đại cương hoặc phân tích một số tác phẩm riêng lẻ. Vấn đề nhận diện và định danh tiểu loại cho Ot Ndrong vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau: một số ý kiến xếp vào sử thi thần thoại, số khác nhận định là sử thi phổ hệ, sử thi sáng thế, sử thi chuỗi hoặc sử thi anh hùng. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình khảo sát toàn diện hệ thống nhân vật trong toàn bộ các tác phẩm đã xuất bản, từ đó làm căn cứ xác định đặc trưng thể loại của sử thi M'nông.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát một cách có hệ thống thế giới nhân vật trong sử thi M'nông để làm rõ các thủ pháp nghệ thuật và quan niệm thẩm mỹ của tộc người; từ đó cung cấp các luận cứ khoa học nhằm xác định đặc trưng và tiểu loại thể loại của sử thi Ot Ndrong.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể loại sử thi và tổng quan các công trình nghiên cứu về văn hóa, sử thi M'nông.
    2. Khảo sát, phân loại và phân tích toàn diện các tuyến nhân vật trong 32 tác phẩm sử thi M'nông đã xuất bản theo cấu trúc không gian ba tầng vũ trụ.
    3. Phân tích các đặc trưng về môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, thi pháp cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và cơ sở xã hội để xác định tiểu loại thể loại của Ot Ndrong.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống nhân vật và đặc trưng thể loại của sử thi M'nông (Ot Ndrong).
  • Phạm vi tư liệu: Khảo sát toàn bộ 32 tác phẩm sử thi M'nông đã được xuất bản thành sách song ngữ (thuộc kết quả của Dự án Tây Nguyên do nghệ nhân Điều Kâu chuyển ngữ). Trong đó, luận án đi sâu phân tích các tác phẩm tiêu biểu như: Bông, Rong và Tiăng; Đẻ Tiăng; Đẻ Lêng; Lêng nghịch da thần của Yang; Mùa ray bon Tiăng; Cây nêu thần; Đi giành lại đàn Ndring; Cướp chiêng cổ bon Tiăng; Cướp Djăn, Dje; Con diều lá cướp Bing con Jri; Bắt con lươn ở suối Dak Hũch; Yang bán Bing con Lông; Cướp Bũng con Klêt; Sung, Trang con Mũng thăm Tiăng; Tiăng giành lại bụi tre lồ ô.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Không gian cư trú truyền thống của người M'nông tại các tỉnh Tây Nguyên (trọng tâm là Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước) và các văn bản sử thi được sưu tầm, công bố từ năm 1988 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Giai đoạn trước năm 1988:
    • Nghiên cứu dân tộc học của học giả Pháp: Georges Condominas tiến hành điền dã năm 1947–1948 tại người M'nông Gar (huyện Lắk, Đắk Lắk), xuất bản công trình Chúng tôi ăn rừng (1957; bản tiếng Việt năm 2003). Tác giả có nhắc tới hình thức truyện kể noo proo và định danh là anh hùng ca (épopée), song chưa đi sâu nghiên cứu văn bản học.
    • Các ghi nhận bước đầu ở Việt Nam: Võ Quang Nhơn trong luận án phó tiến sĩ (1981) và cuốn sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (1983) đã liệt kê một số tên tác phẩm như Pam Broi, Chàng Trăng. Bế Viết Đẳng và cộng sự trong sách Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Đắk Lắk (1982) đề cập hình thức N'koc yao nhưng có sự đồng nhất giữa kể gia phả với sử thi.
  2. Giai đoạn từ năm 1988 đến 2000:
    • Năm 1988, đoàn công tác của Viện Văn hóa dân gian (gồm Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải) phối hợp với Nguyễn Tấn Đắc khảo sát tại xã Đắk Mol, huyện Đắk Mil và chính thức ghi nhận thể loại sử thi qua lời kể của các nghệ nhân bản địa và bản dịch của nghệ nhân Điều Kâu.
    • Nghiên cứu của Đỗ Hồng Kỳ: Năm 1990, tác giả công bố bài viết Ot Nrông - sử thi cổ sơ Mơ Nông trên Tạp chí Văn hóa dân gian (số 3). Năm 1993, bài viết Cốt truyện và nhân vật trong sử thi nrông của người M'nông (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1) phân tích kết cấu cốt truyện liên hoàn. Năm 1994, tác giả bảo vệ luận án Phó tiến sĩ và xuất bản sách Sử thi thần thoại M'nông (1996), khẳng định Ot Ndrong là sử thi thần thoại.
    • Nghiên cứu của Phan Đăng Nhật: Năm 1998, tác giả công bố bài Ot Nrông - một bộ sử thi phổ hệ đồ sộ mới được phát hiện (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3) và cuốn sách Vùng sử thi Tây Nguyên (1999), đưa ra quan điểm Ot Ndrong là sử thi phổ hệ.
  3. Giai đoạn từ năm 2001 đến 2015:
    • Các công trình tiếp tục của Đỗ Hồng Kỳ: Sách Những khía cạnh văn hoá dân gian M'nông Nong (2001), hai bài báo năm 2002 trên Tạp chí Văn hóa dân gian (số 4 và số 5), và cụm công trình Văn học dân gian Êđê, Mơ Nông (2008) hợp tác cùng Điều Kâu sơ đồ hóa dòng dõi mẹ Chau và hệ thống nhân vật.
    • Nghiên cứu của Ngô Đức Thịnh: Bài viết Sử thi Tây Nguyên - phát hiện và các vấn đề (2002) và Tính thống nhất và đa dạng của sử thi Tây Nguyên (2008), xếp sử thi Tây Nguyên vào loại hình sử thi cổ sơ (épopée archaïque), nhấn mạnh tính sáng thế đậm nét.
    • Nghiên cứu của Bùi Thiên Thai (2005): Khảo sát tác phẩm Con đỉa nuốt bon Tiăng (Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3), nhận định tác phẩm này thuộc tiểu loại sử thi anh hùng; đồng thời phân biệt thuật ngữ "chuỗi sử thi" (epic cycle) với "sáng tác liên hoàn" (ring composition), cho rằng thuật ngữ sử thi phổ hệ chưa hoàn toàn phù hợp với sử thi M'nông.
    • Nghiên cứu của Trần Thị An (2006): Giới thiệu tác phẩm Rôch, Rông bắt hồn Lêng (Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2), phân tích tính chất thô sơ trong miêu tả hành động chiến đấu và vũ khí.
    • Phân loại tại Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam (tháng 10/2008 tại Buôn Ma Thuột): Học giả Triều Qua Kim (Trung Quốc) giới thiệu các mô hình phân loại: sử thi truyền miệng dân gian, sử thi do văn nhân sáng tác, và sử thi chuẩn ghi chép thành sách (Kalevala); cùng cách phân chia theo nội dung (sáng thế, thiên di, anh hùng).
    • Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009): Khảo sát hệ thống nhân vật anh hùng qua 9 tác phẩm, xếp sử thi M'nông vào tiểu loại sử thi cổ sơ – thiết chế xã hội.
    • Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2011/2012): Luận án tiến sĩ Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong, vận dụng lý thuyết công thức truyền thống để phân tích cấu trúc tự sự, quá trình văn bản hóa và mối quan hệ giữa nghệ nhân với diễn xướng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng hợp các ý kiến trên cho thấy sự phân hóa rõ rệt trong việc xác định tiểu loại của Ot Ndrong (sử thi thần thoại, sử thi sáng thế, sử thi thiết chế xã hội, sử thi anh hùng, sử thi phổ hệ hay chuỗi sử thi). Bằng việc mở rộng phạm vi khảo sát lên toàn bộ 32 tác phẩm đã in và bao quát đầy đủ hệ thống nhân vật theo các không gian ba tầng, luận án làm sáng tỏ đặc trưng thi pháp nghệ thuật và cơ sở xã hội để chứng minh Ot Ndrong thuộc tiểu loại sử thi thần thoại (loại hình sử thi cổ sơ).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Lý thuyết thể loại sử thi dân gian: Luận án vận dụng các khái niệm về tính nguyên hợp của văn học dân gian; phân biệt loại hình sử thi cổ sơ (épopée archaïque) và sử thi cổ điển/cổ đại (épopée antique); phân loại theo đề tài giữa sử thi sáng tạo thế giới (sử thi sáng thế / thần thoại) và sử thi thiết chế xã hội (sử thi anh hùng); phân loại theo cấu trúc giữa sử thi đơn hệ, sử thi chuỗi và sử thi phổ hệ.
  • Quan niệm bản địa về Ot Ndrong: Khảo sát khái niệm Ot Ndrong theo ngôn ngữ và tư duy của người M'nông (các nhóm Preh, Nong, Biăt...), trong đó Ot gắn liền với hình thức kể/hát bằng văn vần có giai điệu, Ndrong chỉ những câu chuyện cổ xưa về dòng họ, buôn làng và thần linh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt toàn bộ 32 văn bản sử thi đã xuất bản trong một chỉnh thể thống nhất để lập danh mục, sơ đồ và khảo sát mạng lưới nhân vật.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Lập bảng phân loại các nhóm nhân vật theo chức năng (khai thiên lập địa, anh hùng văn hóa, anh hùng chiến trận, thần linh, người đẹp, đối lập, cộng đồng, truyền tin) và theo không gian ba tầng.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại các bon làng M'nông thuộc tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk để tìm hiểu môi trường diễn xướng, tập quán mẫu hệ và sự vận hành của luật tục trong đời sống hiện nay.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh thi pháp và nhân vật của sử thi M'nông với sử thi Êđê (Đăm Săn), Ba Na (Dăm Noi), và sử thi thế giới (Manas của người Kirghiz, Iliad, Mahabharata).
  • Phương pháp phân tích văn học: Phân tích kết cấu cốt truyện, hành vi nhân vật, các biểu tượng nghệ thuật và ngôn ngữ trần thuật.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức của văn học dân gian, dân tộc học, nhân chủng học và văn hóa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản 32 tập sử thi M'nông song ngữ xuất bản trong khuôn khổ Dự án bảo tồn sử thi Tây Nguyên do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì.
  • Số liệu nhân khẩu học từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục Thống kê.
  • Tư liệu điền dã thực tế ghi chép tại các bon Bu Prâng, Bu N'Drung Lu (huyện Đắk Song), vùng Nâm Nung, Nâm N'Jang và Quảng Trực (tỉnh Đắk Nông).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương này phác thảo bức tranh toàn diện về bối cảnh dân tộc học, đời sống văn hóa của người M'nông, đặc trưng của thể loại Ot Ndrong và lịch sử nghiên cứu lý luận sử thi.

  • Khái quát về dân tộc M'nông:
    • Dân số và địa bàn cư trú: Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, người M'nông có 102.741 người tại Việt Nam, tập trung đông nhất tại tỉnh Đắk Nông (39.964 người, chiếm 38,9%) và tỉnh Đắk Lắk (40.344 người, chiếm 39,3%). Ngoài ra còn phân bố tại Lâm Đồng (9.099 người), Bình Phước (8.599 người), Quảng Nam (4 người) và trên 20.000 người sinh sống tại tỉnh Mondulkiri (Campuchia).
    • Thành phần tộc người và ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer (nhánh Ba Na phía Nam), loại hình nhân chủng Indonesien (tiểu chủng Đông Nam Á). Gồm nhiều nhóm địa phương: Preh (nhóm chuẩn ngôn ngữ), Nong, Biăt, Bu Nor, R'ong, R'lâm, Chil, Kuênh...
Tiêu chí Đặc điểm văn hóa - xã hội truyền thống của người M'nông
Kinh tế Canh tác nương rẫy luân khoảnh, cây trồng chính là lúa rẫy; săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
Cư trú Nhà trệt dài (60–70m) kết cấu vì cột, không có kèo; cửa chính mở hướng Đông.
Tổ chức xã hội Đơn vị hành chính duy nhất là bon (làng); đứng đầu là Bu ranh bon; theo chế độ mẫu hệ.
Luật tục Điều tiết mọi quan hệ xã hội; xét xử phạt vạ nghiêm minh (phạt trâu, bò, lợn, rượu, tiền).
Tín ngưỡng Vạn vật hữu linh; quan niệm vũ trụ ba tầng; lễ hội lớn nhất là lễ đâm trâu (Tam ngêt) vào tháng 3.
  • Đặc điểm văn hóa và luật tục: Luận án dẫn chứng các vụ việc xử lý luật tục thực tế tại huyện Đắk Song do già làng Ma Ngọc (bon Bu Prâng) và Ma Giêm (bon Bu N'Drung Lu) chủ trì để chứng minh sức sống của thiết chế luật tục đối với việc duy trì trật tự cộng đồng (vụ kiện ngoại tình năm 1998, vụ phạt vạ sinh con không hôn thú năm 1997, và vụ phạt hủy hôn ước năm 2004).
  • Kho tàng văn học dân gian và sử thi Ot Ndrong: Kho tàng truyện kể dân gian M'nông có tính giao thoa cao giữa thần thoại, truyền thuyết và cổ tích. Sử thi Ot Ndrong đóng vai trò như một "bách khoa thư" dân gian, phản ánh vũ trụ quan ba tầng: tầng trời (ka lơ trôk), tầng mặt đất (ka lơ neh) và tầng dưới mặt đất (tăm nâm neh). Ngôn ngữ sử thi sử dụng triệt để hình thức nói vần, văn vần, các công thức miêu tả ước lệ và hệ thống so sánh gắn với thế giới tự nhiên.

Chương 2. Hệ thống nhân vật trong sử thi M'nông

Chương 2 là nội dung trọng tâm của luận án, tiến hành giải phẫu toàn diện thế giới nhân vật trong 32 tác phẩm sử thi đã xuất bản, phân loại thành 8 nhóm chức năng phân bố trên không gian ba tầng vũ trụ:

                          KHÔNG GIAN BA TẦNG VŨ TRỤ
  • Nhân vật khai thiên lập địa: Gồm hai nhân vật sáng thế Bong và Rong, thực hiện việc kiến tạo mặt đất, bầu trời và muôn loài từ thuở hồng hoang.
  • Nhân vật anh hùng văn hóa: Gồm Bong, Rong và đặc biệt là Tiăng con Rong. Tiăng là người có công khai phá đất đai, dẫn dắt dân làng trồng lúa, làm nương, thuần dưỡng muông thú và thiết lập trật tự buôn làng.
  • Nhân vật anh hùng chiến trận: Phân bố trên cả ba tầng vũ trụ, trong đó tập trung dày đặc nhất ở tầng mặt đất (ka lơ neh):
    • Nhóm bon Tiăng: Tiăng, Tang, Bêh, Bôp, Klôp, Nhông, Lêng, Yang, Khai, Mai, Nté, Ndal (con mẹ Dũm); Mbong (con Tiăng).
    • Nhóm các bon khác ở mặt đất: Các dũng sĩ của bon Ndu, bon Buông, bon Luơng, bon Song...
    • Ở tầng trời (ka lơ trôk): Ndu, Yang, Yơng, Kong, Sung, Krông, Bách, Bai, Sơ Vân con Kuăch...
    • Ở tầng dưới mặt đất (tăm nâm neh): Ting, Mbong, Sương, Krông, Kra, Tung, Lông...
  • Nhân vật thần linh / thần kỳ: Lực lượng siêu nhiên can thiệp trực tiếp vào sinh hoạt và chiến trận của con người:
    • Nữ thần Lêt, Mai con Jri; các thần Ting, Mbong con Jri; thần Srôt, Srâng con Unh; thần sấm sét, thần đá, thần núi, thần sông, vực nước, thần chiêng Krông Bông.
  • Nhân vật người đẹp: Đóng vai trò là nguyên nhân khởi phát các biến cố, xung đột chiến trận: Bing con Lông, Brai con Yon, Yui con Kam, Pol con Bưr, Djăn, Dje con Duih, Kông, Bong, Dum, Brah con Bông, Bũng con Klêt, Bing con Klêt...
  • Nhân vật đối lập: Các tù trưởng bon khác xâm nhập bon Tiăng cướp của cải, bắt phụ nữ hoặc các thế lực dị thường như mẹ con Ung khổng lồ, quái vật nuốt buôn làng.
  • Nhân vật cộng đồng: Toàn thể dân làng của các bon, không mang tính cách cá nhân hóa mà xuất hiện như một khối thống nhất ủng hộ, tiếp sức cho thủ lĩnh.
  • Nhân vật truyền tin: Sưp, Sưr con Trỗ; Chăt, Chang con Liang Khiêr Kuh; nàng Djăn; thần Krông, Dong; thần Trô Bưr... giữ nhiệm vụ liên lạc, cảnh báo nguy cơ cho buôn làng.

Hành động của các nhân vật anh hùng trong Ot Ndrong mang đậm tính chất cổ sơ: các động tác giao tranh được miêu tả thuần túy bằng sức mạnh cơ bắp thô sơ (vật, đè, ôm, đẩy tay, móc chân, lôi, ôm dính) và sử dụng vũ khí sinh hoạt thường nhật (chài, đơm, dây thừng, bùa ngải, biến hình thành trâu húc nhau) cùng sự trợ giúp mang tính quyết định của thần linh.


Chương 3. Vấn đề thể loại của sử thi M'nông

Chương 3 tổng hợp các bình diện thi pháp, môi trường diễn xướng và cơ sở xã hội để làm rõ đặc trưng thể loại của Ot Ndrong.

  • Môi trường diễn xướng và chức năng sinh hoạt: Sử thi M'nông được diễn xướng trong không gian nhà dài trệt, bên bếp lửa vào ban đêm, gắn với các dịp lễ hội nông nghiệp (mừng lúa mới), lễ đâm trâu hoặc các sự kiện cộng đồng. Người nghe tiếp nhận câu chuyện vừa để giải trí, vừa để củng cố niềm tin tâm linh đối với các đấng siêu nhiên bảo trợ buôn làng.
  • Cấu tạo đề tài và cốt truyện: Đề tài sử thi M'nông xoay quanh các biến cố: khai hoang lập bon, bảo vệ của cải (đàn voi, trâu bò, bụi tre lồ ô, chiêng cổ), cướp lại người đẹp hoặc chống trả các cuộc xâm lấn. Cốt truyện có kết cấu liên hoàn / kết cấu chuỗi: điểm xuất phát luôn từ bon Tiăng, các nhân vật ra đi thực hiện nhiệm vụ rồi trở về bon Tiăng mở tiệc uống rượu, mổ trâu tạ ơn thần linh.
  • Cách thức xây dựng nhân vật: Nhân vật chưa có sự đào sâu nội tâm hay phân hóa tâm lý phức tạp; hành động tuân theo bản năng tự nhiên và chuẩn mực danh dự của thị tộc; ranh giới giữa người và thần linh rất mờ nhạt, nhân vật luôn có thần linh hộ mệnh đi cùng.
  • Cơ sở xã hội và khẳng định thể loại: Luận án chỉ rõ xã hội phản ánh trong Ot Ndrong là xã hội công xã thị tộc mẫu hệ cổ sơ, chưa xuất hiện sự phân hóa giai cấp hay xung đột mang tính chất nhà nước/quốc gia. Các cuộc chiến tranh chỉ là giao tranh giữa các gia tộc để bảo vệ danh dự và thực thi luật tục. Do đó, luận án kết luận: Sử thi M'nông (Ot Ndrong) thuộc tiểu loại sử thi thần thoại (nằm trong loại hình sử thi cổ sơ), mang đậm yếu tố sáng thế và tư duy nguyên hợp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  1. Hệ thống hóa toàn diện thế giới nhân vật: Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tiến hành phân loại, thống kê và mô tả có hệ thống toàn bộ các tuyến nhân vật trong 32 tác phẩm sử thi M'nông đã xuất bản theo cấu trúc không gian ba tầng vũ trụ, khắc phục tình trạng nghiên cứu cục bộ, đơn lẻ ở các giai đoạn trước.
  2. Giải quyết vấn đề phân loại thể loại: Cung cấp hệ thống luận cứ chặt chẽ về thi pháp, cốt truyện, hành vi nhân vật, môi trường diễn xướng và cơ sở xã hội công xã thị tộc để khẳng định Ot Ndrong là sử thi thần thoại thuộc loại hình sử thi cổ sơ, góp phần khép lại những tranh luận học thuật kéo dài về việc coi Ot Ndrong là sử thi anh hùng hay sử thi phổ hệ.
  3. Làm sáng tỏ tính nguyên hợp và thi pháp cổ sơ: Chứng minh tính chất thô sơ, hồn nhiên trong nghệ thuật trần thuật của nghệ nhân M'nông thông qua hệ thống hành động cơ bắp, vũ khí sinh hoạt và vai trò can thiệp trực tiếp của thần linh trong chiến trận.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn cảnh về đời sống văn hóa, phong tục, cấu trúc bon làng và luật tục M'nông qua các cứ liệu điền dã thực tế.
  2. Tạo dựng hệ thống tư liệu tra cứu chuẩn xác cho chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa dân gian Tây Nguyên.
  3. Đề xuất cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý văn hóa địa phương hoạch định chính sách bảo tồn, lưu giữ di sản sử thi trong bối cảnh văn hóa truyền thống đang biến đổi nhanh chóng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi khảo sát văn bản dừng lại ở 32 tác phẩm đã được xuất bản thành sách (do nghệ nhân Điều Kâu chuyển ngữ), trong khi kho tàng ghi âm của Dự án còn lưu giữ hàng trăm bản kể chưa được dịch thuật và công bố trọn vẹn.
    • Tính chất phổ hệ mới chỉ được kiểm chứng qua hai thế hệ chính (thế hệ mẹ Rơng/mẹ Chau và thế hệ Tiăng, Lêng; thế hệ thứ ba mới chỉ xuất hiện nhân vật Mbong), do đó cần thêm tư liệu văn bản khi toàn bộ các tác phẩm còn lại được dịch thuật đầy đủ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục khảo sát, đối chiếu khi các bản dịch sử thi M'nông mới được xuất bản nhằm kiểm chứng tính bao quát của mô hình phân loại nhân vật.
    • Ứng dụng lý thuyết công thức truyền thống để xây dựng hồ sơ hệ thống công thức ngôn ngữ trần thuật của Ot Ndrong, phục vụ việc truyền dạy sử thi cho thế hệ trẻ tại địa phương.
    • Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng và môi trường diễn xướng sử thi tại các bon làng M'nông trước tác động của đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Ngôn ngữ học.
    • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam và sử thi học Đông Nam Á.
    • Nhà quản lý văn hóa và cán bộ chính sách: Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại các tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, Bình Phước, Lâm Đồng trong việc xây dựng hồ sơ bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo trực tiếp:
    • Chương 2 và Phụ lục 3: Bảng danh mục và phân loại chi tiết các nhân vật theo ba tầng vũ trụ.
    • Chương 1: Các tư liệu điền dã dân tộc học về nhà dài, chế độ mẫu hệ và các biên bản xử kiện bằng luật tục thực tế tại Đắk Song.
    • Chương 3: Hệ thống tiêu chí phân định thể loại sử thi cổ sơ và sử thi thần thoại.

Câu hỏi thường gặp

1. Dân số và địa bàn cư trú chính của người M'nông tại Việt Nam được luận án ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được luận án trích dẫn, người M'nông tại Việt Nam có tổng cộng 102.741 người. Tộc người này cư trú tập trung chủ yếu tại hai tỉnh Đắk Lắk (40.344 người, chiếm 39,3%) và Đắk Nông (39.964 người, chiếm 38,9%). Các địa phương khác có người M'nông sinh sống gồm Lâm Đồng (9.099 người), Bình Phước (8.599 người) và Quảng Nam (4 người). Ngoài ra có khoảng hơn 20.000 người sinh sống tại tỉnh Mondulkiri thuộc Campuchia.

2. Dự án điều tra, sưu tầm sử thi Tây Nguyên (2001–2007) đã đạt được những kết quả cụ thể nào đối với sử thi M'nông?

Trong khuôn khổ dự án cấp nhà nước do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, các nhà nghiên cứu đã xác định gần 100 nghệ nhân hát kể sử thi M'nông, sưu tầm và ghi âm được 215 bản hát kể Ot Ndrong. Dự án đã tổ chức biên dịch, biên tập và xuất bản được 26 tác phẩm sử thi M'nông với quy mô 32 tập sách song ngữ M'nông – Việt, toàn bộ do nghệ nhân Điều Kâu phiên dịch.

3. Hệ thống nhân vật trong sử thi M'nông được luận án phân chia thành các nhóm nào?

Luận án kế thừa và phân loại toàn bộ nhân vật trong 32 tác phẩm đã in thành 8 nhóm chức năng:

  1. Nhân vật khai thiên lập địa (Bong và Rong).
  2. Nhân vật anh hùng văn hóa (Bong, Rong, Tiăng con Rong).
  3. Nhân vật anh hùng chiến trận (phân bố ở cả ba tầng: tầng trời, tầng mặt đất và tầng dưới đất).
  4. Nhân vật thần linh / thần kỳ (nữ thần Lêt, Mai; thần Srôt, Srâng...).
  5. Nhân vật người đẹp (Bing con Lông, Bũng con Klêt, Djăn, Dje...).
  6. Nhân vật đối lập (các tù trưởng bon khác, mẹ con Ung khổng lồ...).
  7. Nhân vật cộng đồng (dân làng các bon).
  8. Nhân vật truyền tin (Sưp, Sưr, nàng Djăn, thần Krông, Dong...).

4. Vì sao luận án khẳng định sử thi M'nông (Ot Ndrong) là sử thi thần thoại thay vì sử thi anh hùng hay sử thi phổ hệ?

Luận án chứng minh Ot Ndrong là sử thi thần thoại vì tác phẩm phản ánh xã hội công xã thị tộc mẫu hệ cổ sơ chưa có sự phân hóa giai cấp; xung đột chiến trận chỉ nhằm giải quyết tranh chấp hôn nhân, tài sản hoặc thực thi luật tục chứ không mang tính chất thiết chế nhà nước. Hành động của nhân vật gắn liền với năng lực thần thoại, thế giới quan ba tầng đan xen và có sự can thiệp trực tiếp mang tính quyết định của thần linh. Đồng thời, cấu trúc tác phẩm chưa phản ánh tính chất cha truyền con nối qua nhiều thế hệ như sử thi phổ hệ đích thực.

5. Hành động chiến trận của các nhân vật anh hùng trong sử thi M'nông có đặc điểm thi pháp gì nổi bật?

Nghệ thuật miêu tả chiến trận trong sử thi M'nông mang đậm tính chất thô sơ, tả thực đời thường. Các động tác giao tranh chủ yếu là vật lộn cơ bắp (vật, đè, ôm, đẩy tay, móc chân, lôi, ôm dính); vũ khí sử dụng thường là nông cụ và dụng cụ đánh bắt thường ngày (chài, đơm, dây thừng, bùa ngải, biến hình thành trâu húc nhau) chứ ít khi sử dụng thuần thục gươm giáo như sử thi cổ điển.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hệ thống nhân vật trong sử thi M'nông và vấn đề thể loại" của tác giả Triệu Văn Thịnh là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về thế giới nhân vật trong 32 văn bản sử thi M'nông đã xuất bản. Thông qua việc phân tích cấu trúc nhân vật trên không gian ba tầng vũ trụ kết hợp khảo sát môi trường diễn xướng, luật tục và cơ sở xã hội công xã thị tộc, tác giả đã khẳng định Ot Ndrong thuộc tiểu loại sử thi thần thoại (loại hình sử thi cổ sơ). Công trình cung cấp hệ thống cứ liệu khoa học tin cậy, góp phần giải quyết thỏa đáng những tranh luận học thuật về thể loại sử thi M'nông và phục vụ thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa dân gian Tây Nguyên.