Nghiên cứu hệ thống nhân vật trong sử thi Mnông và vấn đề thể loại văn hóa Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa việt nam hệ thống nhân vật trong sử thi mnông và vấn đề thể loại, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2015

337
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát về dân tộc M’nông. Địa bàn cư trú, đặc điểm xã hội và thành phần tộc người

1.2. Đời sống văn hoá của người M’nông

1.2.1. Đời sống văn hoá vật chất

1.2.2. Đời sống văn hoá tinh thần

1.3. Kho tàng văn học dân gian

1.3.1. Các tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi tự sự

1.3.2. Các tác phẩm thuộc loại hình văn vần

1.4. Những vấn đề cơ bản của Ot Ndrong

1.4.1. Những vấn đề cơ bản về nội dung của sử thi M’nông

1.4.2. Ot Ndrong phản ánh vũ trụ quan và nhân sinh quan của người M’nông

1.4.3. Ot Ndrong phản ánh những vận động, chuyển biến lớn

1.4.4. Ot Ndrong là “bách khoa thư” của người M’nông

1.4.5. Hình thức thể hiện chính của Ot Ndrong

1.4.6. Một số vấn đề về ngôn ngữ của Ot Ndrong

1.5. Biện pháp xây dựng cốt truyện và nhân vật

1.5.1. Một số thủ pháp nghệ thuật của Ot Ndrong

1.6. Một số vấn đề lý luận về sử thi

1.6.1. Quan niệm về sử thi của các nhà nghiên cứu

1.6.2. Quan niệm về sử thi của một số nhà nghiên cứu ngoài nước

1.6.3. Quan niệm về sử thi của các nhà nghiên cứu Việt Nam

1.6.4. Quan niệm của người M’nông về Ot Ndrong

2. HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG SỬ THỊ M’NÔNG

2.1. Nhân vật văn học

2.1.1. Các tuyến nhân vật trong sử thi M’nông

2.1.2. Nhân vật trung tâm

2.2. Nhân vật khai thiên lập địa

2.3. Nhân vật anh hùng văn hóa

2.4. Nhân vật anh hùng chiến trận

2.5. Các loại nhân vật khác

2.6. Nhân vật thần kỳ

2.7. Nhân vật người đẹp

2.8. Nhân vật đối lập

2.9. Nhân vật cộng đồng

2.10. Nhân vật truyền thống

3. VẤN ĐỀ THỂ LOẠI CỦA SỬ THỊ M’NÔNG

3.1. Môi trường diễn xướng của sử thi M’nông

3.2. Chức năng của sử thi M’nông

3.3. Cách cấu tạo đề tài. Cốt truyện của sử thi M’nông

3.4. Cách thức xây dựng nhân vật của sử thi M’nông

3.5. Cơ sở xã hội và nội dung phản ánh của sử thi M’nông

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về sử thi M nông

Sử thi M’nông là một thể loại văn học dân gian đặc sắc của người M’nông, một dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên Việt Nam. Sử thi M’nông không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng những tư liệu quý giá về lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc này. Theo các nhà nghiên cứu, sử thi dân gian này phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của người M’nông, thể hiện qua các nhân vật và cốt truyện phong phú. Đặc biệt, hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông rất đa dạng, từ những nhân vật anh hùng đến những nhân vật thần thoại, mỗi nhân vật đều mang trong mình những giá trị văn hóa và tinh thần riêng biệt. Việc nghiên cứu hệ thống nhân vật trong sử thi không chỉ giúp hiểu rõ hơn về văn hóa M’nông mà còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam.

II. Hệ thống nhân vật trong sử thi M nông

Hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông được chia thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại nhân vật đều có vai trò và chức năng riêng trong cốt truyện. Nhân vật trung tâm thường là những anh hùng, những người có sức mạnh phi thường và phẩm chất cao đẹp. Họ không chỉ đại diện cho sức mạnh của con người mà còn là biểu tượng cho những giá trị văn hóa của dân tộc. Bên cạnh đó, nhân vật khai thiên lập địanhân vật thần kỳ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích nguồn gốc và sự hình thành của thế giới. Những nhân vật này thường mang tính biểu tượng cao, thể hiện những khát vọng và ước mơ của người M’nông. Việc phân tích hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông không chỉ giúp làm rõ nội dung và hình thức của tác phẩm mà còn phản ánh những giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc này.

2.1. Nhân vật anh hùng

Nhân vật anh hùng trong sử thi M’nông thường là những người có sức mạnh phi thường, dũng cảm và tài năng. Họ không chỉ chiến đấu chống lại kẻ thù mà còn bảo vệ và gìn giữ văn hóa của dân tộc. Những nhân vật này thường được miêu tả với những phẩm chất tốt đẹp, thể hiện tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước. Họ là hình mẫu lý tưởng cho thế hệ trẻ, khơi dậy lòng tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc. Qua những cuộc phiêu lưu và thử thách, nhân vật anh hùng không chỉ thể hiện sức mạnh mà còn truyền tải những bài học quý giá về đạo đức và nhân cách. Sự hiện diện của họ trong sử thi M’nông không chỉ làm phong phú thêm cốt truyện mà còn góp phần khẳng định giá trị văn hóa của người M’nông.

2.2. Nhân vật thần thoại

Nhân vật thần thoại trong sử thi M’nông thường mang tính chất siêu nhiên, có khả năng làm những điều phi thường. Họ thường xuất hiện trong những tình huống đặc biệt, thể hiện sự kết nối giữa con người và thế giới thần linh. Những nhân vật này không chỉ có vai trò trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên mà còn phản ánh những giá trị văn hóa và tâm linh của người M’nông. Qua việc nghiên cứu nhân vật thần thoại, có thể thấy được sự phong phú và đa dạng trong tư duy văn hóa của dân tộc này. Họ không chỉ là những nhân vật trong câu chuyện mà còn là biểu tượng cho những khát vọng và ước mơ của người M’nông, thể hiện sự tôn kính đối với thiên nhiên và các thế lực siêu nhiên.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc hiểu rõ về các nhân vật trong sử thi giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc M’nông. Đồng thời, nó cũng góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ về bản sắc văn hóa dân tộc. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng những kiến thức này để phát triển các chương trình giáo dục, bảo tồn văn hóa và du lịch văn hóa. Hơn nữa, việc nghiên cứu hệ thống nhân vật còn giúp nâng cao nhận thức về sự đa dạng văn hóa trong xã hội Việt Nam, từ đó thúc đẩy sự hòa nhập và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo tồn văn hóa mà còn góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết và phát triển bền vững.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TONG QUAN VE DE TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về dân tộc M’néng 1. Địa bàn cư trú, đặc điểm xã hội và thành phần tộc người Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người M'nông ở Việt Nam có 102.741 người, cư trú chủ yếu ở tinh Dak Lak, Dak Nông.

Ở tỉnh Dak Nông là 39.964 người, chiếm 38,9% tổng số người M'nông ở Việt Nam, ở tỉnh Dak Lăk là 40.344 người chiếm 39,3% tổng số người M'nông ở Việt Nam[100/103,134]. Bên cạnh đó con có một bộ phận người Mnông sống ở các tỉnh Lâm Đồng (9.099 người), Bình Phước (8.599 người) và Quảng Nam (4. Ngoài ra còn có khoảng trên 20.000 người M’néng sinh sống trên lãnh thé Vương quốc Campuchia (chủ yếu ở tỉnh Mundikiri). Bộ phận này có mối quan hệ thân thuộc và thường xuyên tiếp xúc qua lại với những người M'nông sống ở Việt Nam.

Người M'nông ở Việt Nam được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm có những điểm khác nhau về ngôn ngữ, tập quán canh tác và sinh hoạt văn hoá. Tuy nhiên sự khác biệt giữa các nhóm là không lớn ngoại trừ nhóm M'nông R'lâm sống ở huyện Lak của tỉnh Dak Lak. Nhóm M°nông R"lâm có quá trình sống xen kẽ và cộng cư lâu dài với người Êđê nên đã chịu nhiều ảnh hưởng qua lại của người Êđê [48/13]. Nhiều yếu tố văn hoá của người Êđê đã xâm nhập vào người M’nong và ngược lại người Mˆnông cũng đã ảnh hưởng sâu trong đời sống người Edé, nhất là những nhóm sống xen kẽ nhau [17/26].

Một bộ phận khác sông bên cạnh và chiu ảnh hưởng của người Mạ, người Coho; một bộ phận nhỏ hơn sông ở tỉnh Bình Phước và có mối quan hệ mật thiết với người Stiêng [47/13]. Các nhóm Nong, Preh, Biät, Bu nor, R’ong được xem là những nhóm chính, ít có quan hệ tiếp xúc với các dân tộc khác, nên còn bảo lưu được bản sắc văn hoá tộc người [54/40]. Ngôn ngữ, văn hoá của những nhóm này mang những đặc trưng cơ bản và tiêu biểu nhất của dân tộc M”nông. Người M'nông sinh sống trên những vùng địa hình khá da dạng: vùng đâm hô, ven sông suôi, vùng đât tương đôi băng phăng, vùng đôi núi có độ dôc 25 cao.

và đã có quá trình cư trú lâu đài trên vùng đất Tây Nguyên. Theo các nhà nhân chủng học và dân tộc học, dân tộc M’néng “năm trong nguồn gốc các dân tộc bản địa ở Việt Nam và Đông Nam Á”, thuộc nhóm loại hình nhân chủng Indonesien, đa phan họ có tầm vóc thấp, nước da ngăm den, môi hơi dày, mắt nâu đen, tóc thăng, một số người có tóc uốn tự nhiên [47/13]. Cũng theo các nhà nghiên cứu thì người M'nông có quan hệ huyết thống và thân tộc với các cư dân Đông Nam Á cô xưa, “người Môn là cư dân nền tảng, cô nhất, sống rải rác khắp Đông Nam Á lục địa. Người Mơ Nông (ở Nam Trường Sơn) và người Pnong ở Đông - Bắc Campuchia là hậu duệ của một bộ phận người Môn cô”[54/41].

Về đại thé, Đông Nam Á là khu vực tiếp giáp của hai đại chủng Mégoloit và Otraldit. Vì thế ở đây từ rất sớm đã hình thành nên một tiêu chủng riêng biệt mang những yếu tố của cả hai đại chủng, gọi là tiêu chúng Đông Nam Á. Tiểu chủng này bao gồm hai nhóm chính: Anhđônêdiêng mang nhiều yếu tô của đại chủng da đen hơn và con cháu của họ chính là những người sống ở vùng Tây Nguyên (Việt Nam) và vùng rừng núi các nước hải đảo [55/41]. Trong những năm gan đây, căn cứ vào các di chỉ khảo cổ, các nhà khảo cô học khang định răng “có một nhịp cau văn hoá xưa nhất nối Tây Nguyên và miễn Đông Nam Bộ” [54/41].

Người M'nông nói ngôn ngữ Môn - Khome thuộc nhóm Ba Na phía Nam. Về tiếng nói, do có nhiều nhóm khác nhau nên trong một chừng mực nào đó có nét khu biệt giữa các nhóm, nhưng sự khác biệt giữa các nhóm là không đáng kê, họ đều có thê nói, nghe và hiểu nhau. Hiện nay, về ngôn ngữ thì nhóm M'nông Preh được Nhà nước xem là nhóm chính và chuẩn nhất. Tiếng nói của nhóm nay được sử dụng để day trong các trường học và phát trên sóng phát thanh và truyền hình.

Trong xã hội truyền thống của người Mˆnông, nền kinh tế chủ yếu là canh tác nương rẫy với cây trồng chủ đạo là cây lúa rẫy. Họ canh tác trên phạm vi đất đai nhất định, việc phân chia ranh giới là rất rõ ràng, họ không cho phép những người khác bon canh tác trong phạm vi đất đai của bon mình quản lý. Người bon này muốn làm nương ở bon khác phải xin phép và phải nộp lễ bằng 26 lợn, gà, rượu và gạo, nếu không sẽ bị thu hết hoa lợi [17/74]. Việc sử dụng đất đai chủ yếu là theo chế độ luân khoảnh.

Với cách sử dụng đất đai và tài nguyên rừng như vậy thì có thể nói việc mat rừng và suy giảm môi trường sống là rat khó xảy ra. Nông cụ sản xuất của người M’néng khá thô sơ, chủ yếu là cuốc, thuéng, dao dựa, chà gạc và các công cụ băng gỗ, dau bịt sắt. Cây lúa rẫy chiếm vị tri trọng yếu do vậy mà các nghỉ lễ và lễ hội được tô chức thường luôn gắn liền với quá trình sinh trưởng của loại cây trồng này. Hiện nay, sản xuất lúa ray đã không còn phô biến và đang mat dan.

Chúng tôi đã có nhiều chuyến điền dã qua vùng người M°nông và nhận thấy hau hết người Mˆnông đã chuyền đổi sang canh tác các loại cây trồng khác có hiệu qủa kinh tế cao hơn như hồ tiêu, cao su, cà phê. Việc sản xuất lúa ray đã dan lùi vào quá khứ va chỉ còn lai trong ký ức của những người Mˆnông cao tuôi. Thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những nương lúa rẫy rải rác ở những vùng như Nâm Nung, Nâm N’Jang, Quảng Trực.và đó là ray của những gia đình M’nong muốn lưu giữ một tập quán vốn đã ăn sâu vào trong đời sống của họ từ bao đời nay. Người Mnông xưa kia ở cả nhà san và nhà trệt.

Các nhóm như M nông Gar, M’nong Preh, M'nông Nong ở nhà trệt. Các nhóm khác như M nông Rlâm, Mˆnông Chil, Mˆnông Kuénh thì ở nhà sàn. Theo các nhà dân tộc học, các nhóm hiện nay đang ở nhà sàn như vừa kể, trước đây đã trải qua một thời kỳ cư ngụ trong những ngôi nhà trệt [47/20]. Ngôi nhà truyền thống của người M?nông là những ngôi nhà dai trệt, kiêu kiến trúc này rất phổ biến ở những nhóm M'nông Preh, M'nông Biat, M'nông Nong - những nhóm it có quan hệ tiếp xúc và chịu anh hưởng của các dân tộc khác.

Người Mˆnông xưa kia sống trong những ngôi nhà trệt dai 60 - 70m, trong ngôi nha đó chia làm nhiều phan, nhiều gian. Mỗi gian là không gian sống và sinh hoạt của một tiểu gia đình trong đại gia tộc mẫu hệ. Hiện nay ngôi nhà đài truyền thống đã đang dần được thay thế bởi những ngôi nhà vách ván lợp ngói hoặc nhà xây bằng gạch, xi măng và lợp tôn. Ngôi nhà truyền thống gần như đã không còn và đang mat đi nhanh chóng tại các bon làng của người Mˆnông.

Hiện nay, ở vùng Quảng Trực chỉ còn lại một vài ngôi nhà dài trệt nhưng hầu hết đã rất cũ nát, nếu không 27 được bảo quản tốt thì chắc chăn chỉ trong vòng vài năm nữa sẽ hư hỏng hoàn toàn. Trong lao động sản xuất, có sự phân công tương đối giữa công việc của nam giới và phụ nữ, công việc chính của người đàn ông là đan lát, phát rẫy, săn bắt. còn đàn bà thì bồ củi, nau cơm, kéo sợi, dệt vai. Trong xã hội M'nông xưa, phụ nữ có quyền quyết định mọi công việc quan trọng trong gia đình, quyền thừa kế tài sản thuộc về người con gái út.

Mặc dù theo chế độ mẫu hệ nhưng người phụ nữ chỉ thực sự có “quyền uy” trong công việc của gia đình và chủ yếu được diễn ra trong không gian của ngôi nhà dai mà thôi. Còn những công việc hệ trọng, lớn lao liên quan đến cả cộng đồng như quyết định đời bon, chọn đất phát dẫy, săn bắt voi rừng. thì đều do người đàn ông, thường là trưởng bon quyết định. Trong xã hội truyền thống, bon (làng) là đơn vị hành chính duy nhất.

Các bon tôn tại độc lập và tách bạch nhau, ở đó chưa thấy có sự liên kết giữa các bon để tạo thành một liên minh (thiết chế) lớn hơn. Bon được lập nên bởi một gia tộc hay nhiều gia tộc. Người Mˆnông thường chọn những nơi gần núi, gần sông, suối, đầm, hồ để lập bon với mục đích là để tiện lợi cho việc sử dụng ngu6n nước và chắn gió. Mỗi bon thường gồm khoảng vài chục nóc nhà đài và tùy theo thói quen sinh hoạt và tập quán canh tác mà họ tạo dựng cho mình một loại nhà ở thích hợp: hoặc ở nhà sàn, hoặc ở nhà trệt, do làm rẫy là chính hay làm ruộng là chính.

Tên bon thường được đặt theo tên suối, tên núi hoặc tên một khu rừng nào đó, chăng hạn như Nam Nung, Nam N’Jang, Lak, Dak Nué, Nam Brah, Dak Hũch. Mối quan hệ trong bon chủ yếu là mối quan hệ huyết thống, thân tộc. Đứng đầu mỗi bon là Bu ranh bon (chủ bon), Bu ranh bon là người đứng ra tô chức và giải quyết những công việc chính của bon làng như xử kiện, quyết định dời bon, chọn đất phat ray, két nap thanh vién mdi. Vao độ tuổi khoảng trên 45, không phân biệt giàu nghẻo, nếu ai thông thạo luật tục, hiểu biết nhiều về phong tục tập quán, nhanh nhẹn, linh hoạt, ăn nói lưu loát thì được mọi người suy tôn làm Bu ranh bon.

28 Luật tục có một vai trò rat quan trọng đời sống của người M'nông. Tất cả mọi người đều phải tuân theo những luật lệ đã định sẵn. Ai vi phạm, tùy theo mức độ sẽ bị xử phạt, nhẹ thì phạt băng gà, nặng thì phải cúng đền bằng trâu bò hoặc bị đuổi khỏi bon. Hiện nay, luật tục vẫn còn có tác động to lớn trong đời sống của người M'nông, nó được sử dụng dé ràng buộc và điều tiết các mối quan hệ trong xã hội.

Rất nhiều sự việc khi áp dụng luật pháp của Nhà nước chưa han đã giải quyết được nhưng khi áp dụng luật tục dé xử lý lại tỏ ra hiệu qủa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Hệ thống nhân vật trong sử thi Mnông và thể loại văn hóa Việt Nam" khám phá sâu sắc về các nhân vật trong sử thi Mnông, một phần quan trọng của văn hóa dân gian Việt Nam. Tác giả phân tích cách mà các nhân vật này không chỉ phản ánh đời sống, tâm tư của người Mnông mà còn thể hiện những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Qua đó, bài viết giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của sử thi trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh văn hóa và văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ tìm hiểu những biểu hiện về cái cao cả trong tư tưởng Nguyễn Trãi, nơi khám phá tư tưởng nhân văn trong văn học. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ sẽ giúp bạn hiểu thêm về các truyền thuyết dân gian, một phần không thể thiếu trong văn hóa Việt Nam. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc về Thanh Hóa sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa giữa âm nhạc dân gian và hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về văn hóa và văn học Việt Nam một cách toàn diện hơn.