Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Ngô Thị Thanh Quý với đề tài "Tục ngữ người Việt với việc phản ánh tri thức dân gian (về văn hoá nông nghiệp)" thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số 62.01), được bảo vệ năm 2007 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Lê Chí Quế và PGS.TS. Vũ Anh Tuấn.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, kho tàng tục ngữ cổ truyền luôn giữ vị trí đặc biệt, gắn bó mật thiết với khẩu ngữ, văn học viết, báo chí và các thể loại folklore khác. Tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của nhân dân trong mọi lĩnh vực đời sống vật chất lẫn tinh thần, phản ánh lối cảm, lối nghĩ và thế giới quan của cư dân nông nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu tục ngữ nhằm làm giàu thêm tư duy văn hóa mang bản sắc dân tộc là yêu cầu cần thiết.

Kho tàng tục ngữ người Việt có số lượng đồ sộ và đã được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau; tuy nhiên, mảng tục ngữ phản ánh tri thức dân gian về văn hóa nông nghiệp chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống. Do đó, luận án tập trung giải quyết khoảng trống này, đồng thời khảo sát sự vận động của tri thức tục ngữ truyền thống trong đời sống và văn học hiện đại cũng như quá trình sáng tạo tục ngữ mới.

Mục đích nghiên cứu

  1. Khẳng định giá trị, vai trò và tác dụng của tục ngữ trong kho tàng folklore nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung.
  2. Khảo sát, phân tích tư liệu tri thức nông nghiệp được phản ánh trong tục ngữ để làm sáng tỏ nét đặc thù của nền văn hóa lúa nước và sự chi phối của văn hóa lúa nước đối với thể loại tục ngữ.
  3. Tạo nền tảng để đối chiếu, kế thừa, truyền bá các giá trị hợp lý của tục ngữ nông nghiệp trong đời sống mới, đồng thời làm cơ sở khảo sát, nhận diện tục ngữ mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tục ngữ truyền thống và tục ngữ mới của người Việt phản ánh tri thức dân gian về văn hóa nông nghiệp.
  • Nguồn ngữ liệu chính: Bộ sách Kho tàng tục ngữ người Việt do Nguyễn Xuân Kính chủ biên (NXB Văn hóa Thông tin, 2002, gồm 16.098 câu được tập hợp từ 52 đầu sách).
  • Phạm vi khảo sát: Luận án tuyển chọn và phân tích 4.363 câu tục ngữ liên quan đến văn hóa nông nghiệp, phân chia theo các nhóm chủ đề cụ thể:
    • Thời tiết: 517 câu.
    • Canh tác nông nghiệp (kinh nghiệm làm ruộng, làm vườn, làm thợ): 478 câu.
    • Vật nuôi: 289 câu.
    • Hoạt động lao động, ăn mặc, trang phục, ẩm thực, nấu nướng: 1.427 câu.
    • Ứng xử cộng đồng, làng nước, hội hè, tôn giáo, tín ngưỡng: 528 câu.
    • Ứng xử gia đình, xã hội: 1.126 câu.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát tục ngữ truyền thống của người Việt trên lãnh thổ Việt Nam và sự tiếp biến, vận động của tục ngữ trong xã hội Việt Nam hiện đại (bao gồm việc sử dụng tục ngữ trong tác phẩm văn học hiện đại của Nam Cao, Đào Vũ, Nguyễn Khắc Trường).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu tri thức dân gian về văn hóa nông nghiệp trong tục ngữ người Việt được tác giả điểm lại qua ba nhóm tài liệu chính:

1. Hệ thống giáo trình đại học

  • Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 (Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lí Hữu Tấn, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trí Viễn; in 5 lần từ năm 1961 đến 1978): Đề cập khái quát 4 vấn đề về định nghĩa, nguồn gốc - phát triển, nội dung và nghệ thuật của tục ngữ, bước đầu gắn tục ngữ với lao động sản xuất và tâm lý đạo đức.
  • Văn học dân gian (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên; in các năm 1972, 1973, 1977, 1991): Phác thảo nội dung tục ngữ về lao động sản xuất, hiện tượng thời tiết, chỉ ra rằng tri thức sản xuất của nhân dân mang tính kinh nghiệm thực tiễn và biến đổi theo trình độ kỹ thuật sản xuất xã hội.
  • Văn học dân gian Việt Nam, tập II (Hoàng Tiến Tựu, 1990): Nhận xét về tính nhiều nghĩa, tính tập thể, hàm súc, giàu hình tượng của tục ngữ; nhấn mạnh nghĩa của tục ngữ lệ thuộc chủ yếu vào người sử dụng.
  • Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ; 1990, tái bản 1996, 1998): Xác định cội nguồn của tục ngữ từ đời sống lao động, sản xuất, chiến đấu và sự dân gian hóa lời hay ý đẹp của các nhà tư tưởng; phân chia nội dung tục ngữ thành 5 phương diện (lao động, lịch sử xã hội, phong tục tập quán, thái độ ứng xử, tư tưởng triết học thô sơ).

2. Các chuyên luận, công trình nghiên cứu

  • Tiếng nói của đồng ruộng (Nguyễn Trọng Lực, 1949): Phân loại ca dao, tục ngữ theo các nhóm công việc đồng áng, thiên văn khí hậu; chỉ ra cách người nông dân dựa vào giới tự nhiên để điều khiển việc đồng áng.
  • Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, 1975): Nghiên cứu tục ngữ theo hướng xã hội học và nhận thức luận; khẳng định lối nghĩ bằng tục ngữ dựa vào kinh nghiệm nhưng chứa đựng mầm mống tư duy khoa học, tư duy lý luận.
  • Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi): Dành chương "Tri thức dân gian" (khoảng 120 trang) khảo sát thiên văn, thủy văn, địa lý, kỹ thuật trồng trọt (chọn giống, cấy mau), chăn nuôi, y dược, triết lý dân gian xứ Nghệ.
  • Kinh nghiệm làm chiêm qua ca dao tục ngữ (Ngô Xuân Minh, Trần Văn Doãn, 1961): Phân tích kỹ thuật làm mạ chiêm, cày bừa, cấy, chăm bón, sâu bệnh và thu hoạch lúa chiêm.
  • Bước đầu tìm hiểu về khí tượng dân gian Việt Nam (Hoàng Hữu Triết, 1973): Đánh giá giá trị khoa học của ca dao tục ngữ dự đoán thời tiết các mùa trong năm.
  • Ca dao tục ngữ với khoa học nông nghiệp (Bùi Huy Đáp, 1999): Khảo sát tục ngữ về đất đai, lao động, thời tiết, mùa vụ, cây trồng, vật nuôi dưới góc nhìn nông học.
  • Các chuyên luận về thi pháp tục ngữ: Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa; Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào.

3. Các bài nghiên cứu chuyên đề

  • Về thời tiết, canh tác, chăn nuôi: Hoàng Hữu Triết (1997) bàn về tư duy triết học duy vật; Nguyễn Quốc Siêu (1997) phân tích câu tục ngữ thời tiết; Trần Quang Nhật (1997) và Nguyễn Thanh Lợi (1997) nghiên cứu hình tượng con trâu; Nguyễn Duy Cách (2001) khảo sát tri thức sản xuất; Đỗ Kim Liên (2006) khảo sát trường ngữ nghĩa cây lúa và sản phẩm từ lúa.
  • Về ẩm thực và sử dụng sản phẩm nông nghiệp: Nguyễn Xuân Kính (1990) về sự sành ăn khéo mặc của người Thăng Long - Hà Nội; Nguyễn Xuân Hòa (1997) về văn hóa ăn uống; Trí Sơn (1999) về sản vật xứ Nghệ; Lăm phonxayXana và Nguyễn Văn Thông về đặc trưng ẩm thực Việt Nam qua tục ngữ.
  • Về sức sống và đạo lý trong tục ngữ: Vũ Dung (1977), Bùi Văn Nguyên (1983), Hồ Tôn Trinh (1985), Nguyễn Nghĩa Dân (1987), Vũ Quang Hào (1993), Nguyễn Quý Thành (1998) nghiên cứu dấu ấn văn hóa nông nghiệp lúa nước chi phối tổ chức cộng đồng và ứng xử xã hội.
  • Về tục ngữ mới: Đỗ Quang Lưu (1979) phân loại tục ngữ kinh nghiệm và tục ngữ châm ngôn; Trần Gia Linh (1991) phân tích những biến đổi của tục ngữ mới trong thời đại mới.

Vị trí và đóng góp của luận án

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận tục ngữ ở từng khía cạnh riêng lẻ (ngữ văn, khoa học kỹ thuật, thi pháp cấu trúc) hoặc giới hạn trong phạm vi địa phương. Luận án của Ngô Thị Thanh Quý là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống mối quan hệ giữa tục ngữ người Việt và tri thức văn hóa nông nghiệp, kết nối từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, từ văn hóa dân gian sang văn học viết, đồng thời bước đầu xây dựng tiêu chí tìm hiểu tục ngữ mới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Khái niệm văn hóa: Luận án tổng hợp quan niệm phương Tây (gắn với cultus - canh tác, gieo trồng vật chất và tinh thần; quan điểm của J.G. Herder về quá trình con người chinh phục tự nhiên; định nghĩa nhân học của E.B. Tylor; định nghĩa của UNESCO) và quan niệm phương Đông (chữ "văn" của Khổng Tử gắn với lễ, nhạc, ứng xử xã hội; định nghĩa của Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương; quan điểm của Phan Ngọc, Trần Quốc Vượng, Đinh Gia Khánh, Trần Ngọc Thêm). Luận án xác lập định nghĩa thao tác: Văn hóa là hoạt động nhằm biến đổi tự nhiên sẵn có thành tự nhiên mang dấu ấn con người, sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần mang yếu tố nhân văn.
  • Khái niệm văn hóa nông nghiệp: Là toàn bộ phương thức ứng xử của con người trong cuộc sống nông nghiệp, nông thôn; gắn liền với các hằng số văn hóa: nông dân, nông nghiệp, xóm làng. Luận án phân biệt văn hóa nông nghiệp (mặt cấu trúc tĩnh, giá trị nền tảng trường tồn) với văn minh nông nghiệp (mặt kỹ thuật, tổ chức xã hội, có thể biến đổi nhanh chóng).
  • Đặc thù văn hóa nông nghiệp Việt Nam:
    • Môi trường cư địa: Nằm trong vùng Đông Nam Á, châu thổ các con sông lớn (sông Hồng, sông Cửu Long), khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, hình thành hai vựa lúa lớn ở hai đầu đất nước.
    • Đặc trưng sinh thái: Văn hóa thực vật - sông nước, lối sống định cư làng xã, kinh tế tự cấp tự túc, tư duy tổng hợp biện chứng và coi trọng kinh nghiệm thực tiễn.
    • Nguyên tắc ứng xử: Ứng xử với tự nhiên theo tinh thần "Thiên - Nhân hợp nhất", nương nhờ và hòa hợp với tự nhiên; ứng xử xã hội theo nguyên tắc "trọng tình", "duy tình", đề cao tính cộng đồng làng xóm.
    • Hệ thống tín ngưỡng nông nghiệp: Tín ngưỡng phồn thực (cầu sinh sôi nảy nở, thờ Nõ Nường, dấu tích trên thạp đồng Đào Thịnh, trống đồng Hoàng Hạ), tín ngưỡng thờ cây, con (thờ đá, đa, gạo, cóc, chim, rắn), tín ngưỡng thờ Mẫu (Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng.
    • Lễ hội nông nghiệp: Gắn liền với chu kỳ thời vụ (lễ tịch điền, hạ điền, thượng điền, Đoan Ngọ, cơm mới, tế Thần Nông, hội cướp cầu, rước nước).

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ ba nhóm phương pháp:

  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức của Văn học dân gian, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học và Khoa học Nông nghiệp để phân tích đa chiều các hiện tượng tri thức trong tục ngữ.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt các đơn vị tục ngữ trong mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ, tư duy, văn hóa và hiện thực sản xuất nông nghiệp; xem xét tính kế thừa giữa tục ngữ truyền thống và hiện đại.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp: Khảo sát định lượng trên mẫu 4.363 câu tục ngữ, phân loại theo chủ đề, lập bảng thống kê so sánh đối chiếu để rút ra các quy luật nội dung và hình thức.

3. Nguồn tư liệu khảo sát

Dữ liệu khảo sát định lượng của luận án được trích xuất từ công trình Kho tàng tục ngữ người Việt (2002) với cơ cấu phân bổ:

Nhóm chủ đề khảo sát Số lượng câu
Thời tiết, khí tượng dân gian 517 câu
Canh tác nông nghiệp (làm ruộng, làm vườn, làm thợ) 478 câu
Kinh nghiệm về giống và chăm sóc vật nuôi 289 câu
Hoạt động lao động, trang phục, ẩm thực, nhà ở 1.427 câu
Ứng xử cộng đồng, tục lệ làng xã, tín ngưỡng, lễ hội 528 câu
Ứng xử gia đình và quan hệ xã hội 1.126 câu
Tổng số câu tục ngữ được khảo sát 4.363 câu

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tục ngữ người Việt phản ánh tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp - Một số vấn đề lý luận chung

Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận nền tảng cho toàn bộ luận án:

  • Phân tích các khái niệm cốt lõi: văn hóa, văn hóa nông nghiệp, mối quan hệ và sự khác biệt giữa văn hóa nông nghiệp và văn minh nông nghiệp.
  • Làm rõ các hằng số tạo nên bản sắc văn hóa nông nghiệp Việt Nam: môi trường cư địa Đông Nam Á, châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long; truyền thống canh tác lúa nước; hệ sinh thái thực vật - sông nước.
  • Luận giải mối liên hệ giữa điều kiện canh tác nông nghiệp với sự hình thành lối tư duy tổng hợp, kinh nghiệm chủ nghĩa, lối sống nương nhờ thiên nhiên ("Thiên - Nhân hợp nhất") và nguyên tắc ứng xử trọng tình trong cộng đồng làng xã.
  • Trình bày hệ thống tín ngưỡng nông nghiệp (phồn thực, thờ nhiên thần, thờ Mẫu Tứ Pháp, Thành Hoàng) và lễ hội nông nghiệp theo mùa vụ (lễ tế Thần Nông, hạ điền, thượng điền).
  • Nhận diện tri thức tục ngữ về văn hóa nông nghiệp trên hai bình diện: nội dung (phản ánh kinh nghiệm thực tiễn, quan niệm nhân sinh) và hình thức (kết cấu ngắn gọn, đối xứng, giàu vần điệu, hình ảnh trực quan, tính đa nghĩa).

Chương 2: Tục ngữ người Việt phản ánh lối ứng xử nông nghiệp của con người trong xã hội Việt Nam truyền thống

Chương 2 phân tích nội dung tri thức dân gian qua các nhóm tục ngữ cụ thể:

  • Ứng xử với thiên nhiên trong canh tác nông nghiệp:
    • Dự đoán thời tiết: Tri thức quan sát các hiện tượng tự nhiên (mây, gió, mưa, sấm, chớp, ráng, trăng, sao); quan sát phản ứng sinh học của thực vật (cây cối ra hoa, đâm chồi) và động vật (kiến, chuồn chuồn, cóc, cá...).
    • Kinh nghiệm canh tác: Tri thức về thời vụ ("nhất thì nhì thục"), chọn giống, làm đất, cấy lúa, chăm sóc, tưới tiêu và thu hoạch mùa màng; kỹ thuật trồng các loại hoa màu.
    • Kinh nghiệm chăn nuôi: Đánh giá vị trí trung tâm của con trâu ("con trâu là đầu cơ nghiệp") trong kinh tế lúa nước; tri thức nhận diện và chọn lựa các giống vật nuôi quen thuộc như chó, lợn, gà.
  • Sử dụng sản phẩm canh tác nông nghiệp:
    • Văn hóa ẩm thực: Chất liệu thức ăn có nguồn gốc thực vật và thủy sản nước ngọt; cách thức chế biến, phối trộn gia vị và phép ứng xử trong ăn uống.
    • Trang phục và nhà ở: Chất liệu may mặc từ sợi tự nhiên, quan niệm mặc bền chắc, thích ứng môi trường; chất liệu làm nhà (gỗ, tre, nứa, lá), hướng nhà và quan niệm không gian sống phù hợp khí hậu nhiệt đới gió mùa.
  • Ứng xử với cộng đồng trong xã hội nông nghiệp:
    • Mối quan hệ làng xã, họ hàng dựa trên tình làng nghĩa xóm, sự cố kết cộng đồng và tinh thần tương trợ trong lao động sản xuất.
    • Đời sống tâm linh thể hiện qua các quan niệm tín ngưỡng nông nghiệp và việc thực hành lễ hội làng quê.

Chương 3: Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp trong xã hội hiện đại

Chương 3 khảo sát sức sống và sự chuyển biến của tục ngữ nông nghiệp trong bối cảnh mới:

  • Tục ngữ nông nghiệp trong đời sống hiện đại: Khảo sát sự duy trì và biến đổi của các chuẩn mực ứng xử gia đình, dòng họ, làng xóm thời hiện đại; cách con người hiện nay vận dụng kinh nghiệm tục ngữ vào việc ứng xử với môi trường tự nhiên.
  • Tục ngữ nông nghiệp trong tác phẩm văn chương hiện đại: Phân tích nghệ thuật sử dụng tục ngữ nông nghiệp qua lời ăn tiếng nói của nhân vật trong các tác phẩm văn học hiện thực và hiện đại tiêu biểu:
    • Truyện ngắn của Nam Cao (phản ánh hiện thực nông thôn trước 1945).
    • Tác phẩm Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của nhà văn Đào Vũ (giai đoạn hợp tác hóa nông nghiệp).
    • Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường (giai đoạn đổi mới nông thôn).
  • Sự sáng tạo những câu tục ngữ mới:
    • Nguồn gốc và thời gian xuất hiện: Tục ngữ mới hình thành trong các phong trào lao động sản xuất, hợp tác hóa và thời kỳ cơ giới hóa, công nghiệp hóa nông thôn.
    • Nội dung phản ánh mới: Đúc kết các kinh nghiệm sản xuất mới (áp dụng khoa học kỹ thuật, giống mới, phân bón, thủy lợi); phản ánh sự mở rộng sang các ngành nghề dịch vụ nông thôn; ghi nhận những mối quan hệ xã hội mới và phê phán các hiện tượng tiêu cực trong đời sống hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:

    • Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể loại tục ngữ dưới góc độ phản ánh tri thức dân gian về văn hóa nông nghiệp; xác định mối quan hệ tương tác hai chiều giữa nền văn hóa lúa nước và kho tàng tục ngữ người Việt.
    • Làm rõ đặc trưng của tư duy nông nghiệp truyền thống (tư duy tổng hợp, duy tình, coi trọng kinh nghiệm) được mã hóa trong cấu trúc ngôn từ súc tích của tục ngữ.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Thực hiện khảo sát định lượng quy mô trên 4.363 câu tục ngữ, phân loại chi tiết theo từng chủ đề ứng xử (thiên nhiên, sản xuất, ăn - mặc - ở, làng xã, tín ngưỡng).
    • Chỉ ra sự tiếp nối của tri thức tục ngữ truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại và sự hiện diện của tục ngữ trong các tác phẩm văn học viết hiện thực.
    • Đặt nền móng nghiên cứu, sưu tầm và xác lập tiêu chí nhận diện cho mảng tục ngữ mới ra đời trong xã hội hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát việc sử dụng tục ngữ trong văn học hiện đại của luận án mới chỉ tập trung vào một số tác giả tiêu biểu (Nam Cao, Đào Vũ, Nguyễn Khắc Trường); khối lượng tục ngữ mới chủ yếu được thu thập qua một số bài viết và nguồn truyền khẩu bước đầu, chưa thực hiện được điều tra điền dã diện rộng trên toàn bộ các vùng miền nông thôn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra điền dã để sưu tầm, lập thư mục hệ thống về tục ngữ mới trong giai đoạn nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế số; nghiên cứu so sánh đối chiếu tục ngữ nông nghiệp của người Việt với tục ngữ nông nghiệp của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết, phương pháp tiếp cận liên ngành và hệ thống tư liệu phân loại chi tiết về tục ngữ và văn hóa dân gian Việt Nam.
  • Đối với giảng viên đại học và cao đẳng: Cung cấp tư liệu phục vụ giảng dạy các học phần Văn học dân gian, Văn hóa học, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Ngôn ngữ học ứng dụng và Văn học Việt Nam hiện đại.
  • Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa và cơ quan quản lý: Là tài liệu tham khảo cho việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nghiên cứu tâm lý xã hội nông thôn và phục vụ công tác xây dựng đời sống văn hóa mới ở các vùng nông thôn hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu câu tục ngữ và dựa trên nguồn ngữ liệu chính nào?

Luận án tiến hành khảo sát chọn lọc 4.363 câu tục ngữ về văn hóa nông nghiệp từ công trình Kho tàng tục ngữ người Việt do Nguyễn Xuân Kính chủ biên (NXB Văn hóa Thông tin, 2002), vốn tập hợp 16.098 câu từ 52 đầu sách khác nhau.

2. Số lượng tục ngữ khảo sát được phân chia theo những nhóm chủ đề nào?

Luận án phân chia 4.363 câu thành 6 nhóm: Hoạt động lao động, trang phục, ẩm thực, nhà ở (1.427 câu); Ứng xử gia đình và xã hội (1.126 câu); Ứng xử cộng đồng, tục lệ làng xóm, tín ngưỡng, lễ hội (528 câu); Hiện tượng thời tiết (517 câu); Canh tác nông nghiệp (478 câu); và Kinh nghiệm chăn nuôi vật nuôi (289 câu).

3. Tác giả luận án khảo sát sự hiện diện của tục ngữ nông nghiệp qua những tác phẩm văn học nào?

Luận án khảo sát sự thâm nhập của tục ngữ trong lời thoại và ngôn ngữ nghệ thuật của nhân vật qua: các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao, hai tác phẩm Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của nhà văn Đào Vũ, cùng tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường.

4. Luận án chỉ ra những đặc điểm nào của tục ngữ mới trong xã hội hiện đại?

Tục ngữ mới hình thành trong các phong trào sản xuất và quản lý mới; có xu hướng nói trực tiếp, ít dùng nghĩa bóng; câu có thể dài hơn theo nhịp ba, nhịp bốn; đúc kết kinh nghiệm kỹ thuật canh tác mới, phản ánh quan hệ xã hội mới và phê phán thói hư tật xấu trong đời sống nông thôn hiện đại.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Thanh Quý là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa tục ngữ người Việt và tri thức văn hóa nông nghiệp truyền thống lẫn hiện đại. Dựa trên việc khảo sát 4.363 câu tục ngữ, công trình đã làm sáng tỏ các phương diện ứng xử của con người với tự nhiên, lao động sản xuất, đời sống sinh hoạt và cộng đồng làng xã. Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị bền vững của tri thức folklore, đồng thời mở ra định hướng khảo sát quá trình vận động và sáng tạo tục ngữ mới trong xã hội đương đại.