Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại (Dấu ấn của truyện cổ dân gian trong một số tác giả, tác phẩm tự sự Việt Nam sau 1945) được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Thị Trâm, thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số 5.07) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2002, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Chí Quế và TS La Khắc Hoà. Toàn bộ luận án được trình bày trong dung lượng 180 trang.
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ bản chất mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết. Đây là hai hệ thống nghệ thuật tồn tại độc lập, có đặc trưng và khả năng nhận thức, tái tạo hiện thực riêng biệt nhưng luôn có sự tác động qua lại sâu sắc trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Trong bối cảnh thế giới diễn ra xu hướng toàn cầu hóa nhanh chóng và sự hình thành của xã hội hậu công nghiệp (như nhận định của Alvin Toffler trong tác phẩm Làn sóng thứ ba - The third wave), lối sống kỹ trị và tình trạng chương trình hóa đặt ra nguy cơ làm suy giảm cá tính, xói mòn các giá trị truyền thống. Do đó, việc quay trở về với các giá trị văn hóa dân gian là một nhu cầu xã hội nhằm bảo tồn bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII. Về phương diện thực tiễn nghiên cứu, việc khảo sát sự tiếp nhận truyện cổ dân gian giúp làm rõ các quy luật kế thừa nghệ thuật và hỗ trợ trực tiếp cho công tác giảng dạy, biên tập xuất bản sách khoa học xã hội.
Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là: các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khái quát lý luận chung hoặc khảo sát mảng thơ ca, văn học trung đại và một số tác gia cổ điển; trong khi đó, sự tác động của truyện cổ dân gian đối với thể loại văn xuôi tự sự hiện đại từ năm 1945 đến nay, đặc biệt là giai đoạn sau năm 1975 với các hiện tượng văn học thời kỳ đổi mới, vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống ở quy mô một chuyên luận.
Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Chỉ ra vai trò và sức sống tiềm tàng của truyện cổ, phạm vi ảnh hưởng và sự tác động của nó trong đời sống văn hóa, xã hội và văn học ở mức độ tổng thể, khái quát.
- Khảo sát cụ thể các tác giả, tác phẩm tiêu biểu để chỉ ra hiện tượng Fakelore (các tác phẩm phóng tác theo khuôn thức folklore), hiện tượng đồng sáng tạo, mô phỏng phát triển cốt truyện thuần túy, cùng những cách tân nghệ thuật khi sử dụng văn học dân gian làm cội nguồn phản ánh các vấn đề của thời đại mới.
- Tìm hiểu những nét truyền thống và hiện đại trong việc kế thừa, sáng tạo của nhà văn trong từng tác phẩm, từng xu hướng và cấp độ khảo sát.
- Xác định mục đích và lý giải nguyên nhân của các xu hướng sáng tạo khi nhà văn quay về vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian ở từng thời kỳ lịch sử khác nhau, đặc biệt là các giai đoạn có biến cố trọng đại.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyện cổ và tác phẩm truyện nhằm đưa ra những khái quát lý thuyết về mối quan hệ giữa hai hệ thống nghệ thuật trong tiến trình lịch sử, tìm ra các nguyên tắc tiếp nhận và sáng tạo ở các cấp độ ảnh hưởng khác nhau.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi tự sự của các nhà văn Việt Nam có sử dụng nguồn truyện cổ dân gian (bao gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn). Phạm vi không gian và thời gian được xác định từ mốc tháng 8 năm 1945 đến thời điểm năm 2002, chia làm hai giai đoạn: 1945–1975 và sau 1975 đến nay.
Các tác giả tiêu biểu được lựa chọn khảo sát gồm có:
- Nhóm đại diện cho xu hướng sáng tác theo mạch tư duy truyền thống (giai đoạn trước 1975): Tô Hoài, Phạm Hổ, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Tú Nam, Võ Quảng.
- Nhóm đại diện cho xu hướng sáng tạo nghệ thuật mới (giai đoạn sau 1975): Hoà Vang, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Ngô Tự Lập, Bão Vũ, Lưu Sơn Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết qua ba nhóm công trình chính:
Nhóm nghiên cứu lý luận chung và tiến trình văn học:
- Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam đã đề cập đến tính đặc thù của văn học viết trong tương quan với văn học dân gian.
- Cao Huy Đỉnh với Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam và Đỗ Bình Trị với Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam đã phân tích đặc trưng loại hình và quy luật vận động của văn học dân gian.
- Đinh Gia Khánh trong công trình Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam khẳng định văn hóa dân gian chứa đựng tiềm năng và động lực xây dựng các giá trị thẩm mỹ mới, đồng thời chỉ ra việc các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo khai thác văn hóa dân gian phục vụ mục đích của mình.
- Lê Kinh Khiên trong bài viết Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian - văn học viết xác định đây là quan hệ tác động qua lại giữa hai hệ thống thẩm mỹ độc lập trên nền tảng đời sống dân tộc.
- Hà Công Tài (Để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết) nhấn mạnh phong cách thể loại là then chốt.
- Chu Xuân Diên (Nhà văn và sáng tác dân gian) khẳng định sáng tác dân gian cung cấp tư liệu nghệ thuật và phản ánh đời sống nhân dân.
- Đỗ Bình Trị (Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với văn học dân gian) đặt vấn đề về các nhân tố điều tiết ảnh hưởng.
- Đặng Văn Lung (Vai trò của văn học dân gian trong sự phát triển của văn học dân tộc) và Nguyễn Đình Chú (Để tiến tới xác định rõ ràng hơn nữa vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc) khẳng định vai trò nền tảng của văn hóa dân gian.
- Kiều Thu Hoạch trong Vai trò của truyện kể dân gian với sự hình thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam khảo sát quy luật các thể loại tự sự thời trung cận đại đều khởi đầu bằng việc ghi chép folklore.
- Võ Quang Trọng với công trình Vai trò của văn học dân gian Việt Nam trong văn xuôi Việt Nam hiện đại đã nghiên cứu chức năng thẩm mỹ, cấu trúc và phong cách dân gian trong văn xuôi hiện đại dựa trên lý luận của các học giả châu Âu và Nga.
Nhóm khảo sát tác gia, tác phẩm cụ thể:
- Khảo sát mảng trung đại và thơ ca: Nguyễn Đăng Na (về Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên), Bùi Văn Nguyên (về Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ), Vũ Tố Hảo (truyện Nôm bình dân), Nguyễn Khánh Toàn, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thanh Lê (về Truyện Kiều của Nguyễn Du), Nguyễn Đăng Na và Đặng Thanh Lê (về thơ Hồ Xuân Hương và mô típ Trầu cau), Đặng Văn Lung (về Nguyễn Đình Chiểu), Trịnh Bá Đĩnh (về Nguyễn Khuyến), Nguyễn Khắc Xương (về Tản Đà), Nguyễn Quốc Tuý (về Nguyễn Bính), Nguyễn Phú Trọng (về phong vị ca dao trong thơ Tố Hữu), Hà Châu (về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng tục ngữ), Nguyễn Xuân Kính (về thi pháp ca dao trong thơ trữ tình).
- Khảo sát mảng tự sự hiện đại: Vũ Ngọc Phan (về phong cách dân gian trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi); Đặng Anh Đào (Biển không có Thủy thần, Hai hình thức mới trong truyện ngắn hiện nay) chỉ ra sự gần gũi giữa truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp với cổ tích và hình thức nhại cổ tích; Lê Đình Kỵ (Đối thoại với văn học dân gian và bản lĩnh của người viết) so sánh nhân vật Trương Chi dân gian và Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp; tập tiểu luận Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp do Phạm Xuân Nguyên biên soạn (chứa các bài viết của T., Đông La, Văn Tâm, Nguyễn Vi Khanh, Hoàng Ngọc Hiến); các báo cáo tại Hội thảo Tự sự học của Trần Đình Sử, Nguyễn Bích Hà, Chu Văn Sơn.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các tiền đề lý luận trên để giải quyết khoảng trống về việc nghiên cứu có hệ thống mảng văn xuôi tự sự từ năm 1945 đến sau 1975, phân lập rõ ràng các cấp độ mô phỏng, tiểu thuyết hóa và các hình thức cách tân nghệ thuật thời kỳ đổi mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm và phạm trù khoa học:
- Khái niệm văn hóa dân gian theo nghĩa rộng (folk culture - toàn bộ văn hóa vật chất và tinh thần phản ánh sự thích nghi của cộng đồng với môi trường) và nghĩa hẹp (folklore - phần mang tính thẩm mỹ như tác phẩm văn học nghệ thuật, lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian).
- Khái niệm Fakelore: Thuật ngữ chỉ những tác phẩm được phóng tác, bắt chước theo khuôn thức của folklore (còn gọi là giả dân gian).
- Thuyết vạn vật hữu linh (animisme / animism): Cơ sở hình thành phương pháp phản ánh hiện thực kỳ ảo trong thần thoại, truyền thuyết và cổ tích thời nguyên thủy.
- Khái niệm tâm thức và biểu tượng gốc (archétype / cổ mẫu, cổ tượng): Cơ chế tồn tại của folklore trong vô thức cộng đồng và vô thức cá nhân; phương thức truyền bá văn hóa qua siêu mẫu được các nhà phân tâm học văn hóa gọi là sự "di truyền văn hóa".
- Khái niệm đồng sáng tạo, chế tác cốt truyện, và tiểu thuyết hóa cốt truyện dân gian.
Phương pháp luận và thao tác nghiên cứu bao gồm:
- Quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng nhằm xem xét hiện tượng nghệ thuật trong tiến trình vận động xã hội.
- Phương pháp luận của lý thuyết hệ thống nhằm xử lý mối quan hệ tương tác giữa hai hệ thống nghệ thuật độc lập (văn học dân gian và văn học viết).
- Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: phương pháp so sánh - đối chiếu (giữa văn bản dân gian và văn bản văn học), phương pháp phân tích tác phẩm, phương pháp tổng hợp và phương pháp thống kê tư liệu.
Nguồn ngữ liệu khảo sát:
- Hệ thống văn bản truyện cổ dân gian thuộc các thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn Việt Nam.
- Các tác phẩm văn xuôi tự sự (truyện ngắn, truyện cổ tích văn học, tiểu thuyết) của các tác giả Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2002, có liên hệ đối chiếu với tác phẩm Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Vai trò của truyện cổ dân gian trong đời sống văn hóa, xã hội và văn học
Chương I xác lập cơ sở lý luận và bức tranh tổng thể về sự hiện diện của truyện cổ dân gian qua hai bình diện: đời sống xã hội và tiến trình phát triển văn học.
Ở bình diện đời sống xã hội hiện đại, truyện cổ dân gian và văn hóa dân gian tồn tại trong tâm thức con người qua hai phương thức:
- Phương thức hữu thức: Lưu truyền qua kể miệng trong cộng đồng (như kể khan ở Tây Nguyên) hoặc ghi chép, in ấn thành sách; tiếp nhận thông qua học tập và rèn luyện có ý thức.
- Phương thức vô thức: Tồn tại dưới dạng các biểu tượng gốc (archétype), trầm tích trong ký ức tập thể và nảy sinh vào đời sống khi gặp điều kiện xã hội thuận lợi. Truyện cổ cung cấp các khuôn mẫu ứng xử định hình trong tiềm thức (ví dụ: các phản ứng tâm lý tương tự nhân vật trong Ba điều ước, Cây tre trăm đốt, sự mất cảnh giác trong Mị Châu Trọng Thủy, tính cách nhân vật Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, hoặc sự ghen tuông của chàng Trương). Về ngôn ngữ, các yếu tố folklore tham gia vào các lời nói phịa, trùng ngôn, thành ngữ và tục ngữ đời thường.
Về vai trò thúc đẩy và củng cố xã hội, luận án chỉ ra rằng các nhà hoạt động chính trị, tôn giáo luôn khai thác văn hóa dân gian:
- Kinh Thánh Cựu ước được xây dựng trên kho tàng văn hóa dân gian Do Thái cổ đại; Kinh Coran sử dụng văn hóa dân gian Ả Rập; kinh Jataka của Đạo Phật bắt nguồn từ truyện dân gian Ấn Độ.
- Nhà Chu (thế kỷ X - III TCN) đặt ra chức quan "tì quan" đi sưu tầm ca dao, truyện kể dân gian để nắm bắt dân tình; Khổng Tử biên soạn Kinh Thi dựa trên nguồn tư liệu này; các triều đại Hán tiếp nối qua Nhạc phủ.
- Tại Việt Nam, các triều Lý, Trần, Lê cho xây dựng đền miếu thờ các vị thần thoại, anh hùng dân tộc để khẳng định nền độc lập và thực hiện quá trình giải Hán hóa.
- Luận án dẫn chứng sự kiện quốc tế: Năm 1960, Ủy ban chuẩn chi của Hạ viện Hoa Kỳ cắt ngân sách tài trợ ngành Văn hóa dân gian do bị báo chí chỉ trích. Tuy nhiên, sau khi báo Nữu Ước thời báo ngày 23/4/1961 đưa tin cán bộ Việt Minh tại Lào vận dụng thành công dân ca, dân vũ Lào để vận động quần chúng, Quốc hội Hoa Kỳ đã lập tức cấp lại ngân sách đào tạo Tiến sĩ Văn hóa dân gian tại 8 trung tâm lớn.
Ở bình diện lịch sử văn học, truyện cổ dân gian đóng vai trò đặt nền móng cho các thể loại tự sự Việt Nam:
- Ghi chép trung đại: Ngoại sử kí (Đỗ Thiện), Báo cực truyện, Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú).
- Thể loại truyền kỳ: Thánh Tông di thảo (thế kỷ XV), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ, thế kỷ XVI), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm, thế kỷ XVIII), Tân truyền kì lục (Phạm Quí Thích, đầu thế kỷ XIX).
- Thể loại truyện thơ Nôm lịch sử và xã hội: Thiên Nam ngữ lục, Đại Nam Quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái), Tống Trân Cúc Hoa, Quan Âm Thị Kính, Bích Câu kì ngộ, và đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Văn học đầu thế kỷ XX: Hậu Trần dật sử (Phan Bội Châu), Quả dưa đỏ (Nguyễn Trọng Thuật), Lê Đại Hành và tiếng sấm đêm đông (Nguyễn Tử Siêu), Ngọn cờ vàng (Đinh Gia Thuyết).
Giai đoạn từ 1945 đến nay chia thành hai chặng với tính chất tiếp nhận khác nhau:
- Giai đoạn 1945–1975: Văn học phục vụ sự nghiệp cách mạng và chiến tranh nhân dân, thực hiện phương châm xác định đối tượng ("Viết cho ai?"), nội dung ("Viết cái gì?") và hình thức ("Viết như thế nào?") theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn kiện Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh. Việc tiếp nhận truyện cổ diễn ra theo chiều thuận, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, tinh thần cộng đồng và giáo dục đạo đức thế hệ trẻ.
- Giai đoạn sau 1975 (đặc biệt từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986): Văn học chuyển hướng vào chiều sâu thế sự, nhân sinh, khám phá bản thể cá nhân và sử dụng truyện cổ dân gian như một phương thức tạo độ lùi nghệ thuật để suy xét hiện thực đương đại.
Chương II: Truyện cổ dân gian và một số hình thức mô phỏng, phát triển cốt truyện trong văn học Việt Nam giai đoạn trước 1975
Chương II tập trung phân tích hai cấp độ kế thừa và sáng tạo truyện cổ trong văn xuôi giai đoạn 1945–1975:
Cấp độ 1: Nhà văn viết truyện cổ tích
- Hệ thống thẩm mỹ tương đồng: Cổ tích dân gian và cổ tích văn học gặp gỡ ở đề tài đấu tranh giữa thiện và ác, ước mơ công lý và tinh thần nhân văn.
- Sự chế tác của nhà văn: Nhà văn dựa vào cốt truyện dân gian có sẵn, bảo tồn tính toàn vẹn về chủ đề tư tưởng nhưng thực hiện thao tác văn học hóa bằng cách thay thế phong cách kể miệng bằng văn phong sách vở, bổ sung miêu tả cảnh vật, khắc họa tâm lý nhân vật và lồng ghép lời bình luận. Tiêu biểu gồm:
- Phạm Hổ: Cất nhà giữa hồ, Ngựa thần từ đâu tới.
- Tô Hoài: Trê và Cóc, Chuyện ông Gióng, Ông Trạng Chuối, tập truyện Hổ và Gấu đi cày, Voi biết bay.
- Nguyễn Huy Tưởng: Tìm mẹ, An Dương Vương xây thành ốc, Con cóc là cậu ông Giời, Thằng Quấy, Truyện bánh chưng, Con chim trĩ lông trắng.
- Vũ Tú Nam: Bài học tốt, Chuyện Rùa vàng.
- Sáng tác cổ tích hiện đại theo thi pháp dân gian: Nhà văn không mượn cốt truyện có sẵn mà sử dụng kết cấu, mô típ và nhân vật dân gian để tạo ra tác phẩm mới phục vụ thiếu nhi. Điển hình là Tô Hoài với Đám cưới Chuột, Chú Cuội ngồi gốc cây Đa; và Phạm Hổ với tập hợp 47 truyện về sự tích các loài hoa, quả, củ nhằm giáo dục tình cảm gia đình, tình bạn và trách nhiệm xã hội.
Cấp độ 2: Truyện cổ dân gian và xu hướng tiểu thuyết hóa
- Cơ sở hư cấu: Mở rộng dung lượng từ cốt truyện ngắn vài trang thành tác phẩm tiểu thuyết quy mô hàng trăm trang, gắn kết các biến cố dân gian với bối cảnh lịch sử dân tộc.
- Thủ pháp nghệ thuật phát triển cốt truyện:
- Loại bỏ các yếu tố biến ảo hoang đường nguyên thô của truyện dân gian để tăng tính hợp lý của đời sống thực.
- Bổ sung hệ thống nhân vật phụ và tuyến sự kiện phụ.
- Miêu tả chi tiết đời sống nội tâm và tâm lý nhân vật.
- Xâu chuỗi, kết nối nhiều truyền thuyết, thần thoại thành một cốt truyện phức hợp.
- Tác phẩm tiêu biểu: Bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài gồm Đảo hoang (phát triển từ truyền thuyết Mai An Tiêm), Nhà Chử (từ truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung), và Chuyện nỏ thần (từ truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu - Trọng Thủy).
Chương III: Truyện cổ dân gian và một số hình thức sáng tạo nghệ thuật mới trong văn học sau 1975
Chương III làm rõ sự chuyển đổi hệ hình tư duy nghệ thuật sau năm 1975 và sau cột mốc Đổi mới năm 1986:
- Bối cảnh và động lực: Sự chuyển biến từ cảm hứng sử thi ngợi ca sang cảm hứng thế sự, đời tư; nhu cầu phản ánh những mặt trái của nền kinh tế thị trường và sự xơ cứng trong lối sống công nghiệp.
- Đặc điểm tiếp nhận mới: Nhà văn sử dụng truyện cổ dân gian không còn thuần túy theo chiều thuận mô phỏng mà coi truyện cổ là điểm xuất phát, là phương tiện đối thoại nghệ thuật, nhại cổ tích (parody) và tái cấu trúc các biểu tượng văn hóa.
- Tác giả và tác phẩm khảo sát: Khảo sát các truyện ngắn của Hoà Vang, Nguyễn Huy Thiệp (tiêu biểu như tập truyện Những ngọn gió Hua Tát và các tác phẩm đối thoại với nhân vật dân gian như Trương Chi), Nguyễn Quang Thiều, Ngô Tự Lập, cùng các cây bút mới như Bão Vũ, Lưu Sơn Minh.
- Giá trị tư tưởng: Sử dụng không gian và thời gian truyện cổ để tạo độ lùi thẩm mỹ, soi chiếu các xung đột nhân sinh, sự tha hóa đạo đức, đồng thời tìm kiếm những mầm thiện và khát vọng nhân bản trong xã hội hiện đại.
| Giai đoạn văn học |
Xu hướng tiếp nhận chính |
Thao tác và thủ pháp nghệ thuật |
Tác giả tiêu biểu |
Tác phẩm dẫn chứng |
| 1945–1975 |
- Mô phỏng, chế tác cốt truyện cổ - Sáng tác cổ tích hiện đại cho thiếu nhi - Tiểu thuyết hóa truyện cổ |
- Giữ nguyên chủ đề tư tưởng thuận chiều - Bổ sung miêu tả, tâm lý - Loại bỏ chi tiết hoang đường, xâu chuỗi chuỗi sự kiện |
Tô Hoài, Phạm Hổ, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Tú Nam, Võ Quảng |
Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần, 47 sự tích hoa quả củ, Tìm mẹ, Trê và Cóc |
| Sau 1975 |
- Đối thoại nghệ thuật với truyện cổ - Nhại cổ tích (parody) - Tái cấu trúc mô típ, biểu tượng |
- Lấy truyện cổ làm điểm xuất phát - Tạo độ lùi phản ánh thế sự, nhân sinh - Đặt lại vấn đề đạo đức, triết lý |
Nguyễn Huy Thiệp, Hoà Vang, Nguyễn Quang Thiều, Ngô Tự Lập, Bão Vũ, Lưu Sơn Minh |
Những ngọn gió Hua Tát, các truyện ngắn cải biên truyền thuyết, cổ tích |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định ba đóng góp mới về mặt khoa học:
- Xác định một cách cụ thể truyện cổ dân gian và truyện trong sáng tác của nhà văn là hai hệ thống nghệ thuật mang tính đặc trưng, chuyên biệt nhưng thường xuyên tác động qua lại sâu sắc trên phạm vi rộng lớn và trong tiến trình lịch sử lâu dài.
- Vận dụng lý luận đa chiều để khảo sát hệ thống hiện tượng đồng sáng tạo trong tác phẩm của các nhà văn giai đoạn trước năm 1975, làm rõ các hình thức bắt chước, mô phỏng và phát triển cốt truyện nhằm tạo ra các tác phẩm có địa chỉ tiếp nhận rõ ràng (sáng tác cho thiếu nhi) và các tiểu thuyết lịch sử phát triển từ cốt truyện dân gian.
- Khảo sát một vệt hiện tượng mới của các nhà văn sau năm 1975 sử dụng truyện cổ dân gian làm điểm xuất phát để khơi thông các hình thức sáng tạo mới, hướng tới phản ánh các vấn đề thế sự, nhân sinh của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Về mặt ứng dụng và giải pháp: Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ giúp định hướng hoạt động sáng tác văn học đương đại trong việc khai thác chất liệu truyền thống; đồng thời phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy văn học trong nhà trường và công tác biên tập xuất bản sách chuyên ngành khoa học xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Đề tài chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở thể loại truyện (văn xuôi tự sự), không bao quát các thể loại khác như thơ ca trữ tình, kịch bản sân khấu hay các loại hình nghệ thuật biểu diễn.
- Khảo sát tập trung ở các cấp độ cốt truyện, thi pháp thể loại và phong cách nghệ thuật; các mối quan hệ ảnh hưởng ở tầng bậc biểu tượng trừu tượng sâu hơn chưa được triển khai toàn diện.
- Chỉ khảo sát một số tác giả đại diện được lựa chọn; chưa thể bao quát toàn bộ các cây bút xuất hiện trên văn đàn sau năm 1975.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi và cập nhật sự vận động của các hiện tượng văn học tự sự đương đại trong việc tiếp thu các yếu tố văn hóa, văn học dân gian.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại hình nghệ thuật khác như điện ảnh, sân khấu, tạo hình trong mối tương quan với folklore.
- Ứng dụng lý thuyết phân tâm học văn hóa và thi pháp học hiện đại để giải mã sâu hơn các biểu tượng gốc trong văn xuôi Việt Nam đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học dân gian, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Tham khảo khung lý thuyết về mối quan hệ giữa hai hệ thống nghệ thuật và phương pháp phân tích so sánh văn bản tự sự.
- Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Sử dụng tư liệu phân tích các tác phẩm của Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Phạm Hổ để phục vụ giảng dạy các bài học văn học thiếu nhi và văn học hiện đại trong chương trình đào tạo.
- Biên tập viên xuất bản sách khoa học xã hội và nhân văn: Nắm bắt các phương thức chế tác và chuyển hóa chất liệu truyền thống trong các bản thảo hiện đại.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương II với các phân tích chi tiết về thủ pháp tiểu thuyết hóa truyện cổ của Tô Hoài (Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần) và Chương I về cơ chế tiếp nhận văn hóa dân gian qua các tầng vô thức, hữu thức.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "Fakelore" được luận án sử dụng nhằm chỉ hiện tượng gì?
Thuật ngữ Fakelore (giả dân gian) được luận án sử dụng để chỉ chung những tác phẩm nghệ thuật được nhà văn phóng tác, mô phỏng hoặc bắt chước theo các khuôn thức, cấu trúc nghệ thuật của folklore nhằm tạo ra các tác phẩm mới (như truyện cổ tích viết cho thiếu nhi) dựa trên sự đồng sáng tạo với văn học dân gian.
2. Văn hóa dân gian tồn tại trong tâm thức con người hiện đại qua những con đường nào?
Theo luận án, văn hóa dân gian tồn tại qua hai con đường: con đường hữu thức (kể chuyện truyền miệng, ghi chép thành văn bản, in ấn qua sách vở và tiếp nhận qua học tập, rèn luyện) và con đường vô thức (tồn tại dưới dạng các biểu tượng gốc - archétype, cổ mẫu trong ký ức tập thể, truyền bá qua cơ chế di truyền văn hóa và tự động định hình lối ứng xử, ngôn ngữ đời thường).
3. Sự khác biệt cơ bản giữa việc tiếp nhận truyện cổ dân gian ở giai đoạn 1945–1975 và giai đoạn sau 1975 là gì?
Giai đoạn 1945–1975 tiếp nhận truyện cổ theo chiều thuận nhằm ngợi ca lý tưởng cộng đồng, giáo dục lòng nhân ái cho thiếu nhi và khơi dậy tinh thần yêu nước thông qua mô phỏng cốt truyện và tiểu thuyết hóa. Giai đoạn sau 1975 (thời kỳ Đổi mới) tiếp nhận truyện cổ như một xuất phát điểm để đối thoại nghệ thuật, nhại cổ tích, tạo độ lùi thẩm mỹ phản ánh các vấn đề thế sự, nhân sinh và sự tha hóa đạo đức.
4. Nhà văn Tô Hoài đã sử dụng những thủ pháp nào để tiểu thuyết hóa các truyện cổ tích, truyền thuyết dân gian?
Tô Hoài đã thực hiện các thủ pháp: loại bỏ các chi tiết biến ảo hoang đường nguyên thô; bổ sung hệ thống nhân vật phụ và tuyến biến cố mới; đi sâu miêu tả đời sống nội tâm, tâm lý nhân vật; đồng thời kết nối, xâu chuỗi nhiều truyền thuyết, thần thoại vào một chỉnh thể tự sự quy mô lớn trong các tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần.
5. Sự kiện quốc tế nào được luận án dẫn chứng để chứng minh sự quan tâm của nhà nước đối với văn hóa dân gian trong thời kỳ có biến chuyển xã hội?
Luận án dẫn chứng sự kiện năm 1960 khi Hạ viện Hoa Kỳ cắt ngân sách ngành Văn hóa dân gian, nhưng đến ngày 23/4/1961, sau khi báo Nữu Ước thời báo đưa tin cán bộ Việt Minh tại Lào thu phục quần chúng bằng việc hát dân ca và múa dân vũ Lào, Quốc hội Hoa Kỳ đã lập tức phê duyệt ngân khoản đào tạo Tiến sĩ Văn hóa dân gian tại 8 trung tâm lớn của đất nước.
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Thị Trâm đã hệ thống hóa vai trò và sức sống của truyện cổ dân gian trong đời sống văn hóa xã hội và tiến trình phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2002. Công trình làm rõ hai quy luật tiếp nhận chính: xu hướng mô phỏng, tiểu thuyết hóa thuận chiều trong giai đoạn văn học cách mạng 1945–1975 và xu hướng đối thoại, sáng tạo mới phản ánh thế sự nhân sinh trong giai đoạn sau 1975. Thông qua các phân tích văn bản cụ thể, luận án đã chứng minh văn học dân gian vừa là nền tảng hình thành thể loại, vừa là nguồn tài nguyên thẩm mỹ liên tục được tái sinh trong văn học viết hiện đại.