phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc triển khai thành 3 chƣơng: 10 Chƣơng 1. Quan hệ văn hóa - văn học và Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ. Biểu hiện của văn hóa Việt trong Vũ trung tùy bút. Phƣơng thức thể hiện và ý nghĩa của văn hóa Việt trong Vũ trung tùy bút.
11 CHƢƠNG 1 QUAN HỆ VĂN HÓA - VĂN HỌC VÀ VŨ TRUNG TÙY BÚT CỦA PHẠM ĐÌNH HỔ 1. Văn học - văn hóa và hƣớng tiếp cận văn học từ văn hóa 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa Việt 1. Khái niệm về văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[1, tr. Định nghĩa này phản ánh hoạt động sáng tạo của các cộng đồng ngƣời trong mối quan hệ với tiến trình lịch sử phát triển của cộng đồng trong một quá trình lịch sử nhất định, từ đó tạo nên những giá trị nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [50, tr102]. Định nghĩa trên của Hồ Chí Minh giúp ngƣời đọc hiểu văn hóa một cách cụ thể và đầy đủ hơn, “bởi lẽ, mọi hoạt động của con ngƣời xét về bản chất đều vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống”, qua thực tiễn và thời gian, những sinh hoạt đó đƣợc lặp lại thành thói quen, phong tục, chuẩn mực, tích lũy các giá trị vật chất và tinh thần, truyền từ đời này sang đời khác, trở thành tài sản quý giá mang bản sắc của mỗi cộng đồng, góp phần làm nên di sản văn hóa của tất cả nhân loại. 12 Có thể nói: “Văn hóa là tất cả những giá trị hữu hình do con ngƣời sáng tạo ra trong hoàn cảnh của tự nhiên. Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng và nhiều cách hiểu, liên quan đến mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời.
Văn hóa bao gồm tất cả các sản phẩm của con ngƣời, do đó, văn hóa bao gồm hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội nhƣ ngôn ngữ, ý tƣởng, giá trị và khía cạnh vật chất nhƣ nhà cửa, quần áo, xe cộ, v. Cả hai khía cạnh đều cần thiết để tạo ra một sản phẩm, nó là một phần của văn hóa”. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thƣờng đƣợc hiểu là thơ ca, nghệ thuật, kịch, điện ảnh và các loại văn học nghệ thuật khác, và “trung tâm văn hóa” có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thƣờng khác: Văn hóa là một lối sống, bao gồm cách ăn, cách mặc, cách ứng xử và niềm tin, tri thức tiếp nhận.
Từ văn hóa có nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông thƣờng để chỉ học vấn và cách sống. Theo nghĩa chuyên nghiệp, nó dùng để chỉ một giai đoạn phát triển. Nói rộng ra, văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ, từ những sản phẩm hiện đại đƣợc tinh chế đến tín ngƣỡng, phong tục, tập quán, lối sống… + Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.
+ Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đƣa ra một loạt quan niệm về văn hóa: - “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. 13 - Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ tƣơng tác giữa con ngƣời với tự nhiên và môi trƣờng xã hội. - Văn hóa là hoạt động của con ngƣời nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần (nói chung); - Văn hóa là tri thức, tri thức khoa học (nói chung); - Văn hóa là sự phát triển trình độ cao của các hoạt động xã hội và là biểu hiện của văn minh; - Văn hóa là cụm từ chỉ nền văn hóa của các giai đoạn lịch sử cổ đại, đƣợc xác định dựa trên tập hợp các di tích văn hóa có đặc điểm tƣơng đồng, nhƣ văn hóa hòa bình, văn hóa Đông Sơn.” Năm 1997, trong cuốn “Xã hội học về văn hóa” của Đoàn Văn Chúc do Viện Văn hóa và nhà xuất bản Văn hóa Báo chí - Thông tin xuất bản, tác giả cho rằng: Văn hóa - không nơi nào có và không có nơi nào không có. Đúng! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con ngƣời dựa trên thế giới tự nhiên đều là văn hóa; ở đâu có con ngƣời, ở đó có văn hóa.
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [54, tr132]. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.” Nhƣ vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Khái niệm về văn hóa Việt Văn hóa Việt đƣợc hiểu và trình bày dƣới các quan niệm khác nhau: Quan niệm thứ nhất: đó là “đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa của ngƣời Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ nhƣ là lịch sử văn minh của ngƣời Việt” [40, tr123]. Quan niệm thứ hai: “Văn hóa Việt Nam là toàn bộ nền văn hóa của dân tộc Việt Nam sinh sống trên đất Việt, chỉ có nền văn hóa của mỗi dân tộc, không có văn hóa quốc gia/ dân tộc”.
Quan niệm thứ ba: “Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa quốc gia/dân tộc, nền văn hóa dân tộc thống nhất đƣợc hình thành trên cơ sở các sắc thái văn hóa đa dân tộc. Khái niệm quốc gia/ dân tộc dùng để chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân của quốc gia đó bị ràng buộc với nhau bởi các yếu tố tạo nên một quốc gia. Khái niệm này hiện là khái niệm phổ biến nhất trong giới nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam, vì vậy nội hàm của văn hóa Việt Nam sẽ theo khái niệm thứ ba là văn hóa. Văn hóa Việt Nam đƣợc trình bày theo chiều hƣớng văn hóa dân tộc” [50, tr.
Văn hóa Việt Nam theo quan niệm văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở các sắc thái của văn hóa dân tộc, đƣợc biểu hiện ở ba đặc điểm chính: Đặc điểm thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng về nhiều mặt, Mỗi dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có những phong tục tập quán, có các lễ hội khác nhau và đa số là hƣớng tới cái tốt đẹp. Họ có chung niềm tin vào cái Thiện, cái Tốt, cái Đẹp và nhìn cung các tôn giáo chân chính cung nhƣ vậy, giáo lí đều hƣớng con ngƣời đến Chân, Thiên, Mỹ. 15 Đặc điểm thứ hai: Mỗi vùng miền, mỗi địa phƣơng lại có những đặc trƣng riêng, điều này là bởi những sự khác biệt về địa hình, địa chất, khí hậu cũng nhƣ sự phân bố các cộng đồng dân cƣ trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc điểm thứ ba: Trong sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, các vùng miền và cả giữa các quốc gia, đặc biệt Việt Nam có biên gới rất dài với Trung Quốc và chịu hàng nghìn năm đô hộ của phƣơng Bắc, nên văn hóa Việt nam cũng có những biến động, có só sự đảo thải cũng nhƣ bổ sung các yếu tố mới làm giàu đẹp thêm nền văn hóa dân tộc.
Nhìn từ bên ngoài, một số yếu tố thƣờng đƣợc coi là đặc trƣng của văn hóa Việt Nam bao gồm thờ thờ cúng tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, quan hệ làng xã, những nét đẹp trong cuộc sống và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày… 1. Quan hệ giữa văn học và văn hóa Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Đỗ Thị Minh Thúy chỉ ra rằng: “Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị,… tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vao trò đại diện cho văn hóa.] Văn học là thành tố cơ bản của văn hóa, văn học là sự ghi chép, phản ánh hiện thực của cuộc sống trên quan điểm của các tác giả văn học, và vì thế nó có phản ánh một các chân thực nền văn hóa dân tộc trên nhiều phƣơng diện nhƣ truyền thống văn hóa, lễ hội, tôn giáo, tín ngƣỡng, phong tục tập quán, tri thức dân gian,, các danh thắng, đền đài,… Có thể thấy, xét về một ý nghĩa nào đó, tác giả văn học là ngƣời đã dùng văn học để viết nên lịch sử tâm hồn dân tộc mình để thức nhận những kí ức văn hóa dân tộc nơi ngƣời đọc. Khi tiếp cận các tác phẩm văn học cũng cũng đồng nghĩa là tiếp xúc với 16 những giá trị văn hóa của xã hội đƣợc nhà văn phản ánh, đặc biệt là đối với những tác phẩm văn học viết về các đề tài liên quan đến văn hóa nhƣ các truyền thuyết lịch sử, lễ hội, phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, ….