CHƯƠNG 1. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN 1. Thời đại - nhà thơ 1. Thời đại Cuộc xâm lăng của Đế Quốc Mỹ là một thử thách khốc liệt và khủng khiếp chưa từng có đối với dân tộc Việt Nam.
Đó là một thử thách mà dân tộc Việt Nam ta buộc phải chiến thắng, bởi nếu thất bại sinh mệnh dân tộc có thể không còn. Đối thủ của chúng ta là một siêu cường về kinh tế, kỹ thuật và quân sự, trong khi dân tộc chúng ta nhỏ bé, nghèo khổ, đất chật người đông, vũ khí thô sơ. Nhưng một dân tộc có truyền thống văn hoá, tinh thần lâu đời, có truyền thống quật cường bất khuất, nghìn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm thì không thể chịu khuất phục một cách dễ dàng. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, người ta chứng kiến một không khí sống và chiến đấu hào hùng, luôn dâng trào và đầy ắp trong tâm hồn mỗi con người yêu nước, và do đó, không thể nào khác được, dâng trào trong trái tim mỗi nhà thơ.
Cảm hứng về cái thiêng liêng, cái anh hùng trở thành một cảm hứng chủ đạo trong văn học cách mạng. Đó là cơ sở xã hội - lịch sử của sự ra đời của hàng loạt tác phẩm trường ca đặc sắc, trong đó, đại diện tiêu biểu nhất là những trường ca của Thu Bồn. Nhà thơ Nhà thơ Thu Bồn vừa qua đời năm 2003. Ông để lại một gia tài văn học hết sức đồ sộ về thơ: Bài ca chim Chơrao, Tre xanh, Mặt đất không quên, Quê hương mặt trời vàng, Badan khát, Campuchia hy vọng, Người vắt sữa bầu trời, 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên, tôi nhớ mưa nguồn, trường ca tuyển tập.
còn về văn xuôi có: Đánh đu cùng dâu bể, Dưới đám mây màu cánh vạc, Hòn đảo chân Ren, Dòng sông tuổi thơ, Đỉnh núi, Mắt bồ câu và rừng phi tiễn, Vùng pháo sáng, cửa ngõ miền tây,. Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng, sinh ngày 11 - 12 - 1935 tại Điện Thắng - Điện Bàn - Quảng Nam. Mười hai tuổi tham gia thiếu sinh quân làm liên lạc. Ông có một tuổi thơ hồn nhiên, gắn bó với kỷ niệm của quê hương.
Năm 1945-1946, Thu Bồn lúc đó mới 9-10 tuổi, là cậu bé khác tính anh trai, sôi nổi, bạo dạn, tham gia mọi tổ 15 chức trẻ con trong làng: hội giữ trâu, hội học trò, hội đánh nhau. Đi đâu, Thu Bồn cũng có cái ná cao su thắt lưng quần, và trèo xoài hái trộm không có ai bằng. Thu Bồn cũng thường ra chơi ở Mả Dứa, nơi khô ráo, sạch sẽ. Nơi đây đất thổ, người làm đồng thường nghỉ khi từ đồng về, cả trâu bò cũng được nhẩn nha nhai lại, liu ríu mắt nhắm.
êm đềm và say đắm bao nhiêu câu hát dân gian. Hát kiến tạo, bài chòi, chọc ghẹo cũng thường xuyên diễn ra ở đây , hầu như suốt trong năm, nhất là vào những ngày đạp xe nước, xẽ trân ngày mùa. Thu Bồn là một người con có hiếu trong gia đình, thương em. Ông thương mẹ lắm, cứ mỗi lần gặp mẹ lại ôm mẹ khóc.
Bên cạnh đó ông là một nhà thơ, là người chiến sĩ chiến đấu hết mình cho Tổ quốc, viết cạn hồn thơ cho người đọc mai sau. Thu Bồn yêu quê hương, yêu tha thiết nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Anh đã từng khát vọng trở về "Hôn mảnh đất quê hương, hẹp như thể một con đường qua lại, biển nhiều hơn là nước, một giọt tận trời cao, một giọt tận đất sâu". Trở về trên mảnh đất ấy để làm cuộc chiến tranh giải phóng hằng mơ ước.
Cũng chính vì thế, những tác phẩm của Thu Bồn đạt giá trị rất cao, tập trường ca "Bài ca chim Chơrao" đã được Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tặng giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu. Rồi niềm vui lại đến với Thu Bồn như lúa được mùa: năm 1973, ông được nhận Giải thưởng quốc tế của Hội Nhà văn Á-Phi - Giải thưởng Lotus cùng với những nhà văn Á-Phi được tặng giải Lotus như Tổng thống Ănggola Nét tô, Katep Laxin (Angiêri), Gia Hia (Ấn Độ). Thu Bồn dược giải thưởng người đọc thơ hay trong đêm thơ Á-Phi. Rồi Thu Bồn có dịp sang Ấn Độ, ông tâm sự: "Mang vinh quang còn ấm tình người tôi đến Ấn Độ.
Thật không có gì tả nổi tấm lòng của những người dân Ấn. Các nhà văn và các em thiếu nhi ra tận sân bay đón, choàng vòng hoa vạn thọ vào cổ chúng tôi tượng trưng cho lòng mến khách…" (Thu Bồn - Bài ca chim Chơrao và trái tim tôi - Gói nhân tình - Hoàng Minh Nhân biên soạn). Thu Bồn viết hơn hai mươi đầu sách, cả thơ và văn xuôi, "Thu Bồn sống và viết gắn với hành trình mưu cầu độc lập, tự đo, khát khao hạnh phúc của nhân dân, đất nước. Riêng mảng thơ, Thu Bồn là nhà thơ của những câu thơ gây ấn tượng mạnh mẽ, 16 mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết nhỏ qua cách tổ chức câu chữ của anh luôn gây bùng nổ cảm xúc, hiệu quả "lay lan" thường liên tưởng ở người đọc.
Thu Bồn viết không ngừng nghỉ, tâm hồn bay đi hết nơi này nơi khác. Cứ nghĩ rằng anh sẽ dừng nghỉ ở suối Lồ Ồ, nhưng không anh lại đi, lại trăn trở và lại sáng tạo còn mãnh liệt hơn. Trong "Lá cỏ đời xanh như thể chẳng vì ai" trích "Gói nhân tình", nhà văn Nguyễn Chí Trung có viết: "Như mây lang thang, Thu Bồn bay đi khắp núi khắp làng. Cứ ngỡ rằng nhịp cầu cong và con đường thẳng, một đời đi đi mãi chẳng về đâu.
Nhưng cuối cùng Thu Bồn ghé lại suối Lồ Ồ. Tên con suối nghe xa như tiếng thác, ở gần thành thị mà tưởng đâu như ở tận trên rừng. Anh bằng lòng dừng lại ở bến này, ở con đò này. Phải chăng do anh chợt hiểu "Thế là hạ đã qua trong giây lát, giọt thơ đã thánh thót thu vàng, chỉ còn là khát vọng mặt trời bóng xế".
Không, anh đưa tay quờ quạng. Ủa, "sửa soạn trở về lại hóa ra đi". Và anh lại đi, lại viết, cồn cào và mãnh liệt: "Phải ra đi vào những bài ca dang dở/ Với cây bút vượt qua cửa mở/ Sử sách đoạn này ghi hết dưới bàn chân". Hình tượng nhân vật trong trường ca Thu Bồn: Thực tế cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân, qua tâm hồn tài hoa và cảm hứng anh hùng nồng cháy của nhà thơ, đã kết tinh thành hình tượng văn học sống động.
Một tác phẩm ra đời không thể thiếu những hình tượng. Và đằng sau những hình ảnh cả một quá trình tìm tòi và khám phá không ngừng của người nghệ sĩ. Thu Bồn với vai trò là một người nghệ sĩ thực thụ đã rất thành công khi tạo nên những hình tượng tiêu biểu về người chiến sĩ cách mạng và người phụ nữ anh hùng. Đến với trường ca Thu Bồn cùng lúc ta có thể cảm nhận được nhiều giá trị.
Đó có thể là giá trị hiện thực thể hiện qua các đoạn tự sự, tường thuật những sự kiện, diễn ra trong những tháng năm con người sống đầy cam go và thử thách; đó cũng có thể là cảm xúc trữ tình mãnh liệt, xót xa từ chính những yếu tố thật đến nao lòng; và rõ hơn cả có lẽ là chất anh hùng của chính những đối tượng nhân vật được miêu tả. Đó là hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ kiên trung bất khuất xả thân vì nền tự do, độc lập của dân tộc; đó là hình ảnh những người mẹ, người vợ, người chị, người em hy sinh tuổi xuân, chịu 17 nhiều thương đau vất vả, tảo tần mà trung hậu đảm đang gan dạ. Tất cả những điều đó hội ngộ trong những bản trường ca của ông khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên xen lẫn niềm yêu thương, kính trọng đến bồi hồi xúc động. Hình tượng người chiến sĩ Lịch sử dân tộc ghi dấu những chiến công hào hùng của nhân dân ta chống giặc ngoại xâm.
Cuộc kháng chiến với khẩu hiệu: "Toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh" tự bản thân nó đã sản sinh ra những con người anh hùng. Dưới ngòi bút của Thu Bồn - người cầm viết và cũng chính là người cầm súng, hình tượng người chiến sĩ lại càng hiện lên sống động chân thật, những cảm xúc vàng được thử lửa rực sáng, những nghĩ suy được phát khởi ở thời điểm khi "Dân tộc ta mang trái tim chiến đấu" (Bài ca chim Chơrao). Không ngẫu nhiên Thu Bồn lại chọn thể loại trường ca để sáng tạo. Còn thể loại nào phù hợp hơn chăng để phản ánh hết cái hoành tráng, cái mãnh liệt hào hùng của một thời vang dội khói lửa? Chất liệu anh thu thập được trả bằng mồ hôi công sức, bằng máu, bằng sự anh dũng nhiệt tình của một trái tim người lính nên rất dễ hiểu khi hình tượng người chiến sĩ của Thu Bồn lại gần gũi và, dễ thẩm thấu vào lòng người đọc như thế.
Có lẽ do nó khởi mạch không đơn thuần từ ngòi bút mà đã ngấm qua tim tác giả như một dòng máu. Hình tượng các anh được xây dựng rất chân thật. Các anh đến với cách mạng từ lòng nhân dân, từ khắp mọi vùng miền của đất nước. Khác quê hương khiến mỗi người lính mang trên mình một phong thái riêng nhưng lại gặp nhau ở điểm chung duy nhất đó là lí tưởng và nhiệt tình cách mạng sục sôi.
Đến với bản trường ca "Bài ca chim Chơrao" ta bắt gặp hai người lính trẻ, hai người lính có hai cái tên giản dị Hùng và Rin. Mỗi người có một xuất thân khác nhau nhưng lại sát cánh trên cùng một chiến trường Tây Nguyên ác liệt. Rin là người con đến từ chính mảnh đất Tây Nguyên "nắng tắm đẫm từng tấc đất bazan" đã được Thu Bồn miêu tả qua những hình tượng thơ rất đẹp: "Đêm ánh lửa hồng làm vui nóc nhỏ / Con dòng đòi ăn liến thoắng tối ngày / Con chó vàng cụp đuôi sủa cọp / Lũ trai làng phóng giáo như bay." (Thu Bồn - Bài ca chim Chơrao) 18 Cuộc sống thanh bình của lũ làng Tây Nguyên dưới ánh lửa đêm bập bùng hết sức sống động. Những hình ảnh đẹp quê hương với "những con đường đi không dốc rắn bò", "nai nhảy từng bầy trên đám cỏ non" đã ăn sâu vào khối óc của người lính trẻ Tây Nguyên.
Khi cuộc sống thanh bình trong tiềm thức của mỗi người đã trở thành điều bình thường, thì chiến tranh đến với bộ mặt tàn phá, hủy diệt ác quỷ của nó đã trở thành điều bất thường. Thời gian chiến tranh không kéo dài nhưng dư âm của nó thì còn chấn động đến mãi mãi.