Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Diện mạo truyện ngắn nữ đương đại trong sự vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới Chương 3: Truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật Chương 4: Đặc trưng thể loại truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 4 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lí luận về tƣ duy nghệ thuật 1. Khái niệm tư duy nghệ thuật Các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất nhận định rằng: công cuộc đổi mới là trung tâm của dòng chảy văn chương Việt Nam đương đại. Bắt đầu từ cái mốc này (năm 1986), diễn trình văn học nước ta có sự “gia tốc” mạnh mẽ với những biến chuyển lớn lao trên tất cả các phương diện (sáng tác, lí luận- phê bình.
Cũng bắt đầu từ thời điểm này, với yêu cầu của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa VI (thể hiện qua Nghị quyết 05) là “đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” trong văn nghệ, vấn đề “tư duy nghệ thuật- tư duy văn học” đã trở thành một đối tượng cần được nghiên cứu. Những ghi nhận nhanh nhạy của các nhà lí luận- phê bình văn học: Mấy ghi nhận về sự đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta thập kỷ qua- Trần Đình Sử (1986) [78], Đôi nét về một tư duy văn học mới đang hình thành- Nguyên Ngọc (1990) [58], Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi- Mai Hương (2006) [35]. chứng tỏ vai trò “hạt nhân” của tư duy nghệ thuật đối với sự đổi mới văn học. Tuy nhiên, việc xuất phát từ những kiến thức lí luận để tường minh khái niệm, đặc trưng, các phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật trước khi đi vào những biểu hiện cụ thể của nó dường như chưa được chú trọng trong các bài viết trên.
Theo Từ điển tiếng Việt, tư duy là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [67, tr. Trong các giáo trình triết học, theo quan điểm phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, thuật ngữ “tư duy” xuất hiện gắn liền với thuật ngữ “tư duy trừu tượng” trong sự khái quát con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn- đó 5 z là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [12, tr. Với tư cách là một khâu trong quá trình nhận thức, tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao hơn (so với giai đoạn nhận thức cảm tính) của quá trình nhận thức. “Đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan.
Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất, có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng (.) được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán và suy lý” [12, tr. Như vậy, qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những khía cạnh mang tính bản chất của khái niệm “tư duy”: đó là hoạt động nhận thức lí tính của con người; mục đích là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan; đặc trưng là phản ánh, truy tìm các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, của con người đối với thế giới khách quan, con người với con người, từ đó rút ra tri thức mới về sự vật, hiện tượng. Dựa trên các tiêu chí khác nhau chúng ta có thể có nhiều cách phân loại tư duy. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách phân loại căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội như tác giả Nguyễn Bá Thành là khá hợp lý.
Theo đó, tư duy có thể được phân loại thành các nhóm lớn sau đây: tư duy khoa học, tư duy tôn giáo và tư duy nghệ thuật (xin xem thêm phần “Phân loại tư duy theo phương pháp” [86, tr. Trong các sách giáo trình Lí luận văn học ([25],[50]), thay vì việc đưa ra một định nghĩa về tư duy nghệ thuật các tác giả thường chỉ trình bày những đặc trưng của nó. Thiết nghĩ việc định hình khái niệm này bằng một định nghĩa (dẫu không thể toàn vẹn về nó) là một việc làm cần thiết để từ đó chúng ta đi sâu phân tích các khía cạnh đặc thù của kiểu tư duy này. Chúng tôi đồng thuận với quan điểm của tác giả Nguyễn Bá Thành khi ông dùng thuật ngữ “tư duy nghệ thuật” để chỉ phương thức tư duy sáng tác trong các ngành nghệ thuật như văn học, hội họa, âm nhạc, điêu khắc.
Và theo đó, tư duy nghệ thuật có thể được định nghĩa “là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [86, tr. Đặc trưng của tư duy nghệ thuật Về bản chất, tư duy nghệ thuật cũng là một hoạt động nhận thức hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ. Nhưng khác với tư duy khoa học lấy tư duy lôgic làm nòng cốt, kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật là tư duy hình tượng. Trong sự đối sánh hai kiểu tư duy này (lôgic và hình tượng), chúng ta có thể rút ra được những nét đặc trưng của tư duy nghệ thuật.
Tư duy lôgic là quá trình thâm nhập vào bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng. Trong quá trình tư duy lôgic, những cái ngẫu nhiên, cá biệt từng bước bị gạt bỏ để nắm bắt cái cốt lõi, cái phổ quát, cái chung của các lớp sự vật, hiện tượng. Sự trừu tượng hóa trong tư duy lôgic là quá trình phản ánh thế giới bằng các khái niệm, phán đoán, công thức, mô hình. Trong khi đó, tư duy hình tượng lại phản ánh cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật- sự khái quát hóa không rời bỏ mà gắn liền, thể hiện qua cái cá thể, các biểu tượng trực quan.
Ở đây cần nhấn mạnh là cái cụ thể, cá thể trong tư duy nghệ thuật không phải là sự nhận thức mang tính cảm tính đơn thuần mà nó đã có sự lựa chọn, liên tưởng, là kết quả của một quá trình tổng hợp. Mặt khác sự khái quát nghệ thuật để nắm bắt bản chất đối tượng không đồng nhất với sự khái quát của khoa học bởi nhận thức thực tại trong khoa học tương đối thống nhất, còn trong nghệ thuật thì vô cùng phong phú và đa dạng, có khi trái ngược nhau bởi nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan, nhân sinh quan và trình độ văn hóa của người sáng tạo. Nếu tư duy khoa học mang tính khách quan thì trong tư duy nghệ thuật tính chất chủ quan lại được thể hiện đậm nét. Nghệ thuật không chỉ phản ánh quy luật của đời sống mà còn phản ánh cách đánh giá thẩm mĩ về đời sống – nó bao hàm thái độ của nghệ sĩ đối với hiện thực được tái hiện.
Yếu tố tình cảm và lí tưởng xã hội trong tư duy nghệ thuật khiến cho nó mang tính biểu hiện cao, thể hiện được thế giới tinh thần phong phú, đa dạng của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh. Bên cạnh đó, sự thể nghiệm và hư cấu trong tư duy nghệ thuật cũng góp phần tạo ra nét đặc trưng của nhận thức nghệ thuật. Sự 7 z “hình tượng hóa hiện thực khách quan” trong tư duy nghệ thuật không đơn giản là bằng những hình tượng nghe- nhìn mà chủ yếu là trên cơ sở những hình tượng tưởng tượng. Quá trình tư duy nghệ thuật với sự tham gia tích cực của cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ đã tạo ra những hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu sức biểu cảm biểu hiện, mang tầm khái quát lớn lao, có sức sống lâu bền trong sự tiếp nhận của người thưởng thức.
Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó. “Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện” [27, tr. Sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy. Thứ ngôn ngữ ấy (của các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, văn học,.) “dường như đã thoát khỏi thứ ngôn ngữ thường ngày mà vươn tới một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ riêng biệt” [86, tr.
Vì thế tư duy nghệ thuật đã phản ánh trình độ tư duy trừu tượng và khái quát ở giai đoạn cao. Tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học Trước hết, cần nhìn nhận lại đối tượng nhận thức của văn học, bởi chúng ta đã chỉ ra rạch ròi sự khác nhau giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học (ở tính hư cấu, lí tưởng thẩm mĩ về cuộc sống và tình cảm chủ quan của người nghệ sĩ). Nếu cùng mang bản chất là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, cùng nhận thức một đối tượng, tại sao nhận thức khoa học không chấp nhận những đặc trưng của tư duy nghệ thuật (trong đó có tư duy văn học) như chúng ta đã chỉ ra ở trên? Giải thích điều này bằng việc chỉ ra đối tượng đặc thù của văn học: “Văn học như là tư duy về cái khả nhiên” [82], ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là những gợi ý rất xác đáng giúp ta giải thích được cơ chế nội tại của tư duy văn học. Theo ông thì “tư duy chẳng phải gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó”.
“Cái khả năng” có thể gọi cách khác là “cái khả nhiên”- “cái có thể như thế”. “Hiện thực tồn tại trong dạng cái dĩ nhiên (cái đã có như vậy rồi) và “cái tất nhiên” (cái bắt buộc phải có theo qui luật tất yếu). Chỉ có trong văn học là có cái khả nhiên do nhà 8 z văn sáng tạo dựa trên cái khả năng của cuộc sống mà nhà văn phát hiện ra.) Cái khả nhiên không phải là sự bịa đặt tùy tiện mà là sản phẩm sáng tạo trên cơ sở cái khả năng mang ý nghĩa nhân sinh” [82, tr.