Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ văn học với đề tài "Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại - Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Thanh Phượng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đoàn Đức Phương, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, thuộc chuyên ngành Lý luận Văn học (mã số: 62 22 32 01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Từ sau mốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) với chủ trương đổi mới tư duy, đời sống văn học Việt Nam đã bước vào một quỹ đạo vận động mới. Trong tiến trình đổi mới văn học, truyện ngắn trở thành thể loại đi đầu và số lượng các tác giả nữ sáng tác truyện ngắn có sự gia tăng rõ rệt, tạo nên hiện tượng thường được giới nghiên cứu gọi là thời kỳ "âm thịnh" trong văn xuôi đương đại. Các cây bút nữ xuất hiện với mật độ cao, giành nhiều giải thưởng văn học và mang lại những giá trị biểu đạt riêng biệt.

Tuy nhiên, trong hoạt động nghiên cứu và phê bình lý luận, việc lý giải sự xuất hiện nổi bật của các cây bút nữ chủ yếu dừng lại ở các nhân tố khách quan như môi trường xã hội dân chủ, hoàn cảnh thời bình hay sự cởi mở của cơ chế văn nghệ. Yếu tố chủ quan mang tính bản chất và quyết định trực tiếp là tư duy nghệ thuật của chủ thể sáng tạo nữ chưa được phân tích một cách thấu đáo, toàn diện. Mặt khác, mối quan hệ tương hỗ giữa giới tính/phái tính của người viết với đặc trưng thể loại truyện ngắn – nguyên nhân khiến thể loại tự sự cỡ nhỏ này trở nên "vừa tay" với các tác giả nữ – cùng những đóng góp cụ thể của họ vào sự biến đổi hình thức thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi sau năm 1975 vẫn là khoảng trống học thuật cần được giải quyết một cách có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở so sánh với truyện ngắn nữ giai đoạn trước và truyện ngắn của các tác giả nam cùng thời, luận án xác định chất nữ tính trong bề sâu tư duy nghệ thuật, từ đó làm rõ những nét đặc trưng thể loại tạo nên giá trị và diện mạo riêng biệt của truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng hợp tư liệu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng về tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại truyện ngắn; phân tích, đánh giá các khuynh hướng nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
    2. Khái quát diện mạo truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại trong sự tương quan với bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa thời kỳ đổi mới, tiến trình lịch sử văn xuôi nữ dân tộc và sự phát triển của văn chương nữ trên thế giới.
    3. Phân tích tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ qua quan niệm sáng tác, hình tượng cuộc sống (góc nhìn đạo đức, thế sự, yếu tố tự truyện), thế giới nhân vật (hình tượng người phụ nữ và nam giới), thế giới biểu tượng (con người dị biệt, tính dục, giấc mơ, thiên nhiên) và không gian - thời gian nghệ thuật.
    4. Phân tích các yếu tố thi pháp thể loại trong truyện ngắn nữ đương đại: người kể chuyện ngôi thứ nhất, nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, kết cấu văn bản, cùng ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phương diện biểu hiện của tư duy nghệ thuật và các yếu tố thi pháp tạo nên đặc trưng thể loại trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Phạm vi khảo sát xác định từ mốc khởi đầu công cuộc đổi mới văn học năm 1986 đến năm 2016. Tư liệu khảo sát tập trung vào các tác phẩm in trong các tuyển tập truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại và các tác phẩm tiêu biểu của những gương mặt nổi bật như Lê Minh Khuê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy...

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu về văn xuôi và truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại từ năm 1986 theo ba khuynh hướng chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và thời gian công bố tiêu biểu Nội dung và luận điểm chính được điểm lại
Lý giải sự "lên ngôi" của các cây bút nữ • Huỳnh Như Phương (1993, Văn chương nữ giới - một cách thế hiện diện ở đời)
• Tọa đàm Tạp chí Văn học (1996) với ý kiến của Vương Trí Nhàn, Văn Tâm, Đặng Anh Đào, Lê Minh Khuê, Ngô Thế Oanh, Đặng Minh Châu...
• Khẳng định viết văn là cách thế người phụ nữ hiện diện xã hội, tự cất lên tiếng nói về thân phận.
• Phân tích sự nhạy cảm thời đại, khả năng đưa trải nghiệm tâm hồn vào trang viết, môi trường hậu chiến và thị trường hóa tác động đến sáng tác nữ.
Tổng kết, đánh giá thành tựu văn xuôi nữ • Nguyễn Thị Như Trang (1990)
• Bùi Việt Thắng (1993, Khi người ta trẻ (I))
• Hà Minh Đức (1995)
• Bích Thu (2001, Văn xuôi của phái đẹp)
• Vũ Đức Tân (2003)
• Nguyễn Thị Thành Thắng (2004)
• Lê Hương Thủy (2006)
• Trần Thục (2012)
• Khảo sát lực lượng sáng tác qua các thế hệ.
• Ghi nhận sự đổi mới về đề tài thế sự - đời tư, tâm lý nhân vật, bút pháp tự sự trữ tình và sự dũng cảm khi tiếp cận các mặt gai góc của hiện thực.
• Đánh giá sự chuyển biến điểm nhìn về người đàn ông và đời sống tình cảm.
Tiếp cận dưới góc nhìn phê bình nữ quyền • Hướng tính nữ: Phương Lựu (1998), Hồ Khánh Vân (2012), Lê Thị Hường (2012)
• Hướng phái tính và nữ quyền: Nguyễn Đăng Điệp (2006), Nguyễn Thị Bình (2011), Nguyễn Mạnh Hà (2012), Đoàn Ánh Dương (2012), Nguyễn Thị Thanh Xuân (2012)
• Vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền (Feminist Criticism) để tìm kiếm "lối viết nữ", phương thức tự thuật và hệ biểu tượng.
• Phân tích ý thức phái tính, sự giải kiến tạo trật tự nam quyền, đề tài thân xác, tình dục và khát vọng tự khẳng định bản thể nữ.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các công trình đi trước đã làm rõ bối cảnh xã hội và một số nét thi pháp hay âm hưởng nữ quyền, phần lớn nghiên cứu chỉ giải thích hiện tượng từ yếu tố khách quan hoặc khảo sát đơn lẻ từng khía cạnh (như yếu tố tự thuật, biểu tượng). Luận án tập trung giải quyết hai khoảng trống căn bản: (1) Đi sâu vào phương diện chủ quan cốt lõi là cấu trúc và sự vận động của tư duy nghệ thuật của nhà văn nữ; (2) Phân tích mối quan hệ bản chất giữa đặc điểm giới tính/phái tính với đặc trưng thể loại truyện ngắn, qua đó đánh giá toàn diện đóng góp của tác giả nữ vào sự cách tân thi pháp truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết về tư duy nghệ thuật: Tiếp thu định nghĩa tư duy từ triết học duy vật biện chứng (con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và thực tiễn) và công trình của Nguyễn Bá Thành, luận án xác định tư duy nghệ thuật là "sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan". Tiếp cận quan điểm của Trần Đình Sử về đối tượng của văn học là "tư duy về cái khả nhiên" (những khả năng tiềm ẩn trong đời sống mang ý nghĩa nhân sinh).
  • Lý thuyết về đặc trưng thể loại truyện ngắn: Dựa trên khung lý thuyết của Phan Cự Đệ, Bùi Việt Thắng, Lê Huy Bắc, Lý Hoài Thu cùng quan niệm của các tác giả quốc tế (Julio Cortázar, Roland Barthes, Edgar Poe). Truyện ngắn được xác định là hình thức hư cấu tự sự cỡ nhỏ, phản ánh lát cắt hiện thực mang tính dồn nén, có cấu trúc thi pháp gắn liền với tình huống truyện (quan niệm của Hegel, Chu Văn Sơn, Nguyên Ngọc), cốt truyện và kết cấu văn bản.
  • Lý thuyết phê bình nữ quyền: Tiếp thu khung lý thuyết Feminist Criticism phương Tây, đồng thời xác lập sự phân định học thuật giữa hai khái niệm: "phái tính" (sex - cấu trúc sinh học tự nhiên) và "giới tính" (gender - cấu trúc văn hóa, xã hội quy định tính nam và tính nữ).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích văn bản chuyên sâu trong lĩnh vực lý luận văn học:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, phân loại văn bản tác phẩm và tài liệu lý luận để khái quát các luận điểm.
  • Phương pháp lịch sử - xã hội: Đặt hiện tượng truyện ngắn nữ vào tiến trình phát triển lịch sử, xã hội và văn hóa Việt Nam sau năm 1975.
  • Phương pháp thi pháp học: Khảo sát các hình thức mang tính quan niệm như không gian, thời gian nghệ thuật, kết cấu, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu.
  • Phương pháp loại hình: Nhận diện và quy loại các biểu hiện đặc thù của thể loại tự sự cỡ nhỏ trong sáng tác của tác giả nữ.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu giữa truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới với truyện ngắn nữ các giai đoạn trước (1930-1945, 1945-1975) và với sáng tác của các nhà văn nam cùng thời.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học với văn hóa học (giải mã biểu tượng, cổ mẫu) và tâm lý học (Women psychology - phân tích tâm lý giới tính sáng tạo).
  • Phương pháp tiểu sử và phê bình nữ quyền: Xem xét yếu tố tự thuật và tiếng nói bản thể của chủ thể sáng tạo nữ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu bao gồm các tập truyện ngắn, tuyển tập truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam xuất bản từ năm 1986 đến 2016, cùng các truyện ngắn đăng tải trên các ấn phẩm báo chí văn học uy tín: Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Văn nghệ, Báo Văn nghệ Trẻ, Tạp chí Thế giới mới.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tư duy nghệ thuật, thể loại truyện ngắn và tổng kết lịch sử vấn đề nghiên cứu. Luận án phân tích sự khác biệt giữa tư duy khoa học (dựa trên tư duy logic, khái niệm trừu tượng, tính khách quan) và tư duy nghệ thuật (dựa trên tư duy hình tượng, tính chủ quan, sự hư cấu và ngôn ngữ biểu hiện thẩm mĩ riêng). Thể loại truyện ngắn được xác lập với các yếu tố thi pháp hạt nhân gồm: tình huống (giàu kịch tính, tâm trạng, tự nhận thức), cốt truyện (sự kiện, tâm lý, dòng ý thức) và kết cấu văn bản (cấp độ hình tượng và cấp độ trần thuật). Phần tổng quan lịch sử nghiên cứu đã phân tích chi tiết ba xu hướng tiếp cận văn xuôi nữ ở Việt Nam và chỉ rõ khoảng trống về mặt lý luận tư duy nghệ thuật gắn với thi pháp thể loại.

Chương 2: Diện mạo truyện ngắn nữ đương đại trong sự vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới

Chương này phác họa bức tranh toàn cảnh về bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa sau năm 1975 và sau Đại hội Đảng VI (1986) thúc đẩy sự đổi mới văn học. Thể loại truyện ngắn giữ vai trò tiên phong với các đặc điểm biến đổi thi pháp:

  • Dung lượng co giãn: Xu hướng tiểu thuyết hóa (mở rộng dung lượng, gia tăng tính khái quát như sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê) song hành với xu hướng truyện cực ngắn/mini (giàu tính hàm súc, biểu tượng như sáng tác của Phan Thị Vàng Anh, Phạm Sông Hồng).
  • Hiện tượng cộng sinh thể loại: Sự xâm nhập giữa truyện ngắn với thơ, kịch, tiểu thuyết, tùy bút, nhật ký và thư từ.
  • Sự cách tân thi pháp trần thuật: Giản lược mô hình cốt truyện kịch bản năm bước truyền thống; gia tăng cốt truyện tâm lý và thủ pháp dòng ý thức; sử dụng kết cấu phân mảnh, kết thúc mở; phục hồi yếu tố kỳ ảo; xây dựng người kể chuyện đa điểm nhìn và "người kể chuyện không đáng tin cậy"; đời thường hóa ngôn ngữ và đa thanh hóa giọng điệu.

Luận án phục dựng tiến trình truyện ngắn nữ qua các giai đoạn lịch sử:

Giai đoạn lịch sử Tác giả tiêu biểu được luận án ghi nhận Đặc điểm diện mạo và đóng góp
Văn học trung đại Đoàn Thị Điểm (Truyền kì tân phả) Đội ngũ tác giả nữ còn thưa thớt do chế độ phong kiến khắt khe trói buộc phụ nữ vào gia đình.
Giai đoạn 1900 - 1945 Nguyễn Thị Kiêm, Tương Phố, Thụy An, Đạm Phương, Anh Thơ... Ý thức tự giác về giới xuất hiện; tham gia viết báo, viết văn xuôi và thơ, đòi quyền bình đẳng cho nữ giới.
Kháng chiến 1945 - 1975 Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Dương Thị Xuân Quý, Lê Minh Khuê, Bích Thuận, Nguyễn Thị Cẩm Thạnh... Hòa vào khuynh hướng sử thi của văn học cách mạng; phản ánh hiện thực chiến đấu, xây dựng hình tượng nữ thanh niên xung phong, người mẹ, người chị hậu phương.
Đô thị miền Nam 1954 - 1975 Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ... Chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và triết học hiện sinh; bộc lộ trực tiếp những khao khát tình cảm, đời sống bản năng.
Giai đoạn 1975 - 1986 Phạm Thị Minh Thư (Có một đêm như thế), Dương Thu Hương, Ngô Thị Kim Cúc, Dạ Ngân... Đánh dấu sự chuyển dịch phương thức trần thuật, tạo mầm mống cho sự bứt phá của truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới.
Thời kỳ đổi mới từ 1986 Lớp tác giả trưởng thành trong chiến tranh (Lê Minh Khuê, Thanh Hương...) kết hợp các thế hệ trẻ (Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy...). Lực lượng sáng tác phát triển với tỷ lệ áp đảo (Bùi Việt Thắng thống kê tỷ lệ nữ/nam là 2/3 trong hơn 100 cây bút truyện ngắn trên báo Văn nghệ Trẻ); đạt nhiều giải thưởng cao; hòa nhịp với văn chương nữ thế giới.

Chương 3: Truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật

Chương 3 đi sâu giải mã các phương diện biểu hiện của tư duy nghệ thuật mang dấu ấn tính nữ:

  • Quan niệm sáng tác và cảm quan đời sống: Nhìn nhận cuộc sống qua lăng kính đạo đức, thế sự đời thường, khám phá các ngóc ngách tâm tư thầm kín. Phương thức tự truyện/tự thuật được sử dụng như một cơ chế tư duy nghệ thuật đặc thù giúp người phụ nữ phơi trải thế giới nội tâm và bản thể.
  • Thế giới nhân vật: Hình tượng người phụ nữ hiện lên đa chiều (người phụ nữ khát khao hạnh phúc, người phụ nữ chịu nhiều thương tổn, bất hạnh, những phản kháng ngầm chống lại định kiến). Hình tượng nam giới ("một nửa còn lại của thế giới") được tái hiện qua cái nhìn giải thiêng, đời thường hóa, bộc lộ sự thấu hiểu đan xen lòng vị tha nhân ái.
  • Thế giới biểu tượng:
    • Biểu tượng con người dị biệt: Biểu hiện của khát vọng hướng thiện và nhu cầu được cứu rỗi tâm hồn.
    • Biểu tượng sex/tính dục: Không dừng lại ở bản năng sinh học thuần túy mà là phương tiện biểu đạt khát vọng tình yêu, quyền tự chủ thân xác và sự hòa hợp tinh thần.
    • Biểu tượng giấc mơ: Cánh cửa đi vào thế giới tâm linh vô thức, giải tỏa những ẩn ức tâm lý bị dồn nén.
    • Biểu tượng thiên nhiên: Mang dấu vết của các cổ mẫu nguyên sơ, đóng vai trò ẩn dụ cho số phận và thân phận chìm nổi của con người.
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Khắc họa các cặp không gian đối lập (không gian gia đình chật hẹp - không gian xã hội rộng lớn; không gian thực tại tù túng - không gian tâm tưởng mở rộng) và cảm thức thời gian nghệ thuật mang nặng tính tâm lý, sự hoài niệm và âu lo về sự trôi chảy của tuổi xuân.

Chương 4: Đặc trưng thể loại truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại

Chương 4 khảo sát những đóng góp của các cây bút nữ trên phương diện cách tân thi pháp hình thức thể loại:

  • Người kể chuyện ngôi thứ nhất: Khảo sát các dạng thức người kể chuyện "tôi" (người kể chuyện nhân chứng, người kể chuyện tự thuật, người kể chuyện trải nghiệm) với điểm nhìn trần thuật mang tính nội hóa sâu sắc, dịch chuyển linh hoạt giữa các tầng bậc ý thức.
  • Nghệ thuật xây dựng tình huống: Tổ chức hệ thống tình huống truyện phong phú, tập trung vào ba dạng cơ bản gồm tình huống giàu kịch tính (xung đột thế sự, biến cố bất ngờ), tình huống tâm trạng (những xao động cảm xúc tinh tế) và tình huống tự nhận thức (khoảnh khắc thức tỉnh về bản ngã và cuộc đời).
  • Nghệ thuật tổ chức cốt truyện: Chuyển đổi linh hoạt từ cốt truyện sự kiện sang cốt truyện tâm lý; vận dụng điêu luyện thủ pháp độc thoại nội tâm và kỹ thuật dòng ý thức; xây dựng kết thúc mở, kết thúc bất ngờ theo nguyên lý khơi gợi sự "đồng sáng tạo" từ phía độc giả.
  • Sáng tạo về mặt kết cấu: Đa dạng hóa các mô hình cấu trúc văn bản gồm kết cấu đảo lộn trật tự thời gian tuyến tính, kết cấu vòng tròn, kết cấu truyện lồng trong truyện, kết cấu liên văn bản, và kết cấu lắp ghép - phân mảnh.
  • Ngôn ngữ và giọng điệu: Sử dụng ngôn ngữ đa phong cách (kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình mềm mại với ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ suồng sã, trực diện) và tổ chức hệ thống giọng điệu đa sắc thái (tự sự, chiêm nghiệm, trắc ẩn, giễu nhại, xót xa).

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt thực tiễn nghiên cứu văn học sử: Luận án cung cấp cái nhìn toàn diện, có hệ thống và khách quan về diện mạo, sự vận động của truyện ngắn nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến 2016), qua đó bổ sung một góc nhìn học thuật chuyên sâu về giai đoạn văn học sau năm 1975 đang tiếp tục vận động.
  2. Đóng góp về mặt lý luận văn học: Luận án cụ thể hóa và kiểm chứng các khung lý thuyết về tư duy nghệ thuật và thi pháp thể loại thông qua một trường hợp nghiên cứu cụ thể là truyện ngắn của các tác giả nữ. Luận án đã chỉ ra mối liên hệ nội tại mang tính tương thích giữa đặc trưng giới tính/phái tính với dung lượng và phương thức phản ánh của thể loại tự sự cỡ nhỏ.
  3. Khẳng định giá trị cách tân thi pháp: Chứng minh rằng các nhà văn nữ không chỉ làm phong phú thêm nội dung phản ánh (đề tài thế sự, đời tư, tính dục, bản thể nữ) mà còn có những đóng góp rõ rệt vào sự biến đổi hình thức thể loại truyện ngắn đương đại (người kể chuyện ngôi thứ nhất nội hóa, tình huống tâm trạng - tự nhận thức, kết cấu phân mảnh, ngôn ngữ đa thanh).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thời gian từ năm 1986 đến năm 2016 trên tư liệu truyện ngắn in trên các tuyển tập và tạp chí truyền thống, tập trung chủ yếu vào một số gương mặt tiêu biểu đã định hình phong cách vững chắc. Một số tác giả trẻ thuộc thế hệ mới xuất hiện trên không gian mạng và các thể loại văn xuôi lân cận chưa được khảo sát bao quát hết do giới hạn phạm vi đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại văn xuôi khác của tác giả nữ như tiểu thuyết, tản văn, tự truyện và hồi ký đương đại.
    • Nghiên cứu đối sánh sâu hơn giữa truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam với sáng tác của các nhà văn nữ trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới dưới góc nhìn văn học so sánh và lý thuyết phê bình nữ quyền sinh thái (Ecofeminism).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam, Văn học so sánh và Văn hóa học.
    • Các nhà phê bình, nhà nghiên cứu quan tâm đến nghiên cứu giới (Gender Studies), phê bình nữ quyền (Feminist Criticism) và tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.
  • Nội dung giá trị nhất để tham khảo:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tư duy nghệ thuật và thi pháp thể loại truyện ngắn ở Chương 1.
    • Khung phân tích thế giới biểu tượng và không - thời gian nghệ thuật mang dấu ấn tính nữ ở Chương 3.
    • Các tiêu chí phân loại và phân tích thi pháp hình thức (người kể chuyện, tình huống, kết cấu, giọng điệu) ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa tư duy nghệ thuật là gì và phân biệt nó với tư duy khoa học ra sao?

Theo luận án (dẫn quan điểm của Nguyễn Bá Thành), tư duy nghệ thuật là "sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan". Khác với tư duy khoa học lấy tư duy logic làm nòng cốt nhằm tìm ra quy luật trừu tượng phổ quát mang tính khách quan, tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, phản ánh cái chung qua cái cụ thể cá biệt mang tính đại diện, chịu sự chi phối đậm nét bởi thế giới quan, cảm xúc chủ quan, lý tưởng thẩm mĩ và khả năng hư cấu của người nghệ sĩ.

2. Luận án chỉ ra những yếu tố thi pháp hạt nhân nào của thể loại truyện ngắn?

Luận án xác định các yếu tố thi pháp cốt lõi của truyện ngắn gồm:

  • Tình huống truyện: Được coi là hạt nhân cấu trúc, gồm ba dạng cơ bản: tình huống kịch tính, tình huống tâm trạng và tình huống tự nhận thức.
  • Cốt truyện: Phương thức tổ chức chuỗi sự kiện, bao gồm cốt truyện sự kiện (chặt chẽ, kịch tính) và cốt truyện tâm lý (dựa trên diễn biến nội tâm, thủ pháp dòng ý thức).
  • Kết cấu: Tổ chức chỉnh thể tác phẩm ở hai cấp độ: cấp độ hình tượng (nhân vật, sự kiện, thời gian, không gian) và cấp độ trần thuật (điểm nhìn, bố cục).

3. Tiến trình truyện ngắn nữ Việt Nam trước năm 1986 trải qua những chặng đường nào?

Luận án tóm lược qua 5 chặng đường:

  1. Thời trung đại: Rất thưa thớt, ghi nhận trường hợp Đoàn Thị Điểm với Truyền kì tân phả.
  2. Giai đoạn 1900 - 1945: Xuất hiện nhiều cây bút nữ viết báo, thơ và văn xuôi (Đạm Phương, Thụy An, Tương Phố, Nguyễn Thị Kiêm...).
  3. Giai đoạn 1945 - 1975 (Văn học Cách mạng): Đội ngũ nữ tham gia kháng chiến viết văn xuôi sử thi (Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Dương Thị Xuân Quý, Lê Minh Khuê...).
  4. Giai đoạn 1954 - 1975 (Đô thị miền Nam): Xuất hiện các cây bút thể hiện khao khát bản năng cá nhân (Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ...).
  5. Giai đoạn 1975 - 1986 (Tiền đổi mới): Xuất hiện mầm mống đổi mới phương thức trần thuật, tiêu biểu với truyện ngắn Có một đêm như thế của Phạm Thị Minh Thư (1981).

4. Bề sâu tư duy nghệ thuật của các tác giả nữ đương đại được khảo sát qua các phương diện nào?

Bề sâu tư duy nghệ thuật của nhà văn nữ được luận án khảo sát cụ thể qua bốn phương diện chính:

  • Hình tượng cuộc sống: Cảm quan đạo đức, thế sự đời thường và việc vận dụng yếu tố tự truyện như một phương thức tư duy bản thể.
  • Thế giới nhân vật: Hình tượng người phụ nữ đa đoan, khao khát hạnh phúc và hình tượng người đàn ông được nhìn nhận giải thiêng, bình đẳng và vị tha.
  • Thế giới biểu tượng: Biểu tượng con người dị biệt, biểu tượng tính dục (sex), biểu tượng giấc mơ tâm linh và biểu tượng thiên nhiên mang dấu ấn cổ mẫu.
  • Không gian - thời gian nghệ thuật: Không gian gia đình đối lập không gian xã hội, cùng cảm thức thời gian tâm lý đầy âu lo, hoài niệm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thanh Phượng là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống thuộc chuyên ngành Lý luận Văn học, làm sáng tỏ hiện tượng truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại từ năm 1986 đến năm 2016. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích thi pháp học, lịch sử - xã hội và lý thuyết phê bình nữ quyền, tác giả đã chứng minh mối liên hệ hữu cơ giữa tư duy nghệ thuật mang bản sắc phái tính với đặc trưng thể loại tự sự cỡ nhỏ. Công trình không chỉ lý giải căn nguyên của sự xuất hiện nổi bật của các cây bút nữ thời kỳ đổi mới mà còn xác lập và ghi nhận những đóng góp của họ trong việc đổi mới cấu trúc hình thức thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại.