mở đầu quen thuộc: “Đây chương trình Thi nhạc giao duyên phối hợp nhạc và thơ trong một niềm cảm thông hòa điệu” [15]. Năm 1955, nhật báo “Tự do” đình bản, ông về cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, chuyên về thơ ca. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử "Cô gái gò Ôn Khâu", "Người đao phủ thành Đại La" và làm thơ trào phúng trên báo "Tự do", báo "Ngôn luận". Đến năm 1961, Đinh Hùng cho in tập “Đường vào tình sử” gồm 60 bài thơ “Truyện lòng” và “Tiếc bướm”, được trao giải thưởng Văn chương toàn quốc về thi ca năm 1962.
Năm 1967, Đinh Hùng bắt đầu trở bệnh nặng vì căn bệnh ung thư đã phát triển ở giai đoạn cuối. Khi đó ông đang là chủ biên tờ tuần báo chuyên về thi ca “Tao đàn thi nhân”. Tờ báo mới xuất bản được một số, chuẩn bị ra số thứ hai thì ông phải vào bệnh viện. Mặc dù bệnh ngày càng nguy kịch nhưng ngay trên giường bệnh, Đinh Hùng vẫn làm việc với sự giúp đỡ của các thân hữu để vài ngày trước khi ông ra đi vĩnh viễn, số 2 của tờ “Tao đàn thi nhân” đã được phát hành.
Cầm trên tay tờ báo, ông như quên hẳn cơn đau đang làm cạn kiệt dần sức khỏe. Tháng 7 năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày mất của Đinh Hùng, con trai nhà thơ là ông Đinh Hoài Ngọc trong bài viết “Đinh Hùng – cha tôi” nhớ lại:“Đã có lần bố tôi bị bệnh nặng, bác sĩ Tụng - là bác sĩ của gia đình - điều trị đến khi hết bệnh, đã khuyên ông nên đổi nghề: làm công chức hay đi dạy học, vì nếu cứ tiếp tục “vắt tim gan ra” thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nhưng bố tôi nói: nếu để được sống lâu mà phải ngừng không được sáng tác nữa thì có khác gì đã chết! Nếu như vậy thì sống lâu làm gì, sáng tác tức là đã sống rồi và sự sống đó mới là bất tử” [14]. Cũng theo lời của ông Đinh Hoài Ngọc thì 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 (tức ngày 19 tháng 7 năm Đinh Mùi), thi sĩ Đinh Hùng đã nhắm mắt đi vào 21 z cơn trường mộng, hưởng dương 47 tuổi, để lại niềm đau xót cho gia đình, thân hữu và sự mất mát lớn lao cho nền thi ca Việt Nam. Trong bài viết nhan đề “Cuộc đời Đinh Hùng – Người thi sĩ yểu mệnh”, Nguyễn Việt thuật lại một cách xúc động cảnh đám tang thi sĩ Đinh Hùng: “Hôm đưa tang Đinh Hùng vào chủ nhật 27-8- 1967 tức 22 tháng 7 năm Đinh Mùi – là một ngày trong tiết thu sơ, bầu trời ảm đạm.
Bạn bè đi đưa tuy không đông lắm nhưng ai nấy đều chan chứa trong lòng niềm tiếc thương vô hạn một nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh” [68]. Sau khi Đinh Hùng qua đời, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm "Ngày đó có em" vào 16 tháng 10 năm 1967. Năm 1973, ông Đinh Hoài Ngọc đã tập hợp các bài thơ chưa xuất bản của cha mình và nhờ bác là thi sĩ Vũ Hoàng Chương sắp xếp, hiệu đính, đặt tên. Nhà xuất bản Lửa Thiêng đã ấn hành thi phẩm này, đó là tập thơ “Tiếng ca bộ lạc”.
Theo ông Đinh Hoài Ngọc trong bài viết “Thi sĩ Đinh Hùng, vài dòng tiểu sử” đăng trên trang http://clbnguoiyeusach.com, các tác phẩm của Đinh Hùng đã xuất bản gồm: Đám ma tôi (văn xuôi - 1943); Mê hồn ca (thơ - 1954); Đường vào tình sử (thơ - 1961); Ngày đó có em (văn xuôi - 1967); Kỳ nữ gò Ôn Khâu (tiểu thuyết dã sử - 1967); Người đao phủ thành Đại La (tiểu thuyết dã sử - 1968); Đốt lò hương cũ (hồi ký – 1972); Tiếng ca bộ lạc (thơ – 1973). Các tác phẩm chưa xuất bản gồm: Lạc lối trần gian (kịch thơ); Phan Thanh Giản (kịch thơ); Cánh tay hào kiệt (kịch thơ); Tiếng ca đầu súng (hồi ký); Đường kiếm họ Hoàng (tiểu thuyết dã sử); Võ sĩ đạo (tiểu thuyết dã sử); Nữ hải tặc (tiểu thuyết dã sử) [15]. Đối với Đinh Hùng, một đời thi sĩ như vậy có lẽ quá ngắn ngủi nhưng những tác phẩm văn chương của ông thì lại có đời sống dài hơn gấp bội. Quan niệm về thơ của Đinh Hùng Tìm hiểu quan niệm thơ của Đinh Hùng rất quan trọng vì “quan niệm thơ sẽ chi phối tư duy thơ” [49, tr.
Đinh Hùng làm thơ và nổi tiếng từ thời tiền chiến. Ngay từ thời đó, thơ ông đã đạt tới một vóc dáng đặc biệt, chứng tỏ một khả năng sáng tạo độc đáo, dựng lên được một thế giới thi ca mới mẻ, khác biệt với dòng thơ tình lãng mạn đã cạn nguồn. Cho đến những bài thơ cuối cùng, Đinh Hùng vẫn còn giữ được mực thước của những tác phẩm đầu tiên. Sự nghiệp thơ ca Đinh Hùng vì 22 z thế có một sự nhất quán từ đầu đến cuối.
Trong khi các nhà thơ tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên.có một sự thay đổi lớn trong quan niệm sáng tác trước và sau cách mạng tháng Tám thì Đinh Hùng vẫn thủy chung như nhất với “Tuyên ngôn nghệ thuật” của mình. Đây là một tuyên ngôn nghệ thuật được người đương thời chú ý. Đinh Hùng, Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu. tự nhận mình là thi sĩ tượng trưng và tuyên bố: "Chúng tôi sẽ nối lại nghiệp dĩ của Baudelaire, tâm sự của Nguyễn Du – sự nổi loạn và ra đi của Rimbaud – nỗi cô đơn của những nhà thơ lãng mạn.
Chúng tôi sẽ vén cao bức màn nhân ảnh, viết lên quỹ đạo của trăng sao – đường về trên cõi chết. Thi sĩ tượng trưng chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là thế giới âu sầu đây nữa" [75]. Có thể thấy, trong tuyên ngôn nghệ thuật nói trên, Đinh Hùng cũng như các nhà thơ của nhóm Dạ Đài đã chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc trào lưu văn học tượng trưng của thơ Pháp. Đây là trào lưu nghệ thuật và là một quan điểm triết học - mỹ học xuất hiện cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
Ở giai đoạn này, tư duy phân tích và tư duy duy lý đã bộc lộ nhiều bất cập. Chúng không thể giải thích, thể hiện được phần tiềm thức, vô thức, bí ẩn của những giấc mơ và thế giới tâm linh ẩn sâu trong tâm hồn con người. Điều này đã dẫn con người đến những khủng hoảng tinh thần cực độ. Nhu cầu khám phá những bí ẩn của tạo vật, của con người và cuộc sống đã hình thành nên phương pháp tư duy của chủ nghĩa tượng trưng.
Mở đầu cho trào lưu này là “Bản tuyên ngôn tượng trưng” của Jean Moréas: “Phải chống lại sự dạy đời, sự huênh hoang lớn tiếng. Chống lại thương cảm giả dối, sự miêu tả khách quan. Thơ tượng trưng gắng gói gém ý tưởng bằng một hình thức dễ nhìn hơn. Tuy nhiên nó không phải là mục đích thơ.
Nhưng dùng nó để phơi bày ý tưởng mà vẫn giữ được nội dung cơ bản” [theo 59]. Bằng bản tuyên ngôn này, Moréas đã định vị chỗ đứng của trào lưu Tượng trưng trong dòng chảy của thi ca và đề cao vai trò của những người khai sáng như Baudelaire, Mallarmé, Verlaine…những người mà Đinh Hùng chịu ảnh hưởng rất lớn trong quá trình sáng tác. Khám phá thế giới bí ẩn đã trở thành mục đích và bản chất của thơ tượng trưng. Các nhà thơ tin tưởng vào thế giới tinh thần đầy bí ẩn, nằm sâu trong lòng sự 23 z vật, trong mỗi con người.
Niềm tin này có cơ sở từ thuyết Thần học của Đức, một học thuyết chủ trương rằng: “Thế giới hữu hình là hình ảnh của một thế giới vô hình… Ở hai thế giới đó có những điều tương ứng. Người thụ pháp là người nhận biết được sự tương ứng đó và nếu cần thì nhờ đó mà có những quyền lực thiêng liêng” [theo 59]. Các nhà thơ tượng trưng quyết liệt lên án lối thơ chỉ mô tả sự vật một cách đơn giản, hời hợt bên ngoài của chủ nghĩa lãng mạn, hiện thực. Thơ phải hướng tới một thế giới huyền diệu và nhiệm màu, phải khám phá và thể hiện được những gì nằm ẩn sâu dưới cái vỏ hiện thực, đem lại cho thế giới tâm hồn một sức mạnh đặc biệt do phát hiện ra những bản chất mới bằng những loại suy bất ngờ trong sự tương hợp của tất cả các cảm giác.
Quan điểm này gặp gỡ với quan điểm “Thiên địa nhân hợp nhất” trong truyền thống văn hóa phương Đông và trở thành cầu nối cho khuynh hướng sáng tác tượng trưng trong văn học hiện đại Việt Nam. Đinh Hùng đã tiếp thu nó một cách sâu sắc. Ông cùng nhóm Dạ Đài hùng hồn tuyên bố: “Cái sức rung động của một bài thơ chỉ có thể vào sâu và lan rộng nếu đã thâu góp được cái sức rung động của vô biên, nghĩa là của muôn nghìn cõi đất (.) Phải lập lại ngôn ngữ trần gian, phải gột bỏ cho mỗi chữ cái tâm tình dung tục cũ. Một câu thơ sẽ có một ý nghĩa – cái ý nghĩa rất thường – nhưng sẽ mang nặng biết bao nhiêu ý nghĩa âm u và khác lạ” [75].
Trong thơ của mình, Đinh Hùng đã táo bạo thể nghiệm sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, mở thêm một hướng đi mới cho thi ca Việt Nam. Theo ông “Thơ cũng phải âm u như cảnh giới của cái tôi thầm lặng”. Đinh Hùng chối bỏ việc thể hiện tình cảm theo kiểu lãng mạn, tức là thể hiện một cách trực tiếp, giãi bày tâm trạng. Trong bản tuyên ngôn tượng trưng, Đinh Hùng và các nhà thơ của nhóm Dạ Đài nhấn mạnh: “Chúng tôi không còn khóc, không còn muốn khóc – vì người ta đã khóc mãi ái tình, công danh và thế sự” [75].
Theo Đinh Hùng, thế giới của lãng mạn là thế giới của cái thực, thơ ca lãng mạn chỉ là loại thơ ca nông hẹp, miêu tả cảm xúc, và vì thế các nhà thơ lãng mạn chỉ là “những cái tôi nông cạn, là thi sĩ của lòng” (tức tình cảm). Bản tuyên ngôn đã thẳng thắn chỉ ra sự cạn kiệt nguồn cảm xúc, sự bất lực của các thi nhân lãng mạn lúc bấy giờ đồng thời khẳng định các nhà thơ tượng trưng muốn vượt qua cái tôi nông cạn đó, muốn đi tới một kiểu đối tượng khác, một kiểu thể hiện khác. Họ 24 z chán ngắt thứ “thơ ca nông hẹp chỉ miêu tả phong cảnh và những tâm tình thế tục”. Họ đưa ra câu hỏi: “Làm sao người ta cứ khóc mãi trong mối thất tình eo hẹp?