Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề về Tư duy nghệ thuật và Quan niệm thơ của Bùi Giáng. Chƣơng 2: Nhân vật trữ tình trong thơ Bùi Giáng. Chƣơng 3: Biểu tượng và ngôn ngữ thơ Bùi Giáng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Một số vấn đề về Tƣ duy nghệ thuật và Quan niệm thơ của Bùi Giáng.
Một số vấn đề về tƣ duy nghệ thuật. Để hiểu thế nào là “tư duy nghệ thuật”, trước hết cần làm rõ khái niệm “tư duy”. Theo từ điển triết học thì “Tư duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỷ tế bào thần kinh” (Rôdentan.P, 1976, Từ điển triết học, NXB Sự thật).
Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thê giới khách quan, quan hệ giữa con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng; truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhân thức của tư duy. Nói đến tư duy là nói đến ngôn ngữ. Bởi ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng. Tuy nhiên, nếu không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ánh có tính bản năng trước hiện thực.
Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những tiếng kêu bập bẹ của đứa trẻ sơ sinh. Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo. Đến lượt mình, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu được vào bản chất của sự vật. Người ta đã đưa ra nhiều cách để phân loại tư duy, một trong số đó là căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội.
Theo con đường của các hình thái ý thức xã hội thì tư duy được chia thành 3 nhóm lớn, bao gồm: tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy tôn giáo. Trong tư duy nghệ thuật thì tư duy thơ ca có ảnh hưởng chi phối và phổ biến hơn cả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Về khái niệm tư duy nghệ thuật, Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật”.
Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Sự chuyên môn hoá lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được.
Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể có), có thể cảm thấy theo xác suất, khả năng và tất yếu. Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính chất phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt. Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng tỏ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết”.
tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiện phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra. Nhờ các đặc điểm này mà tư duy nghệ thuật có thể khắc phục sự hạn hẹp của tư duy lý thuyết, nắm bắt được các khía cạnh bị lối tư duy ấy bỏ qua. Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó. Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện.
Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng kí hiệu để giữ gìn, tổ chức và truyền đạt thông tin. Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lí tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hoá các kết quả nhận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ. Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật.
Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo nghệ thuật [12; 381-382]. Từ góc độ triết học và văn học, trong tác phẩm “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Bá Thành đã đưa ra các kiến giải về tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng. Tác giả cho rằng: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo”.[55;36] Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ phong phú và đa dạng.
Mặt khác, phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ là một phương tiện giao tiếp có tính xã hội hoá cao độ. Vì vậy thơ có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp. Biểu tượng thi ca vừa mang tính chất biểu tượng thính giác, vừa mang tính chất biểu tượng thị giác, nghĩa là trong thơ vừa có nhạc, vừa có hoạ. Cho nên “Tư duy thơ là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ”.
Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là là sự thể hiện cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy. Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp. Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện của cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ. Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định… Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại.
Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của một cộng đồng người [55;55-58]. Những nét khái quát cơ bản nhất về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ trên đây sẽ là những định hướng lý luận cơ bản giúp chúng tôi đặt ra và giải quyết các vấn đề trong luận văn. Quan niệm thơ của Bùi Giáng 1.1/ Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác. Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại làng Vĩnh Trinh, xã Thanh Châu (nay là Duy Châu) huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Mảnh đất vùng duyên hải nam Trung bộ đầy nắng gió in đậm trong tâm trí, kí ức nhà thơ và đã không ít lần Bùi Giáng nhắc đến: “Hồi nhỏ tôi được sinh ra và lớn lên trong miền quê hẻo lánh. Chung quanh có ruộng đồng, sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt tuổi thơ. Làng tôi xưa kia có nhiều cỏ mọc, cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh” [83]. Bùi Giáng vừa là tên thật, vừa là bút danh của ông trong đa số các tác phẩm.
Ngoài ra thi sĩ này còn một số bút danh khá đặc biệt, cũng rất thơ như Trung niên thi sĩ, Thi sĩ buổi hoàng hôn, Bùi Giàng Dúi, Người chăn trâu, Đười Ươi thi sĩ, Bùi Giáng Búi… Ông từng là học trò của thầy Lê Trí Viễn ở tại trường Bảo An (1936), đến năm 1939 ông học trường Thuận Hóa với các Giáo sư Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Nguyên… và nhiều người trong số họ đã cho rằng Bùi Giáng là “học sinh độc đáo và văn chương sâu sắc”. Bùi Giáng lập gia đình năm 1945, ba năm sau vợ ông qua đời. Nhiều người cho rằng sự mất mát bất ngờ này đã mãi ám ảnh Bùi Giáng và ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác của ông, đặc biệt là thơ. Có một thời gian Bùi Giáng nhập ngũ, trở thành bộ đội công binh, chiến đấu ở chiến trường Quảng Nam (khoảng từ năm 1949 đến 1952).
Sau khi xuất ngũ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ông vào Sài Gòn bắt đầu mày mò tự học tiếng nước ngoài, soạn “sách giáo khoa” và dạy học. Bắt đầu thời kỳ Đệ nhất cộng hoà (Ngô Đình Diệm, 1954 - 1963) các hoạt động văn hoá, văn nghệ trở nên sôi nổi, Bùi Giáng cũng có thơ gửi đăng báo. Không lâu sau Bùi Giáng nghỉ dạy để chuyên tâm vào làm thơ, nghiên cứu và dịch thuật. Năm 1969 căn gác gỗ trong hẽm đường Phan Thanh Giản, nơi Bùi Giáng sống và làm việc bị cháy rụi, mang theo nhiều sách, tài liệu và bản thảo dở dang.
Sự việc này kèm theo những hiểu lầm trong gia đình và nhiều biến cố xã hội trước đó đã tác động mạnh đến tâm lý Bùi Giáng khiến ông “nổi cơn điên”. Bùi Giáng được đưa đến nhà thương điên Biên Hoà. Rời viện, Bùi Giáng bắt đầu “cuộc sống lang thang”, không biết bao lần ngủ gầm cầu xó chợ, ăn bất cứ thứ gì người ta cho, khoác lên người đủ thứ y phục bất kể lành, rách, sạch, bẩn và “trang điểm” cho chúng bằng các phụ kiện lỉnh kỉnh những xoong chảo, dép, vỏ lon… Nhưng, trái ngược với hành trạng dị biệt ấy, người đọc ngày càng biết đến Bùi Giáng bởi số lượng tác phẩm ông sáng tác ngày càng nhiều, cũng như yêu mến ông - con người hồn nhiên, trí tuệ, bất thường và miệt mài lao động.