Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nghiên cứu văn học hiện đại, khuynh hướng tiếp cận tác phẩm dưới góc độ ngôn ngữ học (đặc biệt là tu từ học và phong cách học) đã khẳng định được vị thế học thuật vững chắc với bề dày gần nửa thế kỷ phát triển tại Việt Nam. Văn học về bản chất là nghệ thuật ngôn từ; do đó, việc giải mã hệ thống biện pháp tu từ cùng các thủ pháp nghệ thuật đóng vai trò cốt lõi nhằm làm sáng tỏ tư tưởng thẩm mỹ của tác giả. Trong số các biện pháp tu từ tiếng Việt, nghệ thuật chơi chữ là một phương thức diễn đạt đặc biệt, xuất hiện xuyên suốt lịch sử từ văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cười) qua văn học trung đại (Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương) đến văn học hiện đại (Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu). Trong nền thi ca hiện đại miền Nam giai đoạn 1954–1975, Bùi Giáng (1926–1998, quê tại xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) nổi lên như một hiện tượng thi ca độc đáo với năng lực sử dụng ngôn ngữ phong phú và biến hóa.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nghệ thuật chơi chữ trong tiếng Việt dựa trên các công trình ngôn ngữ học chuyên sâu.
- Khảo sát, thống kê và phân loại toàn diện các thủ pháp chơi chữ xuất hiện trong ngữ liệu thơ Bùi Giáng.
- Phân tích các đặc điểm thi pháp nổi bật và đánh giá giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật của các thủ pháp chơi chữ đối với việc biểu đạt nội dung cảm xúc và định hình phong cách tác giả.
- Đóng góp tư liệu học thuật phục vụ giảng dạy, nghiên cứu văn học và góp phần quảng bá di sản thơ ca Bùi Giáng đến sinh viên chuyên ngành Ngữ văn tại tỉnh Quảng Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các câu thơ chứa nghệ thuật chơi chữ trong sáng tác của Bùi Giáng, tập trung vào 10 lối chơi chữ cụ thể thuộc ba nhóm phương tiện: ngữ âm – chữ viết (đồng âm, nhại âm, điệp âm, lái âm), ngữ nghĩa (đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa, trường nghĩa) và ngữ pháp (tách từ/ngữ, đảo trật tự từ/ngữ). Phạm vi khảo sát giới hạn trong 244 bài thơ thuộc phần Thơ của tuyển tập Bùi Giáng - Đười ươi chân kinh (thơ văn tinh tuyển) do Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam phối hợp Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên cơ sở đối sánh các quan niệm tu từ học hiện hành tại Việt Nam. Khóa luận phân tích các góc nhìn từ:
- Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú (1983), nơi chơi chữ được định nghĩa là cách tu từ vận dụng tiềm năng ngôn ngữ để tạo lượng tin khác loại song song với tin cơ sở.
- Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (1993), xếp chơi chữ vào nhóm biện pháp tu từ ngữ nghĩa.
- Các chuyên khảo như Thú chơi chữ của Lê Trung Hoa và Hồ Lê (1990) phân chia 14 kiểu loại; Chơi chữ của Lãng Nhân (1992).
Tác giả khóa luận lựa chọn hệ thống lý luận trong bộ công trình Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt (4 cuốn, 5 phần) của Triều Nguyên (2008) làm cơ sở nền tảng. Theo Triều Nguyên, chơi chữ là "phương thức diễn đạt đặc biệt, sao cho ở đó song song tồn tại hai lượng ngữ nghĩa (thông tin) khác hẳn nhau được biểu đạt cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa". Mô hình này phân chia chơi chữ thành 5 nhóm lớn, trong đó khóa luận kế thừa và áp dụng 3 nhóm nội văn bản: phương tiện ngữ âm – chữ viết, phương tiện ngữ nghĩa và phương tiện ngữ pháp.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm bốn phương pháp liên hoàn:
- Phương pháp thống kê, phân loại và xử lý số liệu: Thu thập toàn bộ ngữ liệu chơi chữ trong 244 bài thơ, lập bảng phân loại định lượng theo tiêu chí ngữ học, tính toán tần số và tỷ lệ phần trăm xuất hiện.
- Phương pháp phân tích: Áp dụng xuyên suốt từ khâu phân tích cấu trúc ngữ âm, quan hệ ngữ nghĩa, cấu trúc ngữ pháp của ngữ liệu đến phân tích các chỉ số thống kê.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu tần suất giữa các phương thức chơi chữ, so sánh các biến thể (lái hai, lái ba, lái tư; từ thuần Việt và từ Hán Việt; vị trí cấu trúc vần và phụ âm).
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa từ các số liệu khảo sát nhằm chỉ ra đặc trưng thi pháp ngôn ngữ và giá trị nghệ thuật của Bùi Giáng.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu là ngữ liệu thực nghiệm trích xuất trực tiếp từ 244 văn bản thơ trong ấn bản Bùi Giáng - Đười ươi chân kinh (thơ văn tinh tuyển) (2011).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thuyết về những vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và bức tranh tổng quan về tác giả, bao gồm ba nội dung chính:
-
Tổng quan lý thuyết về nghệ thuật chơi chữ: Phân tích bản chất của chơi chữ qua các định nghĩa từ điển học và thi pháp học. Điểm cốt lõi được rút ra là chơi chữ khác biệt với các biện pháp tu từ thông thường (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh) ở chỗ: chơi chữ hoạt động trên mọi bình diện ngôn ngữ học (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp), tạo ra hai dòng thông tin ngữ nghĩa cùng song song tồn tại trên cùng một vỏ vật chất ngữ âm. Về phân loại, khóa luận làm rõ các cơ chế thao tác:
- Phương tiện ngữ âm: Khảo sát từ đồng âm (thuần Việt, Hán Việt, kết hợp Hán - Việt); nhại âm; điệp âm (điệp phụ âm đầu, điệp vần, kết hợp phụ âm đầu và vần); lái âm (phân tích 6 công thức hoán đổi phụ âm đầu, vần, thanh điệu theo mô hình $P_1V_1T_1$ và $P_2V_2T_2$).
- Phương tiện ngữ nghĩa: Đồng nghĩa (thuần Việt - thuần Việt, Hán Việt - Hán Việt, thuần Việt - Hán Việt); trái nghĩa; nhiều nghĩa (từ đa nghĩa); trường nghĩa (nhóm các từ chung nét nghĩa về tự nhiên, màu sắc, cơ thể, con số).
- Phương tiện ngữ pháp: Tách từ (theo các cấu trúc $AxB$, $xAxB$, $xAyB$, $AxBy$, $AxyB$) và tách ngữ cố định; đảo trật tự từ/ngữ (đảo 2 âm tiết liền nhau và đảo cụm từ/ngữ cố định).
-
Tiểu sử và tầm vóc văn học của Bùi Giáng: Giới thiệu xuất thân của Bùi Giáng tại Duy Xuyên, Quảng Nam; khối lượng sáng tác đồ sộ gồm khoảng 55 đầu sách đã in từ năm 1957 đến 1997 thuộc các lĩnh vực thơ ca, dịch thuật triết học và giảng luận văn học, với di sản thơ lên đến hàng nghìn bài.
-
Đặc trưng ngôn ngữ thơ Bùi Giáng: Phân tích tính chất đa tầng của hệ thống ngôn từ trong thơ ông. Ngôn ngữ Bùi Giáng hòa trộn giữa thuật ngữ triết học phương Tây, từ ngữ bác học Hán Việt, phương ngữ xứ Quảng và lớp khẩu ngữ bình dân, tạo nên "trận đồ chữ nghĩa" vừa thách đố khả năng tiếp nhận lý tính, vừa kích thích liên tưởng thẩm mỹ trực giác của người đọc.
Chương 2: Khảo sát nghệ thuật chơi chữ trong thơ Bùi Giáng
Chương 2 là phần trọng tâm định lượng và khảo sát thực nghiệm ngữ liệu. Kết quả khảo sát 244 bài thơ ghi nhận có 220 bài sử dụng nghệ thuật chơi chữ (đạt tỷ lệ 90,16%), với tổng số 943 lượt sử dụng, đạt tần suất bình quân 4,29 lượt/bài có chơi chữ.
| Nhóm phương tiện chơi chữ |
Số lượng (lần) |
Tỷ lệ (%) |
| Phương tiện ngữ âm và chữ viết |
335 |
35,5 |
| Phương tiện ngữ nghĩa |
378 |
40,1 |
| Phương tiện ngữ pháp |
230 |
24,4 |
| Tổng cộng |
943 |
100,0 |
Khóa luận đi sâu phân tích từng nhóm phương tiện:
1. Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết (335 lượt)
Phân bố cụ thể gồm: lái âm (164 lần – 48,9%), điệp âm (133 lần – 39,7%), đồng âm (24 lần – 7,2%), nhại âm (14 lần – 4,2%).
- Lái âm (Nói lái - 164 lần):
- Số lượng âm tiết: Lái hai chiếm ưu thế tuyệt đối với 137 lần (83,5%); lái ba có 22 lần (13,4%, ví dụ: mộng thừa trong thớ đất $\rightarrow$ mật đớ trong thớ mộng); lái tư có 5 lần (3,1%, tập trung ở bài Thằn lằn địa phương và Lá se từ tóc).
- Kiểu xuất hiện: Kiểu chỉ xuất hiện tổ hợp lái chiếm tới 156 lần (95,1%), phần lớn các tổ hợp lái này đều được gán nghĩa biểu đạt hợp thức chứ không vô nghĩa; kiểu xuất hiện đồng thời cả tổ hợp thuận và lái chỉ có 8 lần (4,9%, như bài Trong bàn chân đi, Ngẫu hứng II).
- Cơ chế lái: Thể hiện đủ 6 cách vận hành âm tiết, trong đó cách (3) ($P_1V_2T_2 + P_2V_1T_1$, chiếm 36,0%) và cách (4) ($P_2V_1T_1 + P_1V_2T_2$, chiếm 26,8%) chiếm đa số. Đây là hai phương thức nói lái đặc trưng của phương ngữ miền Trung và Nam Bộ. Văn bản chỉ ra sự lặp lại đậm đặc của các âm tiết mang vần "ôn" như cồn, lộn, tồn.
- Điệp âm (133 lần): Điệp phụ âm đầu chiếm ưu thế vượt trội với 115 lần (86,5%), điệp vần có 17 lần (12,8%), điệp cả phụ âm đầu và vần có 1 lần (chiếm 0,7% ở bài Anh lùa bò vào đồi sim trái chín). Trong điệp phụ âm đầu, kiểu điệp nối tiếp trong một dòng thơ chiếm 72,2% (83 lần), phổ biến là chuỗi 3–4 âm tiết liên tiếp (như cụm phụ âm m-, ng-, l-), cá biệt có dòng điệp liên tiếp 8 âm tiết phụ âm l- ("Làn lênh lang lau lách lại luân lưu" trong bài Nhan sắc hôm nay).
- Đồng âm (24 lần): Gồm 11 lần đồng âm Hán Việt – Hán Việt (45,8%, như thu – mùa thu và thu – thu nhận), 9 lần thuần Việt – thuần Việt (37,5%, như mọi – số lượng và Mọi – dân tộc thiểu số), 4 lần thuần Việt – Hán Việt (16,7%, như hải ngoại và hớt hải).
- Nhại âm (14 lần): Khai thác việc nhại tiếng động vật (tiếng dê kêu be be thành bé hé, bê hê, bế hế) và nhại các địa danh Nam Bộ (Cần Thơ $\rightarrow$ Cần Thở, Châu Đốc $\rightarrow$ Châu Đồng, Bình Dương $\rightarrow$ Bình Nuôi Dưỡng).
2. Chơi chữ bằng phương tiện ngữ nghĩa (378 lượt)
Phân bố gồm: dựa vào trường nghĩa (160 lần – 42,3%), đồng nghĩa (146 lần – 38,6%), trái nghĩa (48 lần – 12,7%), nhiều nghĩa (24 lần – 6,4%).
- Dựa vào trường nghĩa (160 lần): Chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn bộ các thủ pháp bộ phận của khóa luận (17,0% tổng số lần chơi chữ). Tác giả khai thác trường màu sắc (lam, lục, tía, vàng hoe), trường con số (một, hai, ba, bốn, năm), trường động vật, thực vật và bộ phận cơ thể. Về quy mô ngữ cảnh, kiểu đặt nhiều từ cùng một trường nghĩa trải dài qua nhiều dòng thơ chiếm 50,6% (81 lần); kiểu một trường nghĩa trong một dòng thơ chiếm 30,0% (48 lần).
- Đồng nghĩa (146 lần): Kiểu đồng nghĩa kết hợp giữa từ thuần Việt và từ Hán Việt chiếm tỷ lệ cao nhất với 74 lần (50,7%, ví dụ: tử – chết, trời – thiên hạ/thiên thượng, ngựa – nham thạch), phản ánh thói quen phối hợp hai lớp từ vựng trong tư duy tác giả; kiểu thuần Việt – thuần Việt chiếm 59 lần (40,4%); Hán Việt – Hán Việt có 13 lần (8,9%).
- Trái nghĩa (48 lần): Thiết lập các cặp tương phản nhịp nhàng trong cùng một câu hoặc đoạn thơ (hoàng hôn xuống – bình minh lên, ngẩng – cúi, cao – thấp, nồng như lửa – lạnh như băng).
- Nhiều nghĩa (24 lần): Khai thác từ đơn tiết đa nghĩa đặt lặp lại trong cùng ngữ cảnh (như phân biệt từ con chỉ tính chất nhỏ bé và danh từ xưng gọi; từ vòng chỉ hành động uốn cong và danh từ đồ trang sức).
3. Chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp (230 lượt)
Phân bố gồm: tách từ, ngữ (149 lần – 64,8%) và đảo trật tự từ, ngữ (81 lần – 35,2%).
- Tách từ, ngữ (149 lần): Trong đó tách từ chiếm 138 lần (92,6%), tách ngữ có 11 lần (7,4%).
- Vị trí tách từ: Nằm trong một dòng thơ chiếm 78,3% (108 lần); vắt qua hai dòng thơ nối tiếp chiếm 21,0% (29 lần); qua ba dòng thơ có 1 lần (0,7%).
- Mô hình cấu trúc tách trong một dòng thơ: Cấu trúc $xAyB$ xuất hiện nhiều nhất với 27 lần (25,0%, ví dụ: đổi ngọn thay nguồn $\rightarrow$ ngọn nguồn; trước nhớ sau nhung $\rightarrow$ nhớ nhung); tiếp đến là cấu trúc $AxB$ với 22 lần (20,4%, như sắc bên màu $\rightarrow$ sắc màu; mẩy là mình xương là xẩu $\rightarrow$ mình mẩy, xương xẩu); cấu trúc $AxyB$ có 15 lần (13,9%); cấu trúc $AxBy$ có 13 lần (12,0%); cấu trúc $xAxB$ có 8 lần (7,4%).
- Đảo trật tự từ, ngữ (81 lần): Đảo trật tự hai tiếng liền nhau chiếm ưu thế với 76 lần (93,8%), đảo cụm từ/ngữ cố định có 5 lần (6,2%, ví dụ đảo cụm đi đời nhà ma thành nhà ma đi đời; than vắn thở dài thành thở vắn than dài). Trong 76 trường hợp đảo hai tiếng, kiểu chỉ xuất hiện tổ hợp đảo chiếm 71,1% (54 lần, như sử lịch $\rightarrow$ lịch sử, lội bơi $\rightarrow$ bơi lội); kiểu xuất hiện song song cả tổ hợp thuận và tổ hợp đảo chiếm 28,9% (22 lần, như sinh bình – bình sinh, phút giây – giây phút).
Chương 3: Đặc điểm và giá trị của nghệ thuật chơi chữ trong thơ Bùi Giáng
Chương 3 tổng hợp các phát hiện định lượng để luận giải đặc điểm thi pháp và giá trị chức năng của chơi chữ:
-
Đặc điểm nghệ thuật:
- Tần suất xuất hiện cao và phân bố đa dạng: Tỷ lệ bài thơ chứa biện pháp chơi chữ vượt 90%, trung bình gần 4,3 lần/bài. Nhiều bài thơ có cấu trúc chơi chữ dồn dập, đóng vai trò kiến tạo thi phẩm như bài Phố Thu dịch chuyển (24 lần chơi chữ) hay bài Phụng hiến (23 lần chơi chữ kết hợp đồng thời tách ngữ, tách từ, từ đồng nghĩa, trường nghĩa và điệp âm).
- Khả năng phối hợp đa tầng, linh hoạt: Tác giả không dùng đơn lẻ một biện pháp mà lồng ghép tinh tế giữa ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp trong cùng một khổ thơ.
- Đậm đà phong vị phương ngữ xứ Quảng và phong cách tư duy nghịch ngợm: Lối nói lái với tần suất dày đặc (chiếm 17,4% tổng số lần chơi chữ) phản ánh thói quen ngôn ngữ bản địa Quảng Nam, biến các câu thơ thành cuộc trêu đùa chữ nghĩa vừa hóm hỉnh vừa trí tuệ.
-
Giá trị nghệ thuật:
- Tạo hứng khởi tiếp nhận và giải tỏa cảm xúc: Chơi chữ mang lại yếu tố bất ngờ, tiếng cười trào lộng, xua tan không khí căng thẳng và đưa người đọc vào trạng thái phiêu bồng, thanh thoát.
- Làm phong phú vốn từ tiếng Việt qua việc tạo từ mới: Biện pháp đảo từ và bóc tách thành tố của từ ghép tạo nên các kết hợp cú pháp lạ lẫm (sử lịch, ngọn nguồn biến thành đổi ngọn thay nguồn), mở rộng dung lượng biểu đạt của ngôn từ.
- Tăng cường nhạc tính và tính thẩm mỹ: Lối điệp phụ âm đầu và điệp vần liên tục tạo nên nhịp điệu luân chuyển, âm vang ngân nga cho lời thơ.
- Truyền tải trọn vẹn thế giới tâm tư và hình tượng nghệ thuật phức hợp: Hệ thống trường nghĩa đa dạng và các cặp từ tương phản giúp thi sĩ thể hiện các trạng thái triết lý hiện sinh, nỗi đau đời, tình yêu tha nhân và tâm thức cô đơn sâu sắc.
- Góp phần định hình phong cách thi ca cá nhân: Chơi chữ trở thành dấu chỉ phong cách riêng biệt, biến Bùi Giáng thành một tác gia có ngôn ngữ thơ khác lạ trong nền thi ca Việt Nam thế kỷ XX.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả khoa học cụ thể dựa trên việc xử lý dữ liệu thực chứng:
- Khảo sát hệ thống trên 244 bài thơ, phát hiện 220 bài có sử dụng nghệ thuật chơi chữ với 943 lượt thực hiện cụ thể.
- Xác lập ba thủ pháp có mật độ xuất hiện lớn nhất trong thơ Bùi Giáng:
- Chơi chữ theo cách lái âm: 164 lần (chiếm 17,4% tổng số lần chơi chữ).
- Chơi chữ dựa vào trường nghĩa: 160 lần (chiếm 17,0% tổng số lần chơi chữ).
- Chơi chữ theo cách tách từ, ngữ: 149 lần (chiếm 15,8% tổng số lần chơi chữ).
Về mặt đóng góp:
- Phương diện lý luận: Kiểm chứng tính khả dụng của mô hình phân loại nghệ thuật chơi chữ do Triều Nguyên đề xuất khi ứng dụng vào một tác gia cụ thể; cung cấp mô hình khảo sát tích hợp giữa ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học trong nghiên cứu thi pháp tác giả.
- Phương diện thực tiễn: Cung cấp hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết và kho ngữ liệu minh họa có giá trị cho việc giảng dạy, học tập chuyên đề Phong cách học tiếng Việt và Văn học Việt Nam hiện đại; đồng thời mở ra góc nhìn ngôn ngữ học khách quan để đánh giá thơ Bùi Giáng, vượt thoát khỏi định kiến xem thơ ông là những câu từ vô nghĩa hay cuồng loạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi khảo sát:
- Hạn chế về dung lượng ngữ liệu: Công trình mới chỉ tiến hành khảo sát trên 244 bài thơ thuộc một tuyển tập (Bùi Giáng - Đười ươi chân kinh), chưa bao quát toàn bộ sự nghiệp thơ ca đồ sộ với hàng chục tập thơ và hàng nghìn bài của tác giả.
- Hạn chế về diện phân loại: Khóa luận chỉ tập trung vào 3 nhóm chơi chữ nội văn bản (ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp), chưa khảo sát toàn diện 2 nhóm còn lại trong hệ thống phân loại của Triều Nguyên là chơi chữ dựa vào phương ngữ/luật thơ/phong cách và chơi chữ có sự tham gia của ngữ liệu ngoài văn bản.
Hướng nghiên cứu tiếp nối bao gồm:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ các tập thơ tiêu biểu khác của Bùi Giáng (Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Rong rêu, Ngàn thu rớt hột).
- Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu nghệ thuật chơi chữ giữa Bùi Giáng với các nhà thơ cùng thời hoặc các tác giả có truyền thống chơi chữ bậc thầy trong văn học dân tộc (Hồ Xuân Hương, Tú Xương).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích trực tiếp đối với:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam và Ngôn ngữ học ứng dụng.
- Người nghiên cứu quan tâm đến bộ môn Phong cách học tiếng Việt, Tu từ học và Thi pháp học hiện đại.
Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận:
- Hệ thống số liệu thống kê chi tiết tại Chương 2 (gồm 19 bảng số liệu phản ánh tỷ lệ, tần suất của từng biến thể chơi chữ).
- Khung lý thuyết phân loại chơi chữ mạch lạc và danh mục các ví dụ ngữ liệu phân tích chi tiết về kỹ thuật nói lái, kỹ thuật tách từ ($xAyB$, $AxB$) và đảo trật tự từ.
Câu hỏi thường gặp
1. Ngữ liệu nghiên cứu của khóa luận được thu thập từ nguồn nào và quy mô khảo sát là bao nhiêu?
Ngữ liệu được trích xuất hoàn toàn từ 244 bài thơ thuộc phần Thơ trong tuyển tập Bùi Giáng - Đười ươi chân kinh (thơ văn tinh tuyển), do Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà Văn liên kết xuất bản năm 2011.
2. Ba thủ pháp chơi chữ nào được Bùi Giáng sử dụng nhiều nhất theo số liệu của khóa luận?
Ba thủ pháp xuất hiện nhiều nhất là: chơi chữ theo cách lái âm (164 lần, chiếm 17,4%), chơi chữ dựa vào trường nghĩa (160 lần, chiếm 17,0%) và chơi chữ theo cách tách từ, ngữ (149 lần, chiếm 15,8% tổng số 943 lượt ghi nhận).
3. Đặc điểm nổi bật nhất của nghệ thuật nói lái trong thơ Bùi Giáng là gì?
Bùi Giáng sử dụng từ lái hai âm tiết chiếm chủ đạo (83,5%) và có tới 95,1% trường hợp chỉ xuất hiện duy nhất tổ hợp lái trên văn bản (thay vì xuất hiện cả cặp thuận – lái). Các tổ hợp lái này phần lớn vẫn mang ý nghĩa cụ thể. Ngoài ra, hai cách lái theo phương ngữ miền Trung và Nam Bộ (cách 3 và cách 4) chiếm ưu thế với 62,8%, đi kèm tần suất lặp lại dày đặc của các âm tiết mang vần "ôn" (cồn, lộn, tồn).
4. Những bài thơ nào trong tập khảo sát có mật độ chơi chữ dày đặc tiêu biểu?
Tiêu biểu nhất là bài thơ Phố Thu dịch chuyển với 24 lượt sử dụng nghệ thuật chơi chữ và bài thơ Phụng hiến với 23 lượt sử dụng phối hợp đa dạng nhiều biện pháp (tách từ, tách ngữ, trường nghĩa, từ đồng nghĩa và điệp âm).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Minh Huy là công trình nghiên cứu chuyên khảo về ngôn ngữ học văn học, làm sáng tỏ diện mạo nghệ thuật chơi chữ trong 244 bài thơ của Bùi Giáng qua 943 lượt ngữ liệu định lượng xác thực. Bằng việc vận dụng hệ thống phân loại của Triều Nguyên, tác giả chứng minh chơi chữ là một thành tố thi pháp cốt lõi, phản ánh sâu sắc phong cách tư duy tài hoa, hóm hỉnh và đậm chất phương ngữ xứ Quảng của thi sĩ. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và tư liệu tin cậy cho sinh viên, nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Ngữ văn và Ngôn ngữ học.