phần mở đầu, kết luận, mục lục, thƣ mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn. Chƣơng 2: Không gian, con ngƣời trong tác phẩm văn học chƣơng trình THCS từ góc nhìn văn hóa. Chƣơng 3: Biểu tƣợng, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học chƣơng trình THCS từ góc nhìn văn hóa. 9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.
Khái quát về nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 1. Các thuật ngữ, khái niệm 1. Văn học Văn học là hình thái ý thức xã hội, lấy con ngƣời làm đối tƣợng nhận thức trung tâm, lấy hình tƣợng làm phƣơng thức biểu đạt nội dung và lấy ngôn từ làm chất liệu phản ánh, điều này đã tạo nên những đặc trƣng độc đáo riêng của loại hình nghệ thuật này. Con ngƣời là đối tƣợng trung tâm nên văn học nhận thức, phản ánh con ngƣời trong sự tổng hợp, toàn vẹn, sống động giàu giá trị thẩm mỹ.
Những hình tƣợng văn học điển hình đã “truyền thông” về nhận thức chân lí khách quan, bộc lộ tƣ tƣởng và tình cảm, ƣớc mơ và khát vọng của nhà văn đối với con ngƣời. Do đó, nội dung của văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học đã mở rộng biên độ của mình, nó có khả năng tác động đến trí tuệ, tình cảm, tâm tƣ của con ngƣời. Văn học chẳng những chiếm lĩnh đƣợc tất cả những gì cụ thể sinh động và cả những điều mơ hồ, vô hình, mong manh, trừu tƣợng nhƣng có thật trong cảm giác của con ngƣời.
Văn học vƣợt qua mọi giới hạn về không gian, thời gian để phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống. Là hình thái ý thức xã hội, văn nghệ có vai trò đặc biệt với cuộc sống, nhà văn đƣợc coi là “kỹ sƣ tâm hồn” bởi những tác phẩm chân chính luôn là “tấm gƣơng” của một thời đại. Văn học có chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giao tiếp. Văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Từ “văn hóa” khởi nguồn từ chữ Latinh với ý nghĩa gốc là: gieo trồng, giữ gìn, chăm sóc giá trị vật chất và tinh thần. Ở Phƣơng Tây, khởi nguyên “văn hóa” dùng theo phƣơng thức ghép nghĩa của tổ hợp từ nhƣ văn hóa ứng xử, văn hóa ngôn ngữ… Phổ biến và đƣợc công nhận rộng rãi nhất là quan điểm của UNESCO: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngƣỡng. Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng soi xét về 10 bản thân.
Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý”. Ở Phƣơng Đông, khái niệm văn hóa đƣợc hiểu theo cách triết tự tiếng Hán: Văn: đẹp; hóa: trở nên, biến cải, văn hóa là làm cho cái gì đó trở nên đẹp đẽ và có giá trị. Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa đƣợc trình bày theo nhiều cách khác nhau nhƣng có nhiều điểm gặp gỡ với các quan niệm trên thế giới. Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc “văn hóa không phải là một hiện tƣợng cố định mà trái lại có sự chuyển biến”.
Chúng ta có thể hiểu văn hóa bao gồm cả những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử [28]. Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Văn hóa theo trƣờng nghĩa rộng là cái tự nhiên đƣợc biến đổi bởi con ngƣời để từ đó hình thành lối sống, một thế ứng xử, một thái độ, tổng quát của con ngƣời về những vấn đề nhƣ vũ trụ, chuẩn mực, giá trị, biểu tƣợng, quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con ngƣời [27].TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình”.
Trong cái nhìn tổng thể, chúng ta có thể thấy, văn hóa là một phức thể “bao gồm kiến thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, phong tục, pháp lý, tập quán và thói quen con ngƣời tiếp nhận đƣợc từ khi là thành viên của xã hội ấy” - E. Văn hóa còn là giá trị cả về vật chất và tinh thần, những chuẩn mực và ý nghĩa, những dấu ấn đặc trƣng riêng của mỗi dân tộc. Văn hóa còn là một tổng thể các ký hiệu, biểu tƣợng văn hóa. Với tính chất là “Tiếng nói, ngôn ngữ” biểu đạt, “ngữ pháp sinh nghĩa” của văn hóa thể hiện bằng các ký hiệu và biểu tƣợng siêu mã đa nghĩa và bí ẩn sẽ chi phối cách ứng xử giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng có đặc thù riêng.
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 1. Nghiên cứu, tiếp nhận văn học Tiếp nhận văn học là quá trình khám phá, chiếm lĩnh giá trị tƣ tƣởng, thẩm mỹ của tác phẩm qua sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tƣợng nghệ thuật, tƣ tƣởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài năng tác giả. Để có thể lý giải, cắt nghĩa, đánh giá đúng giá trị tác phẩm, chất lƣợng lao động nghệ thuật của nghệ sỹ, ngƣời tiếp nhận cần có sự hiểu biết về đặc thù công việc của ngƣời “phu chữ”, 11 có tình yêu thiết tha với tác phẩm, sự thận trọng tỉnh táo, độ trƣởng thành, sự lịch lãm, thế giới quan, nhân sinh quan tích cực, sự sắc sảo, tinh tế để có tâm thế, tầm đón đợi cho một sự “nhập cuộc, sự dấn thân với nhà văn. Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần, kết quả của hoạt động phản ánh, sáng tạo hiện thực cuộc sống bằng hình tƣợng, nhƣ thế, đọc văn chính là một quá trình tiếp nhận.
Bởi đó là sự nghiền ngẫm, tri âm, chiêm nghiệm, liên tƣởng, tái hiện kết hợp với tƣ duy phân tích, tổng hợp, khái quát để hiểu mã (code) trong tác phẩm. Đây là lao động khoa học phức tạp và đòi hỏi tính chủ động, sáng tạo. Chƣơng trình Ngữ văn THCS, dù là văn bản hoàn chỉnh hay đoạn trích thì những ngữ liệu đƣợc lựa chọn đều là những sáng tác tiêu biểu, mẫu mực của từng giai đoạn văn học. Để nghiên cứu, tiếp nhận hiệu quả, đòi hỏi độc giả cần có sự tận tâm, nghiêm túc, với yêu cầu cao về lý thuyết, kỹ năng, cần phải rèn luyện nhiều tầng bậc từ mức độ đơn giản đến phức tạp để đọc văn đạt tới chân lý nghệ thuật nên hoạt động này còn đƣợc xem là năng lực văn hóa.
Đắm mình vào thế giới nghệ thuật, tập trung quan sát từng từ, dõi theo từng dấu câu, lắng lòng trong bản hòa tấu ngôn từ, ngƣời đọc sẽ có cuộc “du ngoạn tinh thần” vƣợt lên trên từ ngữ và phóng chiếu lên bộ não thế giới nghệ thuật toàn vẹn, độc đáo, giàu ý nghĩa. Khi cuộc “cộng tác” sáng tạo hoàn thành, độc giả sẽ nhận thấy tác động to lớn của văn chƣơng đến con tim, khối óc, hành động của bản thân. Nghiên cứu văn học từ văn hóa Văn học và văn hóa có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Văn học phản ánh, biểu hiện văn hóa trên nhiều bình diện, là một thành phần quan trọng của cấu trúc văn hóa, bản thân văn học cũng là văn hóa - văn hóa viết.
Là sản phẩm của văn hóa, văn học chịu sự tác động của văn hóa và có chức năng mô tả, phản ánh về bức tranh văn hóa của một thời đại, một giai đoạn lịch sử của mỗi dân tộc. Bên trong mỗi tác phẩm văn chƣơng, tính văn hóa đƣợc coi là tính chất đặc thù, căn cốt nhất. Văn học là kết tinh cao nhất của văn hóa một dân tộc bởi nó là sản phẩm chung đúc giá trị sáng tạo mà con ngƣời sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử. Mỗi nhà văn đều viết lên lịch sử tâm hồn văn hóa dân tộc mình bằng văn học.
Trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ mật thiết, văn hóa là nguồn cội, cung cấp chất liệu, vốn sống, tri thức, cảm hứng… cho sáng tác của nhà văn. Vì thế, khi tiếp xúc với văn học là tiếp xúc nền văn hóa đa dạng và giàu bản sắc. Nhà nghiên cứu văn học Nga nổi tiếng, Viện sĩ D.Likhachov từng nhấn mạnh: “Trong khi kiếm tìm những đặc điểm của nền văn hoá, trƣớc hết chúng ta phải tìm hiểu sự trả lời ở văn học và chữ viết. Văn học nói thay cho văn hóa dân tộc giống nhƣ con ngƣời nói thay cho tất cả những gì sống trong trái đất”.
Bakhtin – nhà nghiên cứu triết học, văn học và các khoa học nhân văn – cho rằng: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá một thời đại trong đó nó tồn tại. Không đƣợc tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hoá”. Văn học và văn hóa có sự xuyên thấm trên nhiều bình diện.
Ở bình diện nội dung: Đề tài văn học dù viết về phạm vi hiện thực nào thì ngoài việc lựa chọn theo sở trƣờng, các nhà văn cũng luôn quan tâm tới thị hiếu của ngƣời đọc trong giai đoạn lịch sử văn hóa nhất định. Với chủ đề: vấn đề cơ bản, trung tâm làm nên chiều sâu tƣ tƣởng cho tác phẩm cũng là sự phản ánh trung thành những vấn đề của nội tại cuộc sống với đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất, hình thái kinh tế. Ở bình diện nghệ thuật, mỗi hình tƣợng, đều là “con đẻ” của thời đại. Cùng với việc tạo ra giá trị vật chất, tinh thân, con ngƣời cũng sáng tạo ra ngôn ngữ.
Ngôn ngữ chính là văn hóa.