CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát chung về năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực có nghĩa là“Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao"[19].
Với cách hiểu này nhóm tác giả đã sử dụng thuật ngữ "khả năng" để làm rõ nghĩa cho năng lực. Năng lực được định nghĩa theo Từ điển Giáo dục học: “ Là khả năng được hình thành hoặc phát triển cho phép một con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp” [8, tr. 272] Theo tác giả Vũ Dũng thì “năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong. Có rất nhiều định nghĩa về năng lực theo tâm lý học.
Nổi bật là hai cách định nghĩa sau: Thứ nhất: Năng lực được coi như trình độ thực hiện hành động, chú trọng kĩ thuật của thao tác hành động. Có rất nhiều tác giả trong nước và trên thế giới lựa chọn theo cách định nghĩa này; thí dụ như trong cuốn Kĩ năng dạy học và tiêu chí đánh giá, tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng năng lực là “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”.[12, tr23] 12 Thứ hai: Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết thì năng lực là khả năng của con người tiến hành công việc trong những điều kiện cụ thể.: “Năng lực là cách thức hành động trên cơ sở tổ hợp những tri thức và kĩ xảo. Năng lực tạo cho con người khả năng thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà ngay trong cả những điều kiện thay đổi.” [27] Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng nói đến năng lực là nói đến khả năng biết làm chứ không phải chỉ biết và hiểu. Năng lực là khả năng giải quyết (thực hiện) một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trên cơ sở nhận thức về đối tượng.
Nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được một kết quả nhất định của một công việc cụ thể (năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực quan sát…). Năng lực không tồn tại trừu tượng. Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là tổ chức các thuộc tính độc đáo của nhân cách, là tập hợp của những yếu tố như tri thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm… Năng lực quan trọng là sự ứng dụng nó bằng những hoạt động cụ thể trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng phù hợp. Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà sẽ dần hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động.
Để phát triển năng lực, con người cần thông qua hoạt động. Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến năng lực của cá nhân con người. Một cách khái quát, có thể hiểu“năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí của con người đảm bảo thực hiện một hoạt động nào đó đạt được kết quả”. Vấn đề dạy học phát triển năng lực a) Dạy học phát triển năng lực cho học sinh Việc phát triển năng lực cho học sinh trước hết là giúp học sinh có khả năng tư duy sáng tạo vì “Tư duy sáng tạo là năng lực quan trọng nhất để mỗi người chuẩn bị cho cuộc sống của mình”(Erick Laudau), giúp các em nắm được các kiến thức cần lĩnh hội đồng thời cần biết vận dụng các kiến thức đó vào việc giải bài tập và thực hành.
Học sinh chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi khả năng nhận thức của các emphát triển. Do đó khả năng tiếp thu và vận 13 dụng kiến thức sẽ tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Dấu hiệu đánh giá năng lực của học sinh tiểu học phát triển trong môn học Tiếng Việt đó là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tế; biết cách phát hiện ra những cái chung và cái riêng của vấn đề và tìm cách giải quyết. b) Phát triển năng lực cho học sinh tiểu học trong dạy học Tiếng Việt Dạy học phát triển năng lực là làm cho người học biết cách để thực hành tốt, có kĩ năng để thực hành hiệu quả hơn.
Thể hiện ở việc họ biết làm đúng và biết vận dụng các năng lực của bản thân, có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa vào “chiến lược” giải quyết vấn đề. Trong dạy học môn Tiếng Việt, để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, người giáo viên cần tạo mọi điều kiện cho học sinh tự bộc lộ năng lực nhận thức và hành động, được học kiến thức mới thông qua sự vận dụng những điều đã biết và được thực hành luyện tấp các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Cụ thể như: - Làm cho người học vận dụng kiến thức tốt hơn trong cả học tập lẫn cuộc sống. - Làm cho người học phát huy được hết tiềm năng, thế mạnh của bản thân mà tiềm năng, thế mạnh ấy không bị đui chột đi vì không được quan tâm phát triển.
- Làm cho người học khắc phục được những thiếu sót, hạn chế trong kĩ năng tư duy của họ. Việc dạy PTNL muốn thành công cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó cần lưu ý đến các bài học phải được hướng dẫn sao cho học sinh tư duy một cách linh hoạt. Hơn nữa, học sinh phải được nhận biết về đối tượng mà chúng đang thực hiện. Nội dung và quá trình được pha trộn cùng nhau, những kĩ năng TD có thể dạy cho HS trước, trong và sau bài học một cách rõ ràng.
Bài học phải tạo cho HS những cơ hội khác nhau để thực hành vận dụng 14 kĩ năng TD. Giáo viên cần đảm bảo sự cân đối giữa nội dung bài học và quá trình TD sao cho phù hợp với khả năng của học sinh. Để vừa đạt được mục tiêu dạy nội dung kiến thức vừa đạt được mục tiêu dạy quá trình TD trong môn học Tiếng Việt, người Giáo viên phải có phương pháp cụ thể. Các phương pháp dạy PTNL đều có cơ sở từ thuyết cơ bản về năng lực và các năng lực khác của bộ não.
Thuyết nhận thức cho rằng để có tri thức người ta phải có tư duy. Để hiểu một vấn đề thuộc về tri thức hay một sản phẩm nào đó của trí tuệ con người, cần phải coi sản phẩm đó như một sự kiến tạo có mục đích. PTNL cho học sinh Tiểu học thông qua hệ thống dạy học Tiếng Việt chính là việc đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và tư duy. Tạo điều kiện cho học sinh thực hành thường xuyên để quen dần với kiến thức ngôn ngữ khá trừu tượng, để từ đó PTTD cho học sinh Tiểu học một cách tự nhiên nhất khi trẻ đã tự hình thành cho mình thói quen sử dụng đúng âm thanh, ý nghĩa của từ; đúng cấu trúc câu khi làm bài tập cũng như diễn đạt suy nghĩ bản thân một cách đa dạng.Thông qua việc rèn luyện và PTNL cho học sinh trong môn học Tiếng Việt góp phần vào việc hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết giúp học sinh có điều kiện và phương tiện cần thiết trong học tập.
Từ đó các em sẽ phát triển nhân cách tích cực, đúng đắn. PTNL cho học sinh Tiểu học qua dạy học Tiếng Việt chính là giúp trẻ có thói quen tư duy một cách logic. Tư duy của học sinh tiểu học đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, khái quát. Do đó để phát triển tư duy cho học sinh cần hướng dẫn cấc em đi từ những đơn vị ngôn ngữ riêng lẻ, cụ thể rồi đến khái quát và đưa ra các khái niệm.
và vận dụng chúng vào giao tiếp hàng ngày. Văn bản nghệ thuật và vấn đề cảm thụ văn bản nghệ thuật 1.1 Đặc trưng của văn bản nghệ thuật Tính thẩm mĩ: Cũng giống như âm thanh trong âm nhạc, màu sắc và đường nét trong hội họa, ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật được xem là chất liệu xây dựng hình tượng. Văn học bằng nghệ thuật của ngôn từ luôn mang đến cho người đọc những giá trị thẩm mĩ sâu sắc, làm cho người đọc biết rung cảm trước cái đẹp trong cuộc sống. Tính đa nghĩa: Văn bản nghệ thuật bao giờ cũng phải có nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn.Nghĩa hàm ẩn có vai trò vô cùng quan trọng.
Mang dấu ấn riêng của tác giả:Tác phẩm văn học là"đứa con đẻ tinh thần của nhà văn, nhà thơ", nó mang đậm phong cách riêng của từng tác giả và phản ánh hiện thực khách quan đời sống con người. Thông qua nhân vật, chủ đề và giọng điệu trong tác phẩm để tác giả bày tỏ thái độ yêu, ghét, khen, chê, tư tưởng tình cảm của mình. Vấn đề cảm thụ văn bản nghệ thuật Theo tác giả Trần Mạnh Hưởng, cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ,…) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ,… thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ).[13, tr5] Theo Dương Thị Hương, cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức độ cao nhất, người đọc không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác. [5, tr7] 16 Tác giả Lê Phương Nga cảm thụ văn học là sự tiếp nhận, hiểu và cảm được văn chương, tính hình tượng của văn chương, đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn chương.[16, tr9] Cảm thụ văn bản nghệ thuật là quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo.
Những tính chất này do đối tượng nhận thức là tác phẩm văn học quy định. Mỗi một tác phẩm văn học đều mang một vẻ đẹp toàn diện về cả nội dung và cả giá trị nghệ thuật. Chúng tôi nhất trí theo quan điểm của tác giả Trần Mạnh Hưởng trong đề tài nghiên cứu này.