CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CẢM THỤ TÁC PHẨM TRỮ TÌNH TRONG NHÀ TRƯỜNG 1. Cơ sở lí luận của đề tài Trong dòng chảy xuyên suốt của văn học các tác phẩm văn học ra đời dựa trên nền tảng những biểu hiện tư tưởng, tình cảm của con người. Tác phẩm trữ tình được phân biệt cùng với tác phẩm tự sự tạo nên sự đa dạng, phong phú cho tác phẩm văn học. Xuất phát từ cách thể hiện tình cảm, cảm xúc ít nhiều trong tác phẩm, cách tổ chức câu từ của ngôn từ nghệ thuật tạo nên một chỉnh thể là một tác phẩm hoàn chỉnh mà tác phẩm trữ tình ra đời như một bức tranh đầy đủ nói lên những cảm xúc của con người một cách sâu sắc và nhiều góc cạnh.
Tác phẩm được hiểu là công trình do nhà văn hoá, nghệ thuật hoặc khoa học sáng tạo ra, còn trữ tình là tính từ chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng nhân vật có cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống. Nói tóm lại tác phẩm trữ tình bao gồm những tác phẩm thể hiện ý nghĩa tư tưởng tình cảm của tác giả theo cách riêng biệt cách bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách trực tiếp của tác giả chính là cơ sở để xây dựng, nội dung của tác phẩm. Khái quát về tác phẩm trữ tình 1. Thế giới quan và sự cụ thể hóa hết sức phổ biến trong tác phẩm trữ tình Trong tác phẩm trữ tình yếu tố nội dung được bộc lộ thông qua những tư tưởng, tình cảm những xúc cảm chân thành từ bản thân tác giả nếu như ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng bằng những đối thoại và độc thoại khác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn xung đột thì ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới chủ quan của con người, 16 cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa được trình bày trực tiếp là nội dung chủ yếu.
Thế giới chủ quan bao trùm lên toàn bộ tác phẩm trữ tình tuy nhiên bên cạnh thế giới chủ quan ấy còn có sự gắn kết, ăn nhịp của yếu tố khách quan. Vì những cảm xúc, tâm tư, tõm trạng tình cảm nhiều khi không xuất phát tự trong lòng mà nó được khởi điểm gợi mở từ những yếu tố khách quan. Sự gắn kết ăn nhịp ấy đã tạo cho tác phẩm trữ tình sự đa dạng về nội dung. Người đọc có thể thông qua những ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm để nắm bắt cảm xúc tình cảm của tác giả.
Tuy nhiên cũng thông qua đó ta thấy những sự vật, chi tiết hiện thực đời sống khách quan khéo đan gài trong cảm xúc, tâm trạng của tác giả trữ tình. “Cái tôi trữ tình” của tác giả - yếu tố đầu tiên và cơ bản làm nên nội dung tác phẩm trữ tình. Biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình. Tác phẩm trữ tình ra đời dựa trên cảm nhận chủ quan của tác giả nghệ thuật hay còn gọi là "Cái tôi trữ tình".
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những cách nhìn nhận, đánh giá thống nhất về ý nghĩa, giá trị của cái tôi trữ tình, đối với một tác phẩm trữ tình. Các trường hợp đề cập đến vấn đề này thì lại đưa ra những cách hiểu khác nhau cái tôi ở đây được xem xét trên cơ sở thơ trữ tình là chủ yếu vì thơ trữ tình là thể loại thể hiện đầy đủ và rõ nét nhất những đặc điểm và đặc trưng của một tác phẩm trữ tình. Nó là thể loại phù hợp để diễn đạt tình cảm, cảm xúc. "Bắt đầu từ các nhà mỹ học thế kỷ XVIII-XIX như Hegel, thơ trữ tình được xem như là sự biểu hiện của chủ thể và cảm thụ của chủ thể.
Ông nói "Cần phải khẳng định một chủ thể cụ thể nhà thơ, như là điểm tập trung và nội dung đích thực của nhà thơ trữ tình ở thơ trữ tình cá nhân là trung tâm trong quan niệm và tình cảm nội tại của nó. Cơ sở tư liệu để Hegel xây dựng quan niệm của ông là thơ ca lãng mạn đương thời, ông viết "Nội dung đích thực của chủ nghĩa lãng mạng là đời sống nội tâm tuyệt đối, còn hình thức của nó là tính chủ quan tinh thần như là sự lý giải về sự tự hoạt động và tự do, từ tinh thần đó ông hiểu nội dung của tác phẩm trữ tình là toàn bộ cái chủ quan 17 thế giới nội tâm, tâm hồn đang tư duy và đang cảm thấy một tân hồn chưa chuyển sang hành động mà vẫn giữ nguyên tính chất của cuộc sống bên trong. Tuy nhiên, theo Hegel khái niệm cái chủ quan ở đây thuộc về ý niệm tuyệt đối. Việc ông xem xét cái chủ quan cá nhân phụ thuộc vào những quan niệm cá nhân của bản thân ông sự tuyệt đối.
Việc ông xem xét cái chủ quan cá nhân phụ thuộc vào những quan niệm cá nhân của bản thân ông. Sự tuyệt đối hoá trong ý thức, quan niệm về con người cá nhân trong tác phẩm trữ tình một phần đã khiến cho cái tôi cá nhân vẫn chưa có ý nghĩa đáng kể, cái tôi ở đây vẫn được xem xét một cách riêng biệt. Mỗi người có cách nhìn nhận và đánh giá cái tôi khác nhau nên chưa khái quát và thống nhất được cách đánh giá chung nhất về cái tôi cá nhân hay nói cách khác là thế giới chủ quan trong tác phẩm trữ tình "Các nhà lý luận văn học Liên Xô như L.NPôxpêlốp xác định nội dung trữ tình là tính cách xã hội được biểu hiện qua nhân vật trữ tình. Trong tương quan đó, cái tôi trữ tình lại được thu hẹp, chỉ như một loại trữ tình đặc biệt, khi tác giả trực tiếp miêu tả, biểu hiện yếu tố tâm trạng, tiểu sử của chính mình.
Như vậy cái tôi trữ tình không được xem xét như một yếu tố phổ quát của thơ trữ tình và nhân vật trữ tình nói chung cách hiểu này đã để lại dấu ấn đánh giá thấp ý nghĩa của cái tôi cá nhân và đề cao cái ta như một sự đối lập với cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân, cái nhìn bao giờ cũng được hiểu như một cái gì nhỏ hẹp, hạn chế, khép kín, ít ý nghĩa. Có những cách hiểu phiến diện hay tuyệt đối hoá vai trò của thế giới chủ quan (cái tôi cá nhân) trong nội hàm tác phẩm trữ tình đã phần nào làm hạn chế đi sự đa dạng trong nội dung cũng như những phương diện tình cảm được tác giả gửi gắm trong mỗi tác phẩm. Thế giới chủ quan là yếu tố đầu tiên và cơ bản để hình thành nên nội dung tác phẩm vậy nên về cái chủ quan, cái cá nhân luôn luôn phải được xem xét một cách khách quan.
Xưa nay, có nhiều quan điểm phân trần rõ nét giữa cái "tôi" với "cái ta", cái tôi ở đây được xem là cái cá nhân cảm xúc chủ quan, nhỏ hẹp còn "cái ta" được nhìn nhận như là một cái chung phổ quát lớn lao, cao cả bao trùm, thống nhất và khái quát hoá nhiều cái tôi. Từ điển tâm lý học 18 (M, 1983) do A N Leonchiep chủ biờn đã xác định: Cái tôi là kết quả của việc con người tách mình ra khỏi môi trường xung quanh, cho phép con người cảm thấy mình như một chủ thể. Cái tôi là quan niệm của chủ thể về mình hình thành trong hoạt động và giao tiếp, mang các đặc điểm như chỉnh thể, thống nhất, có khả năng tự đánh giá, tự quan sát, tự điều chỉnh, bao gồm nhiều phương diện có mâu thuẫn nhưng thống nhất. Trong tác phẩm trữ tình, nội dung được hiện hữu thông qua sự rung động của cái tôi cá nhân, cái tôi ấy mang những số phận, những cá tính riêng tư khác nhau.
Tuy nhiên, nếu như trong thơ ca một thời có sự phân biệt rạch ròi giữa "cái ta", "cái tôi", nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau , mọi cái ta đều hoạt động bằng cái tôi và mọi cái tôi đều kết tinh bởi cái ta có lẽ, cái tôi và cái ta chưa bao giờ tách rời nhau, nó luôn thống nhất với nhau trong từng tác phẩm cụ thể "Thơ Đỗ Phủ đâu chỉ nói về mình mà còn nói cả số phận nhân dân thời ly loạn. Trong Con quỷ của Lécmôntốp. Chiếc thuyền say của Rimbaud, Tấm lá rụng của Verlaine, thơ trữ tình của Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương. đâu chỉ có cái tôi tiểu sử nhỏ hẹp mà nó bao trùm trong đó nỗi niềm, tâm sự của một lớp người có chung hoàn cảnh, chung cảm xúc, chung những ao ước, khát vọng.
Xuân Quỳnh đã khéo gắn kết "cái ta" với "cái tôi" một cách tinh tế vừa cho lời thơ ăn nhịp với dòng cảm xúc chung vừa tạo nên nét cá tính riêng trong từng tác phẩm: "Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ " (Sóng) Những câu thơ đúc kết những cảm xúc những khao khát chân thành của nhà thơ khao khát mong ước về tình yêu đã hoà vào dòng chảy chung trong cảm xúc của đôi lứa. Ai đó khi yêu cũng mong ước mình có một tình yêu trọn vẹn, ai chưa yêu cũng khao khát mình có một tình yêu nhưng không phải bất cứ ai cũng biết khát khao được sống trong tình yêu tuyệt diệu ấy. Đó chính là 19 nét cá tính, cái tôi riêng đúc kết trong cái ta chung tạo nên những cảm xúc không hề xa lạ nhưng lại rất mới mẻ. Thế giới chủ quan của nhà thơ, nhà văn có tác động về cùng quan trọng đến sự phát triển của văn học nói chung cũng như các tác phẩm trữ tình nói riêng.
Mỗi tác phẩm trữ tình có thể bao hàm nội dung nhiều mặt như triết lý, trí tuệ, có thể thiên về trữ tình công dân, trữ tình chính trị có thể nghiêng về miêu tả thiên nhiên hoá có thể miêu tả thể hiện thực hay miêu tả cái gì đi nữa nó cũng chỉ bao quanh những giới hạn phong phú của cái tôi nhiều mặt, sự đa diện lập thể của cuộc đời. Thế giới chủ quan trong tác phẩm trữ tình đóng vai trò chủ đạo làm nên nội dung tác phẩm một cách sâu sắc, toàn vẹn. Vì vậy, việc ý thức đúng đắn về cái tôi cá nhân (thế giới chủ quan cá nhân) và phát triển cái tôi đó chính là những tiền đề nền tảng và thực tế cho sự phát triển các tác phẩm trữ tình.