Khóa luận tốt nghiệp về năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải tiến thực

Trường đại học

Trường Đại học Hùng Vương

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

128
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở khoa học của cảm thụ tác phẩm trữ tình trong nhà trường

Chương này tập trung vào việc phân tích cơ sở lí luậnthực tiễn của việc cảm thụ tác phẩm trữ tình trong giáo dục tiểu học. Tác phẩm trữ tình được định nghĩa là những sáng tác thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả một cách trực tiếp, thông qua ngôn từ nghệ thuật. Đặc điểm này tạo nên sự khác biệt so với tác phẩm tự sự, nơi câu chuyện và nhân vật được xây dựng qua các tình tiết và xung đột. Cảm thụ văn học ở học sinh tiểu học, đặc biệt là lớp 4, đòi hỏi sự phát triển tư duy hình tượng và khả năng nhận biết các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm.

1.1 Khái quát về tác phẩm trữ tình

Tác phẩm trữ tình là sự kết hợp giữa thế giới chủ quan của tác giả và yếu tố khách quan từ đời sống. Cái tôi trữ tình là yếu tố cốt lõi, thể hiện cảm xúc, tâm trạng của tác giả thông qua ngôn từ nghệ thuật. Điều này giúp học sinh nhận biết và hiểu sâu hơn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Ví dụ, trong thơ trữ tình, cảm xúc của tác giả được thể hiện qua hình ảnh, nhịp điệu và ngôn từ, tạo nên sự đồng cảm với người đọc.

1.2 Vai trò của cảm thụ tác phẩm trữ tình trong giáo dục tiểu học

Việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình giúp học sinh phát triển tư duy, tình cảm và nhân cách. Đặc biệt, ở lứa tuổi lớp 4, học sinh bắt đầu hình thành các kĩ năng cảm thụ văn học ở mức độ cao hơn. Giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực để kích thích sự sáng tạo và khả năng biểu đạt của học sinh. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt mà còn góp phần phát triển toàn diện cho học sinh.

II. Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4

Chương này đề xuất các biện pháp cụ thể để nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4. Các biện pháp bao gồm việc bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ, tăng cường hứng thú học tập, và đa dạng hóa hoạt động cảm thụ. Các phương pháp này được thiết kế dựa trên đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh tiểu học, nhằm tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

2.1 Bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ và hứng thú học tập

Việc bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ giúp học sinh hiểu sâu hơn về ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm trữ tình. Giáo viên có thể sử dụng các bài tập tương tác, phiếu học tập để kích thích sự tò mò và hứng thú của học sinh. Đồng thời, việc tạo ra các hoạt động nhóm, thảo luận sẽ giúp học sinh tự tin hơn trong việc thể hiện cảm nhận của mình.

2.2 Đa dạng hóa hoạt động cảm thụ

Đa dạng hóa các hoạt động cảm thụ thông qua việc kết hợp các chủ đề và dạy học liên môn giúp học sinh tiếp cận tác phẩm trữ tình một cách toàn diện. Ví dụ, giáo viên có thể kết hợp giữa văn học và nghệ thuật để học sinh cảm nhận tác phẩm qua nhiều góc độ khác nhau. Điều này không chỉ nâng cao khả năng cảm thụ mà còn phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

III. Thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả

Chương này trình bày quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành trên học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Phong Châu, Phú Thọ. Kết quả cho thấy các biện pháp đã giúp học sinh nâng cao khả năng cảm thụ tác phẩm trữ tình, đồng thời cải thiện chất lượng dạy học môn Tiếng Việt.

3.1 Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc nhận biết và phân tích các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm trữ tình. Các em cũng thể hiện sự tự tin hơn trong việc biểu đạt cảm nhận của mình. Điều này chứng tỏ các biện pháp đã đề xuất có tính khả thi và hiệu quả cao.

3.2 Đánh giá và hướng điều chỉnh

Dựa trên kết quả thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đề xuất một số hướng điều chỉnh để tối ưu hóa các biện pháp. Ví dụ, cần tăng cường thời gian thực hành và đa dạng hóa các hoạt động cảm thụ để phù hợp hơn với nhu cầu và khả năng của học sinh.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CẢM THỤ TÁC PHẨM TRỮ TÌNH TRONG NHÀ TRƯỜNG 1. Cơ sở lí luận của đề tài Trong dòng chảy xuyên suốt của văn học các tác phẩm văn học ra đời dựa trên nền tảng những biểu hiện tư tưởng, tình cảm của con người. Tác phẩm trữ tình được phân biệt cùng với tác phẩm tự sự tạo nên sự đa dạng, phong phú cho tác phẩm văn học. Xuất phát từ cách thể hiện tình cảm, cảm xúc ít nhiều trong tác phẩm, cách tổ chức câu từ của ngôn từ nghệ thuật tạo nên một chỉnh thể là một tác phẩm hoàn chỉnh mà tác phẩm trữ tình ra đời như một bức tranh đầy đủ nói lên những cảm xúc của con người một cách sâu sắc và nhiều góc cạnh.

Tác phẩm được hiểu là công trình do nhà văn hoá, nghệ thuật hoặc khoa học sáng tạo ra, còn trữ tình là tính từ chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng nhân vật có cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống. Nói tóm lại tác phẩm trữ tình bao gồm những tác phẩm thể hiện ý nghĩa tư tưởng tình cảm của tác giả theo cách riêng biệt cách bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách trực tiếp của tác giả chính là cơ sở để xây dựng, nội dung của tác phẩm. Khái quát về tác phẩm trữ tình 1. Thế giới quan và sự cụ thể hóa hết sức phổ biến trong tác phẩm trữ tình Trong tác phẩm trữ tình yếu tố nội dung được bộc lộ thông qua những tư tưởng, tình cảm những xúc cảm chân thành từ bản thân tác giả nếu như ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng bằng những đối thoại và độc thoại khác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn xung đột thì ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới chủ quan của con người, 16 cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa được trình bày trực tiếp là nội dung chủ yếu.

Thế giới chủ quan bao trùm lên toàn bộ tác phẩm trữ tình tuy nhiên bên cạnh thế giới chủ quan ấy còn có sự gắn kết, ăn nhịp của yếu tố khách quan. Vì những cảm xúc, tâm tư, tõm trạng tình cảm nhiều khi không xuất phát tự trong lòng mà nó được khởi điểm gợi mở từ những yếu tố khách quan. Sự gắn kết ăn nhịp ấy đã tạo cho tác phẩm trữ tình sự đa dạng về nội dung. Người đọc có thể thông qua những ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm để nắm bắt cảm xúc tình cảm của tác giả.

Tuy nhiên cũng thông qua đó ta thấy những sự vật, chi tiết hiện thực đời sống khách quan khéo đan gài trong cảm xúc, tâm trạng của tác giả trữ tình. “Cái tôi trữ tình” của tác giả - yếu tố đầu tiên và cơ bản làm nên nội dung tác phẩm trữ tình. Biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình. Tác phẩm trữ tình ra đời dựa trên cảm nhận chủ quan của tác giả nghệ thuật hay còn gọi là "Cái tôi trữ tình".

Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những cách nhìn nhận, đánh giá thống nhất về ý nghĩa, giá trị của cái tôi trữ tình, đối với một tác phẩm trữ tình. Các trường hợp đề cập đến vấn đề này thì lại đưa ra những cách hiểu khác nhau cái tôi ở đây được xem xét trên cơ sở thơ trữ tình là chủ yếu vì thơ trữ tình là thể loại thể hiện đầy đủ và rõ nét nhất những đặc điểm và đặc trưng của một tác phẩm trữ tình. Nó là thể loại phù hợp để diễn đạt tình cảm, cảm xúc. "Bắt đầu từ các nhà mỹ học thế kỷ XVIII-XIX như Hegel, thơ trữ tình được xem như là sự biểu hiện của chủ thể và cảm thụ của chủ thể.

Ông nói "Cần phải khẳng định một chủ thể cụ thể nhà thơ, như là điểm tập trung và nội dung đích thực của nhà thơ trữ tình ở thơ trữ tình cá nhân là trung tâm trong quan niệm và tình cảm nội tại của nó. Cơ sở tư liệu để Hegel xây dựng quan niệm của ông là thơ ca lãng mạn đương thời, ông viết "Nội dung đích thực của chủ nghĩa lãng mạng là đời sống nội tâm tuyệt đối, còn hình thức của nó là tính chủ quan tinh thần như là sự lý giải về sự tự hoạt động và tự do, từ tinh thần đó ông hiểu nội dung của tác phẩm trữ tình là toàn bộ cái chủ quan 17 thế giới nội tâm, tâm hồn đang tư duy và đang cảm thấy một tân hồn chưa chuyển sang hành động mà vẫn giữ nguyên tính chất của cuộc sống bên trong. Tuy nhiên, theo Hegel khái niệm cái chủ quan ở đây thuộc về ý niệm tuyệt đối. Việc ông xem xét cái chủ quan cá nhân phụ thuộc vào những quan niệm cá nhân của bản thân ông sự tuyệt đối.

Việc ông xem xét cái chủ quan cá nhân phụ thuộc vào những quan niệm cá nhân của bản thân ông. Sự tuyệt đối hoá trong ý thức, quan niệm về con người cá nhân trong tác phẩm trữ tình một phần đã khiến cho cái tôi cá nhân vẫn chưa có ý nghĩa đáng kể, cái tôi ở đây vẫn được xem xét một cách riêng biệt. Mỗi người có cách nhìn nhận và đánh giá cái tôi khác nhau nên chưa khái quát và thống nhất được cách đánh giá chung nhất về cái tôi cá nhân hay nói cách khác là thế giới chủ quan trong tác phẩm trữ tình "Các nhà lý luận văn học Liên Xô như L.NPôxpêlốp xác định nội dung trữ tình là tính cách xã hội được biểu hiện qua nhân vật trữ tình. Trong tương quan đó, cái tôi trữ tình lại được thu hẹp, chỉ như một loại trữ tình đặc biệt, khi tác giả trực tiếp miêu tả, biểu hiện yếu tố tâm trạng, tiểu sử của chính mình.

Như vậy cái tôi trữ tình không được xem xét như một yếu tố phổ quát của thơ trữ tình và nhân vật trữ tình nói chung cách hiểu này đã để lại dấu ấn đánh giá thấp ý nghĩa của cái tôi cá nhân và đề cao cái ta như một sự đối lập với cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân, cái nhìn bao giờ cũng được hiểu như một cái gì nhỏ hẹp, hạn chế, khép kín, ít ý nghĩa. Có những cách hiểu phiến diện hay tuyệt đối hoá vai trò của thế giới chủ quan (cái tôi cá nhân) trong nội hàm tác phẩm trữ tình đã phần nào làm hạn chế đi sự đa dạng trong nội dung cũng như những phương diện tình cảm được tác giả gửi gắm trong mỗi tác phẩm. Thế giới chủ quan là yếu tố đầu tiên và cơ bản để hình thành nên nội dung tác phẩm vậy nên về cái chủ quan, cái cá nhân luôn luôn phải được xem xét một cách khách quan.

Xưa nay, có nhiều quan điểm phân trần rõ nét giữa cái "tôi" với "cái ta", cái tôi ở đây được xem là cái cá nhân cảm xúc chủ quan, nhỏ hẹp còn "cái ta" được nhìn nhận như là một cái chung phổ quát lớn lao, cao cả bao trùm, thống nhất và khái quát hoá nhiều cái tôi. Từ điển tâm lý học 18 (M, 1983) do A N Leonchiep chủ biờn đã xác định: Cái tôi là kết quả của việc con người tách mình ra khỏi môi trường xung quanh, cho phép con người cảm thấy mình như một chủ thể. Cái tôi là quan niệm của chủ thể về mình hình thành trong hoạt động và giao tiếp, mang các đặc điểm như chỉnh thể, thống nhất, có khả năng tự đánh giá, tự quan sát, tự điều chỉnh, bao gồm nhiều phương diện có mâu thuẫn nhưng thống nhất. Trong tác phẩm trữ tình, nội dung được hiện hữu thông qua sự rung động của cái tôi cá nhân, cái tôi ấy mang những số phận, những cá tính riêng tư khác nhau.

Tuy nhiên, nếu như trong thơ ca một thời có sự phân biệt rạch ròi giữa "cái ta", "cái tôi", nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau , mọi cái ta đều hoạt động bằng cái tôi và mọi cái tôi đều kết tinh bởi cái ta có lẽ, cái tôi và cái ta chưa bao giờ tách rời nhau, nó luôn thống nhất với nhau trong từng tác phẩm cụ thể "Thơ Đỗ Phủ đâu chỉ nói về mình mà còn nói cả số phận nhân dân thời ly loạn. Trong Con quỷ của Lécmôntốp. Chiếc thuyền say của Rimbaud, Tấm lá rụng của Verlaine, thơ trữ tình của Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương. đâu chỉ có cái tôi tiểu sử nhỏ hẹp mà nó bao trùm trong đó nỗi niềm, tâm sự của một lớp người có chung hoàn cảnh, chung cảm xúc, chung những ao ước, khát vọng.

Xuân Quỳnh đã khéo gắn kết "cái ta" với "cái tôi" một cách tinh tế vừa cho lời thơ ăn nhịp với dòng cảm xúc chung vừa tạo nên nét cá tính riêng trong từng tác phẩm: "Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ " (Sóng) Những câu thơ đúc kết những cảm xúc những khao khát chân thành của nhà thơ khao khát mong ước về tình yêu đã hoà vào dòng chảy chung trong cảm xúc của đôi lứa. Ai đó khi yêu cũng mong ước mình có một tình yêu trọn vẹn, ai chưa yêu cũng khao khát mình có một tình yêu nhưng không phải bất cứ ai cũng biết khát khao được sống trong tình yêu tuyệt diệu ấy. Đó chính là 19 nét cá tính, cái tôi riêng đúc kết trong cái ta chung tạo nên những cảm xúc không hề xa lạ nhưng lại rất mới mẻ. Thế giới chủ quan của nhà thơ, nhà văn có tác động về cùng quan trọng đến sự phát triển của văn học nói chung cũng như các tác phẩm trữ tình nói riêng.

Mỗi tác phẩm trữ tình có thể bao hàm nội dung nhiều mặt như triết lý, trí tuệ, có thể thiên về trữ tình công dân, trữ tình chính trị có thể nghiêng về miêu tả thiên nhiên hoá có thể miêu tả thể hiện thực hay miêu tả cái gì đi nữa nó cũng chỉ bao quanh những giới hạn phong phú của cái tôi nhiều mặt, sự đa diện lập thể của cuộc đời. Thế giới chủ quan trong tác phẩm trữ tình đóng vai trò chủ đạo làm nên nội dung tác phẩm một cách sâu sắc, toàn vẹn. Vì vậy, việc ý thức đúng đắn về cái tôi cá nhân (thế giới chủ quan cá nhân) và phát triển cái tôi đó chính là những tiền đề nền tảng và thực tế cho sự phát triển các tác phẩm trữ tình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4" tập trung vào việc phát triển khả năng cảm nhận và đánh giá các tác phẩm văn học trữ tình cho học sinh tiểu học. Nội dung chính của tài liệu bao gồm các phương pháp giảng dạy hiệu quả, cách thức khơi gợi cảm xúc và tư duy phản biện của học sinh khi tiếp cận với văn học. Việc nâng cao năng lực cảm thụ không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm mà còn phát triển kỹ năng ngôn ngữ và tư duy sáng tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục tiểu học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn khoa học lớp 5, nơi bạn sẽ tìm thấy những phương pháp dạy học sáng tạo có thể áp dụng cho nhiều môn học khác nhau. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giáo dục học tích hợp giáo dục môi trường địa phương trong dạy học môn lịch sử và địa lí lớp 4 cho học sinh thành phố hải phòng cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc tích hợp giáo dục môi trường vào chương trình học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục học khắc phục khó khăn và sai lầm theo hướng phát triển tư duy phê phán cho học sinh trong dạy học môn toán lớp 4 sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh, một kỹ năng quan trọng trong học tập. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục tiểu học và các phương pháp giảng dạy hiệu quả.