mở đầu, phần thân và đoạn kết thúc. Trong đó phần thân gồm một hay nhiều đoạn văn, mỗi đoạn phát triển một ý nhỏ trong chủ đề lớn. Số lượng các đoạn văn trong phần thân là các ý luan an 15 lớn (luận điểm) giúp chứng minh làm rõ chủ đề [159]. Như vậy, có thể nhận thấy tác giả cuốn sách đã nêu ra cách trình bày nội dung nghị luận.
Từ cách phân chia bố cục đoạn văn như trên, cuốn sách đã giới thiệu hai dạng bài nghị luận chính. Dạng bài thứ nhất là đưa ra hai quan điểm trái ngược nhau và yêu cầu bản thân trình bày quan điểm của riêng mình (riêng người tạo lập văn bản). Dạng thứ hai là đưa ra một quan điểm và hỏi người tạo lập văn bản có đồng ý hay không. Từ hai dạng bài đó, người nói, người viết tiến hành hoạt động tạo lập văn bản theo những cách cụ thể.
Trong quá trình triển khai nội dung cần nghị luận, người viết phải thực hiện tổ chức lập luận theo nhận thức riêng của bản thân. Như vậy, khi hướng dẫn cách viết bài luận trong tiếng Anh, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến lập luận để bài luận trở nên chặt chẽ, có sức thuyết phục. Tác giả Milon Nandy trong Hướng dẫn viết luận Tiếng Anh, sau khi giới thiệu cách viết bài luận đã đưa ra các loại bài luận, trong đó có văn tranh luận (trình bày cho người đọc ý kiến của tác giả về một vấn đề tranh cãi), văn tự luận (thể hiện suy nghĩ của tác giả về một đề tài), văn bình giảng, giải thích về một vấn đề cụ thể, luận văn tổng hợp trình bày chung về một đề tài (người viết trình bày về một chủ đề cụ thể). Để cụ thể hơn về cách phân loại các bài luận nói trên, tác giả đã giới thiệu cách lập dàn ý cho bài luận thông qua một số đề tài cụ thể [156].
Khảo cứu hệ thống SGK Ngữ văn phổ thông của bang California (Hòa Kỳ), chúng tôi nhận thấy rằng, văn nghị luận được đưa vào học từ lớp 6. Nội dung dạy học về văn nghị luận khá đậm nét. HS được học 5 kiểu bài nghị luận gồm: nghị luận nêu quan điểm (Opinion Statement at a Glance); nghị luận nguyên nhân - kết quả (Cause and Effect Essay at a Glance); nghị luận giải quyết vấn đề (Problem Solution Essay at a Glance); nghị luận so sánh - đối chiếu (Comparison and Contrast Essay at a Glance); nghị luận thuyết phục (Persuasive Essay at a Glance). Ở lớp 6, HS được học bài nghị luận nguyên nhân - kết quả, nghị luận so sánh đối chiếu và nghị luận nêu quan điểm.
Lớp 8, dạy học nghị luận nêu quan điểm, nghị luận giải quyết vấn đề, nghị luận thuyết phục và nghị luận nguyên nhân - kết quả. Lớp 9, dạy học nghị luận giải quyết vấn đề và nghị luận thuyết phục. Như vậy, hai kiểu bài nghị luận nêu quan điểm và nghị luận nguyên nhân - kết quả được học lại luan an 16 với mức độ cao hơn ở lớp 8; nghị luận giải quyết vấn đề, nghị luận thuyết phục được học lại với mức độ cao hơn ở lớp 9 [150], [151], [152]. Để dạy học tốt các kiểu bài nghị luận nói trên, SGK từ việc đưa ra mục tiêu bài học, lí thuyết tổng quan về các kiểu bài (mỗi kểu bài được minh họa bằng một mô hình bố cục khá sinh động), một quy chuẩn bài viết ngắn gọn, dễ hiểu, đến phân tích bài văn mẫu và hướng dẫn tổ chức cho HS thực hiện luyện viết bài nghị luận.
Để luyện viết bài nghị luận, HS thực hiện các công việc cụ thể như: Tìm đề tài trong cuộc sống của bản thân và trong xã hội, tìm trong ngân hàng ý tưởng; lập kế hoạch cho bài nghị luận; lập luận vấn đề; đưa ra hệ thống ý, viết câu chủ đề; nhận biết đối tượng đọc; tìm dẫn chứng; viết bản thảo; đọc và kiểm tra lỗi; thảo luận với người đọc bài của mình,… Từ yêu cầu cần đạt của bài học về kiểu bài nghị luận, HS sẽ viết được một bài nghị luận hoàn chỉnh khoảng 500 - 700 từ. Các kĩ năng làm văn như lập dàn ý, diễn đạt, tổ chức lập luận,… được luyện tập trực tiếp trong bài học. Như vậy, có thể thấy, dạy học về văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng trong SGK phổ thông ở Mỹ. Trong đó, yêu cầu luyện viết văn nghị luận của HS đề cao tính sáng tạo của cá nhân trong việc lựa chọn vấn đề và cách thể hiện.
Xây dựng các kiểu bài nghị luận và thiết kế các nội dung dạy học hướng vào rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực, trí tuệ cho người học là quan trọng và cần thiết. Điều này thể hiện đúng mục tiêu dạy học viết văn và có điểm chung với mục tiêu dạy học viết văn của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ các công trình nghiên cứu trên đây, có thể nhận thấy dạy học về văn nghị luận được chú trọng, nhất là cách tổ chức một bài luận chặt chẽ. Ngoài bố cục 3 phần, để bài luận được logic, không thể thiếu các lập luận trong bài viết.
Thực hiện những điều này giúp người viết đạt được mục đích của bài nghị luận. Nghiên cứu về văn bản nghị luận, các học giả Trung Quốc từ xưa đã nhận thấy vai trò quan trọng của lập luận trong thể văn này. Từ thế kỷ VI, khi bàn về các thể văn xưa và nay trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đánh giá rất cao vai trò của lập luận trong thể luận thuyết (tức thể lí luận và thể thuyết phục). Ông cho rằng: “Luận giống như việc bổ củi, quý ở chỗ chẽ được lý ra, còn như dao sắc quá bỏ lý luan an 17 mà chặt ngang, người ngụy biện đi ngược ý nghĩa mà nói lấy được thì đọc văn tuy thấy hay đấy nhưng xét lại thì hóa ra dối trá” [48].
Như vậy, tác giả không chỉ nói đến cái hay, cái tinh tế, sắc sảo của lý và còn chỉ ra cái lý suông, kém thuyết phục, thậm chí là dối trá của lập luận trong văn nghị luận. Trong cuốn Thuật hùng biện, tác giả Triệu Truyền Đống giới thiệu một số phương pháp được sử dụng để lập luận khi biện luận. Trong cuốn sách này, bốn phương pháp cơ bản được dùng khi hùng biện là: thắng bằng logic, thắng bằng nghệ thuật ngôn từ, thắng bằng mưu chước và thắng bằng vạch trần ngụy biện. Từ đó, tác giả khẳng định quan điểm muốn biện luận thành công, người hùng biện phải tác động để thuyết phục được người tiếp nhận tin vào chân lý, đó chính là lập luận.
Trong công trình của mình, tác giả Triệu Truyền Đống cũng đã giới thiệu khá rõ về một số phương pháp biện luận như: suy luận ưu tiên, nhận rõ nhân quả, lấy luận cứ chứng minh tại chỗ, suy luận biện chứng, luận đoán tương lai,. Có thể nói, những công trình nghiên cứu đề cập ở trên đã cho thấy tầm quan trọng và tính phổ quát của bài văn nghị luận. Đặc biệt, trong văn nghị luận không thể thiếu lập luận. Nó như là xương sống của bài văn nghị luận, giúp bài văn nghị luận mạch lạc, sáng tỏ và mang tính thuyết phục.
Ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu trong nước rất quan tâm tới làm văn nghị luận nói chung và lập luận trong văn nghị luận nói riêng. Để phù hợp với mục đích nghiên cứu, các tác giả đã cụ thể hóa các khía cạnh nội dung liên quan đến dạy học làm văn nghị luận và lập luận trong văn nghị luận ở những nghiên cứu có giá trị. Tác giả Hà Thúc Hoan trong Làm văn nghị luận: Lí thuyết và thực hành, từ việc khẳng định vị trí quan trọng và những đặc trưng của văn nghị luận, đã đi sâu vào quy trình làm một bài văn nghị luận gồm: phân tích đề; lập dàn bài; viết nhập đề và kết luận. Về dạy kĩ năng làm văn nghị luận cho HS, tác giả Hà Thúc Hoan cho rằng: “Dạy làm văn, học làm văn, dù không thể bỏ qua phần lí thuyết, nhưng thầy, cô giáo và sinh viên, học sinh phải đặc biệt chú trọng phần thực hành để rèn luyện kĩ năng.
Học làm văn cũng giống như học bơi, vấn đề không phải là đứng trên bờ để luan an 18 bàn luận về cách thức bơi mà phải nhảy xuống nước và làm đi làm lại một số động tác. Vì lẽ này, chúng tôi thường cho nhiều ví dụ trong mỗi bài giảng lí thuyết và cuối mỗi bài giảng lí thuyết đều có nhiều bài tập thực hành” [51, tr 4]. Như vậy, để có kĩ năng làm văn nghị luận tốt, không gì quan trọng hơn là việc bắt tay vào thực hành làm văn nghị luận. Tác giả Nguyễn Quốc Siêu trong Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông khẳng định: “Văn nghị luận là một thể loại thường dùng trong đời sống xã hội.
Hiểu và nắm vững quá trình, phương pháp làm văn nghị luận sẽ giúp ta có được một tư duy sắc bén, chuẩn xác; đồng thời có thể trình bày luận điểm của mình một cách hoàn thiện, có sức thuyết phục mạnh mẽ” [114, tr 3]. Với cơ sở đó, tác giả cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống những kiến thức cơ bản về văn nghị luận, những kĩ năng, kĩ xảo làm văn theo thể loại này, đồng thời giới thiệu một số kiểu bài nghị luận thường gặp. Cũng bàn về nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận cho HS, song công trình Nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận lại được trình bày theo hướng kinh nghiệm. Trong đó, khi bàn về những kĩ năng làm văn nghị luận, mỗi tác giả lại tập trung bàn vào thế mạnh của những yêu cầu cụ thể như bình giá, bình giảng, phân tích hay cảm thụ.
khi tạo lập văn bản nghị luận [94]. Xuất phát từ vị trí quan trọng của văn nghị luận trong chương trình phổ thông, tác giả Nguyễn Ngọc Phúc đã đề cao việc rèn luyện cho HS kĩ năng làm văn nghị luận. Theo tác giả, “rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận phải được tiến hành một cách toàn diện, công phu, kiên trì và phải được nhiều người quan tâm”. Vì vậy, tác giả đề xuất việc rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận trước tiên phải “rèn thói quen suy nghĩ, phải coi trọng cả hai mặt: cung cấp kiến thức và giúp học sinh rèn luyện thành thạo kĩ năng làm bài qua tất cả các khâu, trong tất cả các phân môn của môn Ngữ văn, đồng thời qua các môn học khác và ở cả trong các hoạt động của nhà trường” [105].
Văn bản nghị luận không chỉ là loại văn bản thông thường mà nó còn đòi hỏi có tính nghệ thuật thuyết phục.