CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phương thức biểu đạt và các kiểu loại văn bản 1. Phương thức biểu đạt a) Khái niệm phương thức biểu đạt Phương thức biểu đạt giúp người với người hiểu nhau hơn, gần gũi hơn và giúp gắn kết các mối quan hệ. Bởi không ai không muốn những suy nghĩ và cảm xúc của mình được hưởng một cách đầy đủ và đúng đắn.
Như vậy, có thể hiểu: “Phương thức biểu đạt trong văn bản là cách mà người viết truyền tải những thông điệp đến với người đọc, thể hiện những tâm tư, những suy nghĩ, tình cảm của chính người viết với đối tượng đang đọc tác phẩm của mình” [29, tr.12] b) Các loại phương thức biểu đạt trong văn bản Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống cho rằng:“Mỗi phương thức biểu đạt phù hợp với một mục đích, ý đồ phản ánh, tái hiện nhất định và được thực hiện bởi một thao tác chính nào đó” [35] Căn cứ vào mục đích giao tiếp, phương thức biểu đạt được phân chia thành các phương thức biểu đạt cơ bản: phương thức miêu tả, phương thức tự sự, phương thức biểu cảm, phương thức lập luận, phương thức thuyết minh và phương thức điều hành. Phương thức điều hành là sử dụng các động tác hướng dẫn, chỉ đạo, sai khiến, ra lệnh, điều khiển, đề đạt, kiến nghị… nhằm truyền đạt những nội dung và điều lệnh nào đó từ từ trên cao xuống thấp để bày tỏ những đề xuất, yêu cầu của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết. Phương thức miêu tả là phương thức dùng hành động miêu tả để phản ánh và tái hiện lại đời sống. Ví như sử dụng động tác miêu tả để giúp người đọc hình dung ra được đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự việc sự vật, 11 phong cảnh, con người… làm cho đối tượng nói tới như hiện lên trước mắt người đọc….
Việc sử dụng thường xuyên các hành động trên sẽ tạo thành phương thức miêu tả của loại văn bản này. Phương thức biểu cảm là phương pháp biểu đạt bằng cách bày tỏ tư tưởng tình cảm, cảm xúc, thái độ và sự đánh giá đến đối tượng được nhắc tới. Khi người nói, người viết muốn làm sáng tỏ một vấn đề nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một tư tưởng, quan điểm nào đó, người viết cần dùng lý lẽ, dẫn chứng để giải thích chứng minh, phân tích, bình luận… , thì phải sử dụng phương thức lập luận. Ở một phương diện khác nếu người viết muốn tái hiện để diễn tả lại, giải thích, hay tìm hiểu về một vấn đề hay bày tỏ quan điểm về một vật, loại nào đó thì người viết lại phải trình bày một chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng có một kết thúc.
Cách biểu đạt như vậy được gọi là phương thức tự sự. Các kiểu loại văn bản a) Khái niệm văn bản "Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó [4]. Một văn bản không phải là một cái gì loại như một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng loại.
"Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về ý, cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo [4]. Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng - ngữ pháp" (L. Loseva, 1980) Định nghĩa trên có thể được làm rõ như sau: - Tên gọi văn bản ở đây bao gồm cả sản phẩm ngôn ngữ nói lẫn sản phẩm ngôn ngữ viết. Khi cần thiết có thể phân biệt giản đơn văn bản viết và 12 văn bản nói.
- Về mặt lượng, văn bản có độ dài bất kì, từ độ dài bằng một câu cho đến quyển sách dày hàng trăm trang. - Văn bản là một đơn vị gồm nhiều phương diện như cấu trúc hình thức, cấu trúc nội dung, cấu trúc tin, đề tài - chủ đề và những phương tiện văn hóa, xã hội. khác nữa, do vậy văn bản được coi là một tổng thể hợp nhất. - Về phương diện loại hình, văn bản có thể thuộc tất cả những loại hình cấu tạo khác nhau của lời nói được sử dụng trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ (nói cũng như viết).
Như vậy, có thể hiểu: Văn bản là sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một câu đề, nhất quán về chủ đề và chọn vẹn về nội dung được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm mục đích giao tiếp nhất định. b) Các kiểu loại văn bản dựa theo phương thức biểu đạt chính Căn cứ vào các phương thức biểu đạt vừa nêu, người ta chia ra các kiểu văn bản như: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh, văn bản nghị luận, văn bản điều hành (hay còn gọi là văn bản hành chính – công vụ, văn bản ứng dụng,. Văn bản tự sự: Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật, nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.
Văn bản miêu tả: Là loại văn bản làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung ra các tính chất, đặc điểm nổi bật của con người, phong cảnh, sự vật, sự việc. làm cho tất cả những yếu tố đó có thể hiện hữu trong trí tưởng tượng của người đọc, người nghe. Đối với văn bản miêu tả, thường bộc lộ rõ nét năng lực quan sát của người nói, người viết [23, tr.46] 13 Văn bản biểu cảm: Là dùng ngôn ngữ nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi người nghe, người đọc. Thường thì những bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu.
Tình cảm ấy được bộc lộ trực tiếp thông qua những suy nghĩ, những nỗi niềm, những cảm xúc trong lòng người [28, tr. Văn bản thuyết minh: Là một dạng văn bản rất phổ biến và hay sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Đây là một loại văn bản được chú trọng rất nhiều trong văn học. Văn bản thuyết minh đóng vai trò cung cấp cho người đọc những nội dung kiến thức về tính chất, đặc điểm, thành phần, tác dụng.
của những sự vật, hiện tượng tự nhiên bằng cách giới thiệu, giải thích, trình bày. Với loại văn bản này người đọc, người nghe sẽ được hiểu rõ ràng và tường tận về nhiều vấn đề [45, tr/18]. Văn bản nghị luận: Là loại văn bản có tác dụng xác lập cho người đọc, người nghe một quan điểm, tư tưởng nào đó đối với các sự vật, sự việc, hiện tượng xuất hiện trong văn học hay trong đời sống bằng cách lập luận thông qua các luận điểm, luận cứ [17, tr. Văn bản hành chính: Là loại văn bản có chưa các yếu tố thông tin theo quy phạm của Nhà nước, giải quyết những vụ việc cụ thể trong quá trình quản lý và cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy [17, tr.
Văn miêu tả và dạy học văn miêu tả ở trường tiểu học 1. Khái quát chung về văn miêu tả Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển, miêu tả là: “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra” [2] Văn miêu tả từ lâu đã là thể loại văn được các nhà nghiên cứu quan tâm. “Miêu tả là lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra” [23, tr. Miêu tả là: “dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự viêc hoặc thế giới nội tâm của con người” [29, tr.
14 Theo Oswald Ducrot: “giá trị đích thực của một nội dung miêu tả là giá trị lập luận của nó, có nghĩa là giá trị đích thực của nó là ở chỗ nó được nói, viết ra là nhằm dẫn người nghe, người đọc tới một kết luận + r hoặc – r nào đó” [34, tr. Ý nghĩa đích thực của miêu tả là lập luận cho nên nhà văn nhà thơ thường lựa chọn các chi tiết của cảnh, của người, của việc và sử dụng những cách biểu cảm sao cho phù hợp với kết luận dự định hướng tới. Trong văn miêu tả, quan hệ lập luận được thể hiện rất rõ. Vì miêu tả là nêu đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng làm cho người nghe, người đọc nhận biết đối tượng của người viết, nó không phải là vô tư mà thường nhằm tới một cái đích nào đó.
Việc miêu tả các sự vật, hiện tượng của người viết, người nói không phải là vô tư mà thường nhằm tới một cái đích nào đó. Mặt khác, theo tác giả Nguyễn Thị Nhịn: “Trong văn bản, chúng ta thường nói tới tư tường, chủ đề. Tư tưởng, chủ đề thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn.Văn bản, diễn ngôn hay một đoạn văn là một lập luận đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào. Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn” [29, tr.
Vì vậy, khi HS có kĩ năng lập luận, bài văn của các em sẽ không còn rơi vào rời rạc, khô cứng và tư tưởng, tình cảm của các em được thể hiện xuyên suốt cả bài. Như vậy, có thể hiểu văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,.làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe. Trong văn miêu tả, năng lực quan sát của người viết, người nói thường được bộc lộ rõ nhất.