Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về đọc hiểu văn bản và năng lực đọc hiểu văn bản 1. Nghiên cứu về đọc hiểu văn bản Đọc hiểu văn bản (ĐHVB) của môn Ngữ văn trong nhà trường trung học trong nhiều thập kỉ trở gần đã đạt được những thành tựu vô cùng phong phú. Làm nên những công trình xuất sắc đó phải kể đến tên tuổi của các nhà khoa học lớn trong và ngoài nước như: P.
Thorndike, Rosenblatt, Durkin, Smgorinski, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Nguyễn Thái Hòa, Phan Trọng Luận, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Thị Hạnh, Hoàng Hòa Bình, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Nam, … và rất nhiều nhà nghiên cứu khác. Khảo sát lịch sử nghiên cứu về lĩnh vực bề thế này, chúng tôi khái quát thành các luận điểm cơ bản sau đây: Một là, trên bình diện vai trò, ý nghĩa của đọc hiểu văn bản, một số công trình nghiên cứu hướng tới khẳng định đọc hiểu văn bản là hoạt động có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo và phát triển vốn văn hóa của người đọc. Mô hình “đọc văn hóa” của Smgorinski nhấn mạnh ý nghĩa của một không phải tồn tại ở những thành tố riêng lẻ như bản thân văn bản hay ở sự tiếp nhận của người đọc, mà ý nghĩa của văn bản chính là nằm ở vùng chuyển giao - nơi gặp gỡ của ba thành tố: người đọc - VB - bối cảnh đọc. Ý nghĩa của VB là một sản phẩm mới được tạo ra từ kết quả gặp gỡ và tương tác từ ba thành tố chính như trên.
Ý nghĩa của VB sẽ lớn hơn bản thân từng thành tố, “thậm chí lớn hơn tổng của ba thành tố được đề cập” [77, tr133-169]. “Lập luận cơ bản của mô hình này là người đọc thực sự đã sáng tạo nên một VB mới hay sáng tác lại để đáp ứng VB họ đã đọc; sự sáng tác lại ấy được dựa trên những kết nối với những VB và kinh nghiệm trước đó trong suốt hành động đọc VB” [dẫn theo 30, tr. Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục 10 Nhấn mạnh ý nghĩa của việc đọc hiểu tác phẩm văn học đối với cuộc sống của cá nhân HS, giúp HS tăng vốn hiểu biết, Rosenblatt viết: “tất cả những hiểu biết của học sinh về lịch sử văn học, về tác giả, và về các thời kì và thể loại văn học sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa nếu chúng không hướng học sinh đến việc tìm trong văn học những kinh nghiệm có ích cho cuộc sống cá nhân của họ” [75, tr. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng - một trong những nhà nghiên cứu đọc hiểu văn bản sớm nhất nước ta đã có nhiều bài báo, sách, giáo trình nghiên cứu TPVC, dạy học đọc hiểu TPVC như: Phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông - những vấn đề cập nhật (Chủ biên, 2007); Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học cơ sở (2008); Mô hình đọc hiểu tác phẩm văn chương (2011); Kĩ năng đọc hiểu văn (2014);…Trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu văn, tác giả đã đưa ra khái niệm, đặc điểm, lịch sử, bản chất, các bình diện, nội dung đọc hiểu TPVC.
Để nhấn mạnh vai trò đọc hiểu trong việc kiến tạo và phát triển vốn văn hóa của người đọc, ông cho rằng: “Cần phải xem đọc hiểu là bộ phận có ý nghĩa và tác dụng đào tạo văn hóa đọc cho học sinh thông qua dạy môn Ngữ văn” [21, tr. Trong công trình Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, tác giả Nguyễn Thanh Hùng khẳng định: “Qua đọc hiểu, năng lực và tri thức văn hoá của từng người được bộc lộ rõ, đồng thời làm xuất hiện kinh nghiệm văn hoá đọc và làm biến đổi cách thức, chất lượng và tầm văn hoá đọc” [20]. Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn cũng nghiên cứu nhiều về lĩnh vực đọc hiểu văn bản, trong một công trình của mình, ông nhấn mạnh: “Đọc không chỉ đọc bằng kĩ thuật mà còn đọc bằng hồn, đọc bằng khế ước văn hóa, bằng trải nghiệm không ngừng. Đọc văn, chính là đọc người, đọc nhân cách nhà văn để hoàn thiện nhân cách của mình.
Và do đó, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết trong tác phẩm cũng là gợi ý cho hình dung, tưởng tượng, so sánh để người đọc tri âm. Đọc văn để thấy người, thấy thời đại” [17, tr25-27] Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục 11 Như thế, chúng ta có thể khẳng định, ĐHVB là cuộc đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn của VB, là hoạt động quan trọng trong việc kiến tạo và phát triển vốn văn hóa của người đọc. Hai là, từ bình diện giao tiếp, một số nghiên cứu cho rằng đọc hiểu văn bản là hoạt động giao tiếp: Nhà thi pháp học hiện đại Bakhtin (1895 - 1975) khẳng định: ý nghĩa của tác phẩm văn chương không nằm trong ý thức nhà văn, cũng không nằm trong ý thức người đọc và lại không có sẵn trong văn bản tác phẩm mà nó được hình thành trong sự tương tác qua lại giữa tác giả và người đọc trên cơ sở các tín hiệu nghệ thuật mà nhà văn tạo ra trong đó. Chính vì vậy mà chỉ qua đối thoại, tranh luận thì ý nghĩa tác phẩm mới nảy sinh, được bộc lộ đích thực, phong phú, sinh động và chân xác [dẫn theo 38, tr.
“Đọc hiểu là quá trình tương tác xảy ra giữa một người đọc và một văn bản” (Rumelhart, 1994). Tác giả Trần Đình Sử (2007) cho rằng: ĐH là một cuộc giao tiếp nhiều chiều: “Đọc văn là quá trình đối thoại, đối thoại với tác giả, với cách hiểu của người đọc trước, với “tiền lí giải” - tri thức, cách hiểu tích luỹ từ ban đầu của chính người đọc nữa. Đọc là quá trình liên hệ với các văn bản có trước trong mối liên hệ liên văn bản rất rộng lớn và sâu sắc. Đọc là quá trình liên hệ với ngữ cảnh của văn bản - sáng tác của nhà văn, bối cảnh lịch sử, xã hội” [52].
Tác giả Phan Trọng Luận nhận định: Đọc văn không phải là quá trình thụ động tiếp nhận nghĩa VB mà là cả một quá trình kiến tạo, làm sống dậy nghĩa của VB bằng sự tương tác tích cực với VB. Theo tác giả, khi đọc văn là người đọc đang trò chuyện với tác giả và với chính bản thân mình. Cuộc trò chuyện đó giúp bản thân người đọc hiểu biết thêm và cũng là để tự nhận thức. [dẫn theo 38, tr.
30] Như vậy, tính chất giao tiếp trong hoạt động ĐHVB là sự giao tiếp của người đọc với tác giả, tác giả với người đọc, giữa những người cùng đọc một VB ở các thời điểm khác nhau. Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục 12 Ba là, quan tâm đến bản chất của vấn đề đọc hiểu văn bản, một số tác giả cho rằng đọc hiểu văn bản là quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau để đi đến đích tạo nghĩa cho VB: Tác giả Phan Trọng Luận (2014) nhận định đọc văn không phải là quá trình thụ động tiếp nhận nghĩa VB mà là cả một quá trình kiến tạo, làm sống dậy nghĩa của VB bằng sự tương tác tích cực với VB.Burke Huey và E. Thorndike “đã khởi xướng và đặt nền móng cho quan điểm đọc là quá trình kiến tạo tích cực” [dẫn theo 20, tr. Còn nhà nghiên cứu Huey thì cho rằng “đọc chính là quá trình tạo nên ý nghĩa từ những dấu vết mà tác giả để lại trên VB” [dẫn theo 39, tr.
“Đọc hiểu là quá trình tư duy có chủ tâm, trong suốt quá trình này, ý nghĩa được kiến tạo thông qua sự tương tác giữa văn bản và người đọc” (Durkin, 1993). “Đọc là tìm ra ý nghĩa trong một thông điệp được tổ chức bằng hệ thống kí hiệu [50]. “Đọc hiểu là quá trình kiến tạo nghĩa. Kiến tạo nghĩa trước hết cần xuất phát từ điểm tựa văn bản.
Bên cạnh đó, sự đa dạng của ý nghĩa còn xuất phát từ người đọc và bối cảnh đọc. Kiến tạo nghĩa là một quá trình xử lí kép diễn ra bên trong độc giả. Hoạt động kiến tạo nghĩa bao gồm các hành động kiến tạo cơ bản và các hành động kiến tạo xã hội. Hoạt động kiến tạo nghĩa như thế vừa khách quan, vừa chủ quan, vừa có điểm gặp gỡ, chia sẻ giữa bạn đọc vừa có yếu tố riêng mang dấu ấn cá nhân.
Ý nghĩa của văn bản được kiến tạo phong phú và rộng mở bởi nó được sinh thành trong mối quan hệ cụ thể Người đọc - Văn bản - Bối cảnh” [24, tr. “Bản chất của hoạt động đọc hiểu là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng” [20, tr. Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục 13 “Mỗi lần đọc, mỗi cách đọc chỉ là một chặng trên con đường chạy tiếp sức của biết bao độc giả để đến với tác phẩm… Mọi người đọc đều có cơ hội bình đẳng như nhau trong trò chơi tìm nghĩa. Không ai có tiếng nói cuối cùng.
Không ai là duy nhất đúng. Tác phẩm ngày càng giàu có lên trong tình yêu văn học của mọi người” [51, tr. “Người đọc không phải “đệm”, mà đã “chơi” tác phẩm trên bản nhạc của nhà văn, do vậy tùy theo người chơi mà tác phẩm có sự khác nhau” [51, tr. Tác giả Đỗ Ngọc Thống chỉ rõ: “Dạy - học đọc văn thơ thực chất là dạy - học cách giải mã, kiến tạo các giá trị nội dung, hình thức của VBVH” [46; tr.
Mặc dù các quan niệm về bản chất đọc hiểu văn bản của các tác giả trên có những điểm nhấn mạnh hay lướt qua ở các nội dung khác nhau nhưng vẫn có điểm gặp gỡ là: đọc hiểu là một quá trình gồm nhiều yếu tố khác nhau diễn ra và đi đến đích cuối cùng là hiểu văn bản. Nghiên cứu về năng lực đọc hiểu Năng lực đọc hiểu (NLĐH) giống như chìa khóa vạn năng giúp HS mở ra cánh cửa tri thức và có thể đọc “văn bản lớn” - văn bản cuộc đời. Từ lâu, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các tổ chức giáo dục đã quan tâm đến vấn đề phát triển NLĐH của người học. Theo đó, NLĐH là một phạm vi rộng, “năng lực đọc hiểu bao gồm các NL nhận thức với nhiều cấp độ, từ việc giải mã cơ bản đến việc hiểu ý nghĩa các từ, các cấu trúc, đặc điểm về ngữ pháp, về ngôn ngữ ở cấp độ rộng hơn, về VB, cho đến việc hiểu biết về thế giới.
Nó cũng bao gồm cả những NL siêu nhận thức: Sự hiểu biết về nhiều chiến thuật thích hợp và khả năng sử dụng chúng trong quá trình xử lí các VB.