Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực 1.1 Giáo dục định hướng năng lực Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Giáo dục định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.5 Dạy học là một quá trình phối hợp thống nhất hoạt động điều khiển, tổ chức, sắp xếp hợp lí hướng dẫn của người dạy với hoạt động lĩnh hội tri giác, tích cực, tự lực sáng tạo của học sinh nhằm đạt tới mục đích dạy học. Nó bao hàm cả hoạt động “dạy” và hoạt động “học” được thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và hướng tới cùng mục đích.
Dạy học là cả một quá trình vận hành biện chứng của các yếu tố: Mục tiêu và nguyên tắc dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, nội dung dạy học, hoạt động dạy học, hình thức tổ chức dạy học, hoạt động học, môi trường sư phạm, các mối quan hệ và quan trọng là thu được kết quả dạy học đạt kết quả cao. Toàn bộ quá trình dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, nó mang tính mục đích rất cao nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau: Cung cấp kiến thức cho học sinh: Cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức khoa học toàn diện về tự nhiên xã hội, tư duy về kỹ thuật và nghệ thuật… Về khả năng cũng như kĩ năng thực hành với phương pháp tư duy sáng tạo. 5 Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường, Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học sư phạm 2018. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Phát triển tư duy, sáng tạo, trí tuệ cho học sinh: Trên cơ sở cung cấp một lượng kiến thức kiến nhất định trong quá trình dạy học, chú trọng hơn nữa bồi dưỡng năng lực, phương pháp tư duy cho học sinh.
Phát triển trí tuệ là chức năng vốn có, là mục đích tự thân của quá trình dạy và học. Bằng mọi khả năng của mình người giáo viên phải tác động đến học sinh làm phát triển tối đa tiềm năng trí tuệ của họ trong quá trình dạy học. Giáo dục về phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh: Nhân cách là bộ mặt tâm lí riêng đặc trưng của một cá nhân, với tổ hợp những phẩm chất đạo đức phù hợp với những giá trị đạt chuẩn mực của xã hội và được xã hội công về nội dung cũng như hình thức của văn bản. PIRLS (2001)/ IEA nêu định nghĩa literacy competence là: Khả năng tập trung và truy xuất thông tin, suy luận, rút ra và đánh giá những suy luận và những cách giải thích khác nhau, xem xét và đánh giá nội dung, ngôn từ và các yếu tố của văn bản.
Những biểu hiện của năng lực đọc: + Đoán nội dung của văn bản dựa trên đề tài, tựa đề, đoạn trích… + Suy luận ý nghĩa từ các từ mới bằng cách sử dụng các manh mối từ văn bản và/hoặc từ kiến thức đã có. + Đọc để thu nhận các thông tin chi tiết trong văn bản. + Đọc lướt để nhận biết nội dung chung của văn bản + Nhận ra các điểm chính + Nhận ra các thông tin chi tiết + Nhận ra các chứng cứ chứng minh cho ý kiến, lí lẽ. + Thể hiện quan điểm + Phân biệt được sự kiện và ý nghĩa + Giải thích được các đặc điểm của các loại văn bản - Vai trò của năng lực đọc văn bản: Khi mục tiêu của giáo dục chuyển từ việc nhớ thông tin sang việc có thể tìm và sử dụng thông tin thì yêu cầu đặt ra đối với người đọc là họ phải có khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn năng tiếp cận, hiểu và suy ngẫm về tất cả các loại thông tin.
Đó là những năng lực rất cần thiết cho mỗi người để họ có thể tham gia đầy đủ vào xã hội dựa trên tri thức. Trong đó, năng lực đọc đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì “năng lực đọc tác động đến tiến trình nhận thức, tư duy, đồng thời định hình cách chúng ta tư duy”. Năng lực Tiêu chí Biểu hiện 1. Nhận biết Chỉ ra những thông tin có liên quan và được thông tin của thể hiện trong văn bản: tác phẩm, hoàn cảnh văn bản sáng tác, từ ngữ, chi tiết, nhân vật, qua đó nhận biết về đối tượng và nội dung chính được đề cập.
Xác định ý Kết nối các thông tin từ những từ ngữ, bối tưởng chính cảnh trong văn bản để xác định được các ý của văn bản tưởng cơ bản của văn bản. Khái quát giá Kết nối các mối liên hệ trong và ngoài văn bản trị nội dung, để nhận xét về giá trị nội dung, nghệ thuật của Năng lực nghệ thuật của văn bản, ý tưởng sáng tác của tác giả, các đọc hiểu văn bản thông điệp được gửi gắm. Vận dụng Sử dụng thông tin của văn bản, thông tin từ thông tin vào các nguồn khác và kinh nghiệm bản thân để tình huống giả giải quyết các vấn đề giả định, các vấn đề nảy định, hoặc thực sinh trong cuộc sống được gợi ra từ văn bản. Kiến giải ý Suy nghĩ, bình luận, kiến giải ý nghĩa tư tưởng nghĩa của văn và các giá trị của văn bản trong cuộc sống, vận bản trong cuộc dụng vào các giải pháp và bối cảnh mới sống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Dạy học đọc hiểu * Đặc điểm của hoạt động đọc hiểu Nhà nghiên cứu Frank Smith (2004) cho rằng nghĩa gốc của thuật ngữ “đọc” (reading) là giải thích, “hiểu” (interpretation) và nó được dùng để chỉ tất cả những hành động của chúng ta nhằm để hiểu, kiến tạo nghĩa cho những gì chúng ta thấy, những gì diễn ra xung quanh chúng ta. Như vậy, đọc chính là kiến tạo nghĩa (making sense). Việc kiến tạo nghĩa lại dựa trên việc chúng ta liên hệ tình huống mới với những gì chúng ta đã biết (relating the situation you are in to everything you know already). 6 - Đọc là sự tương tác giữa văn bản và người đọc, người đọc với người đọc.
Mỗi hành động đọc là một sự kiện, một sự tương tác, thương lượng giữa các yếu tố: một người đọc cụ thể và một mô hình cụ thể của những kí hiệu, một văn bản, và xuất hiện tại một thời điểm cụ thể trong một ngữ cảnh cụ thể. Ý nghĩa của văn bản không phải là cái tồn tại sẵn có “trong” văn bản hoặc “trong” người đọc, nó xảy ra hoặc xuất hiện trong quá trình tương tác, thương lượng giữa người đọc và băn bản. Người đọc kiến tạo nghĩa trong quá trình phản hồi với văn bản bằng cách sử dụng kiến thức nền và kiến thức về thể loại văn bản cũng như bối cảnh xã hội khi hoạt động đọc xảy ra. - Đọc là quá trình tiếp diễn Hoạt động đọc của người đọc là một hoạt động nhận thức diễn ra liên tục.
Trong quá trình đọc, các từ ngữ, các đoạn và các câu liên tục. Trong quá trình đọc, các từ ngữ, các đoạn, và các câu liên tục chuyển động tới lui trong đầu người đọc đồng thời xảy ra tiến trình thương thuyết, tranh luận, tự tranh luận liên tục về ý nghĩa. Vô số những hoạt động tư duy phức tạp xảy ra trong suốt quá trình đọc: tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ, cách sử dụng ngữ pháp của người viết, làm sáng tỏ nghĩa đen cũng như nghĩa bóng của từ ngữ, hình ảnh, đoán trước những điều có thể xảy ra trong văn bản, khám phá những điều còn 6 Smith, F. Lawrencs Erlbaum Associates Publishers, New Jersey, 6 th ed.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn mơ hồ, những cách hiểu không chắc chắn, dụ kiến những ý nghĩa có thể có của văn bản. - Đọc là giải mã và kiến tạo nghĩa cho văn bản Hình tượng nghệ thuật được mã hóa bằng ngôn từ, bằng hình ảnh mang tính biểu tượng, do vậy, quá trình đọc là quá trình giải mã những thông tin trong văn bản được thể hiện qua biểu tượng và những quy tắc của ngôn ngữ viết để có thể hiểu những thông điệp mà tác giả gửi gắm trong văn bản. Vì thế hoạt động đọc văn chương còn được định nghĩa là “đọc giữa dòng”. Để giải mã văn bản, người đọc sử dụng các loại kiến thức: kiến thức về thế giới về chủ đề của văn bản, về từ ngữ, về cách kiến tạo nghĩa từ biểu tượng/hình ảnh.
Giá trị của văn bản không chỉ dựa trên bản thân văn bản mà còn dựa trên sự cảm thụ của từng cá nhân đối với văn bản. Vì thế vai trò của người đọc còn được xem là vai trò đồng sáng tạo, tạo nghĩa cho văn bản, tham gia vào văn bản của người đọc. Văn bản văn chương chỉ là một cấu trúc mời gọi, nó chỉ cung cấp cái biểu đạt, còn cái được biểu đạt thì bỏ trống hặc để mơ hồ cho người đọc tự xác định. - Đọc là khơi gợi kến thức nền Kiến thức nền là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả cách thức con người chế biến, tổ chức và lưu giữ thông tin trong đầu họ và cách họ truy xuất thông tin.
Piagest định nghĩa kiến thức nền là “các cấu trúc nhận thức mà mỗi cá nhân sử dụng để điều chỉnh và tổ chức cách nhận thức của mình về thế giới”. Kiến thức nền của mỗi người thay đổi khi kến thức mới được đồng hóa và điều chỉnh. Nghĩa là họ dựa vào kiến thức nền của bản thân để tổ chức, lý giải, tiếp nhận các thông tin mới, nhanh chóng “sắp xếp” những thông tin mới được tiếp nhận vào kiến thức nền đã có đồng thời kiến thức nền của họ cũng được bổ sung bởi những thông tin mới. Khi chúng ta không hiểu một vấn đề nào đó có thể chỉ đơn giản là do ta không có đủ kiến thức nền về vấn đề đó mà thôi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Hoạt động đọc chịu sự chi phối của bối cảnh xã hội Vì đọc là một quá trình tiếp diễn nên cách hiểu về văn bản của người đọc hiểu luôn có sự vận động, điều chỉnh trong mỗi lần đọc. Mỗi người đọc lại có thể có cách lí giải không hoàn toàn giống nhau về văn bản.