Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỀ BÀI DẠY HỌC TLV LỚP 4, LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1. Lí thuyết về quan điểm giao tiếp 1. Khái niệm về giao tiếp Giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người và là nhu cầu thường xuyên không thể thiếu của con người.
Có nhiều phương tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất, cơ bản nhất. Theo Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2014, p. 6) cho rằng: Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,… nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết, công tác, … giữa các thành viên trong xã hội, … Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), kỹ mã (phát thông tin). Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể được thực hiện bằng hai hình thức: khẩu ngữ (nghe, nói), bút ngữ (đọc viết) Theo Hoàng Thị Tuyết (2013, p.
175) Giao tiếp ngôn ngữ là quá trình gồm hai hoạt động xảy ra tương tác lẫn nhau: tạo lập lời nói và lĩnh hội lời nói. Hoạt động tạo lập lời nói được thực hiện qua hai mô thức nói và viết, và hoạt động lĩnh hội lời nói được thực hiện qua hai mô thức đọc và nghe. Vậy giao tiếp ở HS tiểu học trong dạy học TLV được hiểu là hoạt động tiếp xúc giữa HS với HS, giữa HS với GV trong giờ học TLV nhằm bày tỏ tư tưởng, tình cảm, trao đổi ý kiến, kiến thức, nhận xét về các hoạt động làm văn. Thông qua hoạt động giao tiếp đó giúp HS hình thành và tạo lập được ngôn bản, văn bản.
Chức năng của giao tiếp Cũng như khái niệm giao tiếp, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan Luan van 9 niệm của mình về chức năng giao tiếp như sau: Theo Nguyễn Trí (2009) cho rằng giao tiếp có 5 chức năng sau đây: Chức năng thông tin (chức năng thông báo), chức năng tạo lập quan hệ, chức năng tự biểu hiện (biểu lộ), chức năng giải trí (tiêu khiển), chức hành động. Nguyễn Quang Ninh (1999) trong “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” cho rằng giao tiếp có 4 chức năng: chức năng thông tin, chức năng tự biểu hiện, chức năng tạo lập quan hệ, chức năng giải trí. Theo Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Kế Hào, & Phan Thị Hạnh Mai (2007) cho rằng giao tiếp có các chức năng thông tin hai chiều (chức năng nhận thức), chức năng thể hiện và đánh giá thái độ xúc cảm; chức năng liên kết, phối hợp hoạt động; chức năng đồng nhất hóa; tạo sự hiểu biết lẫn nhau, thông cảm, đồng cảm chung giữa các cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, nhóm này với nhóm khác; chức năng giáo dục. Từ các quan niệm của các nhà nghiên cứu về chức năng giao tiếp, chúng tôi nhận thấy rằng giao tiếp ở tiểu học trong dạy học TLV có những chức năng sau: - Chức năng thông tin (chức năng thông báo): Thông tin là chức năng thường gặp nhất của giao tiếp.
Nó có thể thực hiện qua nhiều phương tiện. Trong chức năng này, giao tiếp giúp HS trao đổi, truyền đạt cho nhau những hiểu biết, những kinh nghiệm, tri thức mới mẻ, bổ ích, lí thú khi học TLV. HS có thể trao đổi, chia sẻ về những gì các em quan sát được với các bạn khi học văn miêu tả (tả đồ vật, tả con vật, tả cây cối, tả cảnh). Những thông tin này thường có tính chất trí tuệ và những nội dung nhận được điều có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai.
- Chức năng tạo lập quan hệ: Tạo lập quan hệ là chức năng giao tiếp cộng tác giữa người với người. Chức năng tạo lập quan hệ của giao tiếp ngôn ngữ rất cần thiết cho sự tồn tại của xã hội. Thông qua hoạt động giao tiếp trong quá Luan van 10 trình học TLV, HS có thể xích lại gần nhau, gắn kết với nhau, các em làm quen được nhiều bạn mới. Sau một cuộc giao tiếp, các em có thể thấy thân thiết hơn, xây dựng được mối quan hệ trong lớp học hoặc có thể ác cảm hơn.
- Chức năng tự biểu hiện: Chức năng này tạo điều kiện cho mỗi HS khi học TLV có thể bày tỏ chính kiến, tình cảm, sở thích, năng khiếu, hứng thú, … để các bạn hiểu mình hơn. Qua đó các em cũng thể hiện thái độ, cách đánh giá, tình cảm … đối với cuộc sống, đối với đề tài và các bạn trong lớp. - Chức năng phối hợp hoạt động: Nhờ có quá trình giao tiếp mà HS tiểu học có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập và các nhiệm vụ khác nhằm đạt tới mục tiêu chung khi học TLV. Đây là chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của tập thể lớp, của tổ, của Đội.
- Chức năng giải trí: Trong những giờ ra chơi, HS thường nói chuyện, đùa giỡn với nhau. Những lúc đó, cuộc nói chuyện chủ yếu là thư giãn, để nghỉ ngơi sau những giờ học mệt mỏi, căng thẳng. Lúc này, chúng ta nói giao tiếp đã thực hiện chức năng giải trí. Ngôn bản và các nhân tố của hoạt động giao tiếp 1.
Ngôn bản a) Khái niệm ngôn bản Ngôn bản là những lời được nói ra hoặc viết ra trong hoạt động giao tiếp. Nói một cách khác, ngôn bản là do một chuỗi lời nói mạch lạc nhằm truyền đạt một nội dung giao tiếp nào đó của người tham dự giao tiếp tạo nên. b) Nội dung và hình thức của ngôn bản Một ngôn bản nào cũng bao gồm hai thành phần: thành phần nội dung và thành phần hình thức. Thành phần nội dung trong ngôn bản là thành phần nói lên thực tế, thể hiện thái độ, tình cảm, đánh giá hiện thực được nói tới và phản ánh những ý muốn tác động tới hành động ở người nghe của những người tham dự hoạt động giao tiếp.
Luan van 11 Thành phần hình thức trong ngôn bản là cách thức tổ chức bản thân các yếu tố ngôn ngữ lẫn việc sử dụng các yếu tố đi kèm như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ … để thể hiện nội dung. Người nghe sẽ tiếp nhận nội dung ngôn bản thông qua tiếp nhận các yếu tố hình thức của ngôn bản đó. Vậy ngôn bản do HS tạo lập trong dạy học TLV có nội dung và hình thức như sau: Thành phần nội dung của ngôn bản trong dạy học TLV là nội dung tả, kể của HS trong các bài TLV. Thông qua nội dung tả, kể đó thể hiện thái độ, tình cảm, sự đánh giá của HS đối với hiện thực được nói tới trong bài văn.
Thành phần hình thức của ngôn bản trong dạy học TLV là cách thức sử dụng ngôn ngữ của HS khi làm văn. HS có thể nói hoặc viết để tạo ra ngôn bản hay văn bản. Đối với văn nói, HS có thể sử dụng các yếu tố như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ để thể hiện nội dung tả/ kể đó. c) Ngôn bản gián đoạn và ngôn bản liên tục Gián đoạn và liên tục là những khái niệm gắn bó trực tiếp, chặt chẽ với khái niệm thời gian và không gian.
Và như vậy, hiểu một cách chung nhất, đơn giản nhất thì ngôn bản gián đoạn là ngôn bản bị ngắt quãng bởi thời gian và không gian; còn ngôn bản liên tục là ngôn bản diễn ra liền mạch, không bị chia cắt bởi thời gian và không gian trong quá trình giao tiếp. d) Đích của ngôn bản và hiệu quả của giao tiếp Đích của ngôn bản cũng chính là đích của giao tiếp. Tùy vào những cuộc giao tiếp cụ thể mà có sự khác nhau về đích. Có khi đích đó đơn thuần chỉ là sự làm quen, nhưng cũng có khi đích đó lại là sự bộc bạch, tâm sự mong một sự cảm thông ở người nghe hoặc đưa ra những kiến nghị, yêu cầu hay những thông báo hết sức quan trọng về một vấn đề nào đấy …” (Nguyễn Trí, 2009, p.
Nhân tố của hoạt động giao tiếp Chúng ta đều thấy rõ ràng trong hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc hình thành ngôn bản. Tất cả những nhân tố này đều có để lại dấu ấn của nó trong ngôn bản. Có thể lúc này nhân tố này để lại dấu ấn đậm nét hơn, nhưng tất cả đều có tác động tới việc tạo lập ngôn bản. Chúng ta gọi tất cả các nhân tố ngoài ngôn ngữ có ảnh hưởng xa gần và để lại những dấu ấn của mình trong ngôn bản là các nhân tố giao tiếp.
Trong quá trình giao tiếp, có nhiều nhân tố cùng tham gia, và ảnh hưởng đến các phương diện của hoạt động giao tiếp. Những nhân tố này góp phần thực hiện hoạt động, vừa ảnh hưởng chi phối đến hoạt động. Đó là các nhân tố: - Nhân vật giao tiếp: bao gồm người phát (người nói, viết) và người nhận (người nghe, đọc). Người phát chỉ có thể là một người, nhưng người nhận có thể là một, có thể là nhiều người.
Trong hoạt động giao tiếp, người phát và người nhận luôn có sự chuyển đổi vai cho nhau, nhất là trong hội thoại. Mỗi người lúc thì đóng vai người phát, lúc thì đòng vai người nhận. - Nội dung giao tiếp: là hiện thực được nói tới trong quá trình giao tiếp. Đó có thể là những sự kiện, sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan, hoặc cũng có thể là tâm tư, tình cảm của con người.
- Hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh): là không gian, thời gian, địa điểm diễn ra cuộc giao tiếp. Các nhân tố trong hoàn cảnh giao tiếp luôn luôn chi phối các phương diện của hoạt động giao tiếp: từ việc lựa chọn nội dung đến cách thức thể hiện và cả những nghi thức trong giao tiếp. - Mục đích giao tiếp: là cái đích, mục tiêu cần đạt được thông qua hoạt động giao tiếp. Mục đích giao tiếp chi phối các phương diện của hoạt động giao tiếp và để lại dấu ấn trong ngôn bản.
- Phương tiện và cách thức giao tiếp: phương tiện giao tiếp chính là ngôn ngữ. Với đại đa số người Việt, phương tiện giao tiếp là tiếng Việt. Cách thức giao tiếp là cách sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Trong những Luan van 13 hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, ta có những cách thức giao tiếp khác nhau.
Để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình giao tiếp thì hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cần phải có đầy đủ năm nhân tố trên. Phân tích các nhân tố giao tiếp khi xem xét bài văn của HS là phương tiện giao tiếp như sau: - Nhân vật giao tiếp: HS, GV, bố, mẹ, ông, bà.