Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học là trọng tâm của Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT. Trong chương trình mới, Hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trở thành hoạt động giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, nhằm tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, chuyển hóa kinh nghiệm sống thành tri thức và kỹ năng mới. Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học đóng vai trò nền tảng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, trong đó ngữ liệu văn bản nghệ thuật (VBNT) chiếm thời lượng giảng dạy lớn nhất (gần 60% tổng số văn bản đọc hiểu). VBNT không chỉ giúp học sinh hình thành kỹ năng đọc hiểu mà còn bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ và nhân cách.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học Tiếng Việt lớp 3 hiện nay vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Giáo viên phần lớn duy trì phương pháp truyền thống, nặng về thuyết giảng, giải thích từ ngữ và nội dung một chiều; chưa khai thác triệt để giá trị giáo dục của văn bản nghệ thuật hoặc chưa tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm, liên hệ với đời sống thực tế. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh tiếp thu thụ động, thiếu cơ hội vận dụng vốn sống, hạn chế kỹ năng diễn đạt từ ngữ và câu văn trong giao tiếp.

Nhằm khắc phục những tồn tại trên, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Tiểu học của tác giả Đào Thị Thu Hà (Trường Đại học Hải Phòng) đi sâu nghiên cứu việc vận dụng HĐTN vào dạy học VBNT lớp 3 theo bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống".

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu lý luận và thực tiễn, đề xuất các HĐTN cụ thể trong dạy học VBNT cho học sinh lớp 3, đồng thời xây dựng kế hoạch và quy trình tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục mới.

Khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu những vấn đề lý luận về HĐTN nói chung và HĐTN trong dạy học đọc VBNT cho học sinh tiểu học.
  2. Khảo sát và đánh giá thực tiễn việc tổ chức HĐTN trong dạy học VBNT môn Tiếng Việt lớp 3 tại các trường tiểu học hiện nay.
  3. Đề xuất các biện pháp thiết kế, xây dựng kế hoạch và quy trình tổ chức các HĐTN trong dạy học đọc VBNT cho học sinh lớp 3.
  4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các HĐTN trong dạy học VBNT cho học sinh lớp 3.
  • Phạm vi nội dung và ngữ liệu: Hệ thống 36 bài đọc VBNT trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (tập 1 và tập 2), bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống".
  • Phạm vi khảo sát thực trạng: 19 giáo viên và 630 học sinh lớp 3 tại 3 trường tiểu học thuộc huyện An Dương, thành phố Hải Phòng (Trường Tiểu học An Đồng, Trường Tiểu học An Dương và Trường Tiểu học Đồng Thái).
  • Phạm vi thực nghiệm sư phạm: Triển khai dạy học thực nghiệm tại Trường Tiểu học An Đồng và Trường Tiểu học An Dương trong năm học 2023 - 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên quan điểm giáo dục hiện đại và các văn bản chỉ đạo chuyên môn của ngành giáo dục:

  • Khung lý thuyết và quan niệm:
    • Khái niệm "hoạt động" dưới góc độ triết học (mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể), sinh học, tâm lý học và định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê.
    • Khái niệm "hoạt động trải nghiệm" của tác giả Lê Phương Nga và định nghĩa chính thức trong Chương trình GDPT 2018 (Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT).
    • Khái niệm "văn bản" và "văn bản nghệ thuật" theo nghiên cứu của Nguyễn Thiện Giáp và Lương Văn Kiệt (nhấn mạnh các đặc trưng: tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể hóa).
    • Tư tưởng giáo dục thực hành của Khổng Tử ("những gì chúng tôi làm, chúng tôi sẽ hiểu"), Aristotle, nghiên cứu của Phạm Minh Hạc về việc chuyển hóa kiến thức xã hội thành tri thức cá nhân qua hoạt động, cùng định hướng đổi mới phương pháp theo Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI.
    • Các công trình nghiên cứu đi trước về dạy học trải nghiệm môn Tiếng Việt: Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Thị Dung (2019), Trần Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Hạnh, Ngô Thị Thúy và quy trình 4 bước tổ chức HĐTN sáng tạo của Dương Giáng Thiên Hương.
    • Khung hướng dẫn chuyên môn: Công văn số 2345/BGDĐT-GDTH ngày 07/6/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường cấp tiểu học.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được áp dụng kết hợp:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học, sách giáo khoa, chương trình giáo dục phổ thông liên quan đến HĐTN và dạy học VBNT.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Ghi nhận thực tế các tiết dạy học Tiếng Việt và các hoạt động giáo dục trên lớp cũng như ngoài giờ.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến): Thu thập dữ liệu từ 19 giáo viên dạy lớp 3 và 630 học sinh lớp 3 tại 3 trường tiểu học huyện An Dương.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Trực tiếp trao đổi với giáo viên dạy Tiếng Việt và học sinh lớp 3 để làm rõ các khó khăn, nguyện vọng thực tế.
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn ý kiến đánh giá từ giảng viên hướng dẫn, giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non - Trường Đại học Hải Phòng và giáo viên dạy giỏi môn Tiếng Việt tại địa phương.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế bài dạy và tổ chức dạy thực nghiệm có đối chứng để đo lường định tính, định lượng sự thay đổi năng lực của học sinh.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công cụ toán học xử lý, định lượng tỷ lệ phần trăm từ số liệu khảo sát và bảng điểm kiểm tra thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm chương trình giáo dục môn Ngữ văn/Tiếng Việt cấp tiểu học, bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (Kết nối tri thức với cuộc sống), dữ liệu phiếu điều tra từ 19 giáo viên và 630 học sinh, cùng kết quả bài kiểm tra đánh giá trước và sau thực nghiệm sư phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về HĐTN, cấu trúc VBNT và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3: tri giác mang tính đại thể, dễ phân tán; xúc cảm mau thay đổi; tư duy trực quan cụ thể; vốn ngôn ngữ còn hạn chế trong diễn đạt cấu trúc câu phức tạp. Về nội dung chương trình, tác giả phân tích yêu cầu cần đạt về kỹ thuật đọc và đọc hiểu theo Chương trình GDPT 2018, đồng thời thống kê toàn bộ 36 bài đọc VBNT trong SGK Tiếng Việt 3 sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" (gồm các thể loại: thơ, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện ngắn, đoạn văn miêu tả, ca dao; độ dài truyện từ 200–250 chữ, bài miêu tả 180–200 chữ, thơ 80–100 chữ).

Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 19 giáo viên và 630 học sinh tại 3 trường tiểu học: An Đồng (6 GV, 204 HS), An Dương (7 GV, 210 HS) và Đồng Thái (6 GV, 216 HS). Kết quả khảo sát được thể hiện qua các bảng số liệu:

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về vai trò của HĐTN trong dạy học VBNT

Mức độ đánh giá Số lượng (n=19) Tỷ lệ (%)
Rất quan trọng 10 52,6%
Quan trọng 5 26,3%
Bình thường 4 21,1%
Không quan trọng 0 0,0%

Bảng 2: Mức độ tổ chức HĐTN trong dạy học VBNT của giáo viên

Mức độ tổ chức Số lượng (n=19) Tỷ lệ (%)
Thường xuyên 4 21,1%
Thỉnh thoảng 9 47,4%
Hiếm khi 5 26,3%
Chưa bao giờ 1 5,3%

Bảng 3: Khó khăn của giáo viên khi thiết kế và tổ chức HĐTN

Các khó khăn chính Số lượng lựa chọn Tỷ lệ (%)
Thiếu cơ sở vật chất 16/19 84,2%
Mất nhiều chi phí và thời gian chuẩn bị 15/19 78,9%
Khó khăn trong quản lý học sinh 5/19 26,3%
Trình độ chuyên môn của giáo viên còn hạn chế 5/19 26,3%
Cán bộ quản lý, nhà trường ít quan tâm 3/19 15,8%
Khó khăn khác 2/19 10,5%

Về phía học sinh, khảo sát 630 em cho thấy: 85,7% học sinh thích và rất thích tham gia HĐTN (47,6% rất thích; 38,1% thích; 13,5% bình thường; 0,8% không thích); 87,3% học sinh bày tỏ mong muốn được tham gia thường xuyên (49,2% rất muốn; 38,1% muốn; 12,7% bình thường). Tuy nhiên, trên thực tế có đến 42,3% học sinh chỉ thỉnh thoảng được tham gia, 11,6% hiếm khi và 5,7% chưa bao giờ được trải nghiệm trong giờ Tiếng Việt.

Chương 2: Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 3

Chương 2 xác lập 3 yêu cầu mang tính nguyên tắc khi tổ chức HĐTN: (1) Đảm bảo yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực theo Chương trình GDPT 2018; (2) Đảm bảo bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng và đặc trưng thể loại đọc hiểu của văn bản; (3) Đảm bảo khai thác tối đa vốn sống sẵn có và kích thích hứng thú của học sinh.

Tác giả hướng dẫn cụ thể công tác xây dựng kế hoạch:

  • Xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn: Bám sát khung kế hoạch theo Công văn số 2345/BGDĐT-GDTH của Bộ GD&ĐT, bảo đảm tính liên môn và phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của từng trường.
  • Xây dựng kế hoạch cá nhân của giáo viên qua 3 bước: Xác định nhiệm vụ căn cứ vào kế hoạch tổ; sắp xếp thứ tự ưu tiên các mảng công việc; thiết kế kế hoạch dạy học chi tiết 4 bước gắn liền mục tiêu, phương tiện và biện pháp kiểm tra đánh giá.

Quy trình tổ chức HĐTN trong dạy học VBNT được tác giả cấu trúc thành 3 giai đoạn:

  1. Hoạt động trải nghiệm trước giờ học: Tạo tâm thế, kích hoạt vốn hiểu biết nền và khơi gợi cảm xúc thông qua việc quan sát tranh ảnh, nghe nhạc, giải câu đố hoặc giao nhiệm vụ tự chuẩn bị tư liệu ở nhà. Tác giả minh họa bằng kế hoạch tổ chức bài đọc "Về thăm quê" (Tuần 1, Bài 2, Tiếng Việt 3 tập một) với trò chơi "Những ngày hè năng lượng" (kể việc làm cùng người thân), thi đọc nối tiếp diễn cảm và hoàn thành phiếu học tập tìm hiểu tình cảm bà - cháu.
  2. Hoạt động trải nghiệm trong giờ học: Đề xuất 4 cách thức thực hiện chính gồm trải nghiệm theo nhóm, trò chơi học tập, tiếp cận qua video/hình ảnh trực quan và đóng vai (sân khấu hóa). Trong đó, tác giả hướng dẫn chi tiết phương pháp tổ chức làm việc nhóm: phân định rõ vai trò nhóm trưởng, thư ký, báo cáo viên và thành viên; quy trình giáo viên quan sát, can thiệp và tổ chức báo cáo phản biện. Minh họa chi tiết qua bài thơ "Đi học vui sao" kèm bảng tiêu chí đánh giá năng lực làm việc nhóm. Đồng thời, tác giả quy chuẩn hóa các bước tổ chức trò chơi học tập (nêu mục đích, chuẩn bị học liệu, phổ biến luật chơi, thực hiện và đánh giá tổng kết).
  3. Hoạt động trải nghiệm sau giờ học: Củng cố, mở rộng kiến thức bài đọc qua việc thực hành vận dụng, sáng tạo tranh vẽ, viết đoạn văn ngắn chia sẻ cảm nghĩ hoặc liên hệ xử lý tình huống thực tế đời sống.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày mục đích, đối tượng, nội dung và kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của quy trình tổ chức HĐTN đã đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành song song giữa các lớp thực nghiệm (áp dụng quy trình tổ chức HĐTN) và các lớp đối chứng (học theo phương pháp dạy học thông thường) tại hai trường: Tiểu học An Đồng và Tiểu học An Dương.

Nội dung đánh giá gồm việc so sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm và sau thực nghiệm của cả hai nhóm. Các tiêu chí đánh giá tập trung vào mức độ nắm bắt nội dung văn bản, khả năng cảm thụ nghệ thuật ngôn từ, sự tự tin trong giao tiếp và năng lực hợp tác nhóm. Dữ liệu thực nghiệm được xử lý qua các bảng phân tích định lượng (điểm kiểm tra) và định tính (thái độ, sự tích cực), chứng minh việc đưa HĐTN vào dạy học VBNT mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kết quả học tập và phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh lớp 3. Cuối chương, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với nhà trường và giáo viên nhằm đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất và thời gian khi triển khai.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu thực chứng:

  • Thống kê toàn diện 36 VBNT trong SGK Tiếng Việt 3 (Kết nối tri thức với cuộc sống), phân loại theo thể loại văn học, số chữ và phân bố tuần học cho cả hai học kỳ.
  • Phản ánh chính xác thực trạng dạy học qua khảo sát 19 giáo viên và 630 học sinh: 78,9% giáo viên thừa nhận tầm quan trọng của HĐTN nhưng chỉ 21,1% tổ chức thường xuyên; 84,2% gặp khó khăn vì thiếu cơ sở vật chất và 78,9% e ngại chi phí, thời gian chuẩn bị; 85,7% học sinh thích thú nhưng có tới 17,3% học sinh hiếm khi hoặc chưa bao giờ được tham gia HĐTN trong giờ Tiếng Việt.
  • Đề xuất giải pháp và quy trình hoàn chỉnh: Xây dựng quy trình 3 giai đoạn (trước, trong và sau giờ học) và 4 cách thức trải nghiệm cụ thể trong tiết học đọc VBNT, đi kèm giáo án minh họa chi tiết cho các bài đọc ("Về thăm quê", "Đi học vui sao") và bảng tiêu chí đánh giá học sinh làm việc nhóm.
  • Đóng góp khoa học tự nêu: Khóa luận là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể việc thiết kế, tổ chức HĐTN trong dạy học VBNT dành riêng cho học sinh lớp 3 theo bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống", bổ sung tài liệu thực hành sư phạm trực tiếp cho giáo viên tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của đề tài mới chỉ được giới hạn thực hiện tại 3 trường tiểu học trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng (An Đồng, An Dương, Đồng Thái) với cỡ mẫu 19 giáo viên và 630 học sinh. Phạm vi này chưa bao quát được các cơ sở giáo dục ở các khu vực địa lý khác nhau như nội thành đô thị lớn hay các vùng nông thôn, miền núi khó khăn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc nghiên cứu, áp dụng quy trình HĐTN sang các loại văn bản khác trong chương trình Tiếng Việt tiểu học (như văn bản thông tin), thử nghiệm trên các khối lớp khác (lớp 4, lớp 5) hoặc đối sánh mở rộng trên các bộ sách giáo khoa khác thuộc chương trình mới (Cánh Diều, Chân trời sáng tạo).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích dành cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non và Tiểu học đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp, kiến tập, thực tập sư phạm.
  • Giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 3 theo bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" cần tìm kiếm phương pháp đổi mới giờ dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường tiểu học trong công tác định hướng sinh hoạt chuyên môn, xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường theo Công văn 2345/BGDĐT-GDTH.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là bảng thống kê phân loại 36 VBNT lớp 3; quy trình 3 bước xây dựng kế hoạch cá nhân tích hợp HĐTN; thiết kế kế hoạch dạy học thực nghiệm chi tiết cho bài "Về thăm quê", "Đi học vui sao" và bảng tiêu chí định lượng đánh giá kỹ năng làm việc nhóm của học sinh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 3 sách "Kết nối tri thức với cuộc sống", có bao nhiêu văn bản nghệ thuật và dung lượng quy định thế nào?
    Theo thống kê trong khóa luận, chương trình cả năm học có 36 văn bản nghệ thuật (học kỳ I có 17 bài, học kỳ II có 19 bài), chiếm gần 60% ngữ liệu đọc hiểu. Dung lượng quy chuẩn: truyện khoảng 200–250 chữ, bài miêu tả khoảng 180–200 chữ, thơ khoảng 80–100 chữ.

  2. Khảo sát thực trạng tại huyện An Dương cho thấy hai trở ngại lớn nhất của giáo viên khi tổ chức hoạt động trải nghiệm là gì?
    Theo Bảng số liệu khảo sát mục 1.4.2 của khóa luận, hai trở ngại lớn nhất là thiếu cơ sở vật chất (84,2% giáo viên lựa chọn) và mất nhiều chi phí cùng thời gian chuẩn bị (78,9% giáo viên lựa chọn).

  3. Những hình thức tổ chức HĐTN nào được 100% giáo viên tham gia khảo sát đánh giá là có khả năng thực hiện được?
    Dựa trên kết quả Bảng nhận thức của giáo viên (câu hỏi 3 phụ lục 01), hai hình thức được 100% giáo viên (19/19 người) khẳng định có khả năng thực hiện được là "Thảo luận nhóm" và "Tổ chức trò chơi".

  4. Quy trình tổ chức HĐTN trong giờ học đọc văn bản nghệ thuật lớp 3 gồm những giai đoạn và cách thức nào?
    Quy trình gồm 3 giai đoạn: trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học. Riêng trong giờ học, tác giả đề xuất 4 cách thức trải nghiệm cụ thể: trải nghiệm theo nhóm, trò chơi học tập, trải nghiệm qua video/hình ảnh và trải nghiệm qua đóng vai (sân khấu hóa).

  5. Việc xây dựng kế hoạch dạy học trải nghiệm của tổ chuyên môn và cá nhân giáo viên được căn cứ trên văn bản pháp lý nào?
    Việc xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn và kế hoạch cá nhân của giáo viên được căn cứ trực tiếp trên Công văn số 2345/BGDĐT-GDTH ban hành ngày 07/6/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường cấp tiểu học.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Thu Hà đã giải quyết toàn diện bài toán tích hợp hoạt động trải nghiệm vào dạy học văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 3 bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống". Bằng việc khảo sát thực chứng trên 19 giáo viên và 630 học sinh tại 3 trường tiểu học thuộc huyện An Dương (Hải Phòng), công trình làm rõ sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu. Các biện pháp đề xuất gắn với quy trình 3 giai đoạn và 4 cách thức trải nghiệm trong giờ học đã được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm, chứng minh tính khả thi và đóng góp thiết thực cho quá trình đổi mới giáo dục tiểu học theo Chương trình GDPT 2018.