CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm về hoạt động trải nghiệm Trong cuộc sống, thuật ngữ hoạt động được sử dụng một cách khá phổ biến. Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét: Dưới góc độ triết học, "hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan.
Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể” [28, tr. Dưới góc độ sinh học, "hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con người khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người" [28, tr. Dưới góc độ tâm lí học: "Hoạt động là được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới, biểu thị mối quan hệ qua lại tích cực giữa con người và hoàn cảnh, qua đó làm biến đổi hoàn cảnh và biến đổi chính bản thân mình [28, tr. Theo Hoàng Phê, "hoạt động: tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội" [26, tr.
Tóm lại, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể) [28, tr. HĐTN: Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên nhắc đến thuật ngữ trải nghiệm, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về trải nghiệm. Tác giả Lê Phương Nga đưa ra khái niệm này như sau: “HĐTN là những hoạt động được thực hiện ngoài giờ học, tuỳ thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của mỗi HS trong khuôn khổ khả năng và điều kiện tổ chức có được của nhà trường” [24, tr. Trong chương trình Giáo dục phổ thông - 2018: HĐTN Ban hành kèm theo thông tư 32/2018/TT-BGD ĐT thì: “HĐTN là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, 8 môi trường và nghề nghiệp tương lai” [5, tr.
Tham gia các HĐTN HS có cơ hội gần gũi, chia sẻ với nhau những kiến thức mà mình đã học tập. Trải nghiệm cũng là một loại hình hoạt động giáo dục đào tạo nằm trong phạm vi quy phạm giáo dục của nhà trường. Đó là những hoạt động ngoài giờ lên lớp, có hay không có sự chỉ đạo hướng dẫn của GV, đối tượng tham gia chính là HS, có nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường dạy và học mang tính giáo dục cao. Văn bản và văn bản nghệ thuật Văn bản, theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, "văn bản là chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn" [26, tr.
Theo Nguyễn Thiện Giáp "văn bản là một đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh, có cấu trúc, có nội dung và thể loại, được tạo ra nhằm mục đích giao tiếp" [11]. Như vậy, khái niệm văn bản được hiểu theo nhiều cách khác nhau, văn bản "là một đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh, có cấu trúc, có nội dung và thể loại, được tạo ra nhằm mục đích giao tiếp". VBNT, theo Lương Văn Kiệt "VBNT được hiểu như là một cấu tạo giao tiếp hoàn chỉnh, khác biệt bởi thể thống nhất cấu trúc – ngữ nghĩa, kết cấu – tu từ học và chức năng. Mỗi một VBNT là một hệ thống phức tạp gao gồm hàng loạt các yếu tố thuộc những bình diện khác nhau như: đề tài, chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, hình tượng, cốt truyện" [22].
"VBNT là dạng văn bản mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc trong sách giáo khoa ngữ văn. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm các dạng như thơ, văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, văn tự sự, tùy bút, phê bình văn học, ký…" Đặc trưng của loại VBNT: "Tính hình tượng: Xây dựng hình tượng chủ yếu bằng các biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, hoán dụ, điệp… Tính truyền cảm: ngôn ngữ của người nói, người viết có khả năng gây cảm xúc, ấn tượng mạnh với người nghe, người đọc. Tính cá thể: Là dấu ấn riêng của mỗi người, lặp đi lặp lại nhiều lần qua trang viết, tạo thành phong cách nghệ thuật riêng. Tính cá thể hóa của ngôn ngữ còn thể hiện trong lời nói của nhân vật trong tác phẩm" [22].
Đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật: có giá trị nội dung và nghệ thuật cao. Các tác phẩm dạng này thường được sử dụng để giảng dạy, phân tích và là tài sản phi vật thể vô 9 giá của quốc gia. Cách kết cấu và trình bày của VBNT: phụ thuộc vào từng thể loại hay tác giả. Nhưng kết cấu phải rõ ràng, mạch lạc và theo quy định chung của thể loại đó.
Nội dung của chương trình hoạt động trải nghiệm Theo chương trình tổng thể GD HĐTN năm 2018 của Bộ GD&ĐT, nội dung chương trình HĐTN gồm hai giai đoạn: “Giai đoạn GD cơ bản: Bằng HĐTN của bản thân trong các hoạt động khác nhau, mỗi HS vừa tham gia vừa thiết kế và tổ chức các hoạt động cho chính mình, qua đó tự khám phá, điều chỉnh bản thân, điều chỉnh cách tổ chức hoạt động để sống và làm việc hiệu quả. Ở giai đoạn này, mỗi HS bước đầu xác định được sở trường và chuẩn bị một số năng lực cơ bản của người lao động và người công dân có trách nhiệm. Giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp: Chương trình HĐTN tiếp tục phát triển những phẩm chất và năng lực đã hình thành từ giai đoạn GD cơ bản thông qua hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng và hoạt động GD hướng nghiệp nhưng tập trung cao hơn vào việc phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp” [5]. Vai trò, đặc điểm của hoạt động trải nghiệm HĐTN ở các trường TH giúp phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân.
Vai trò, nhiệm cụ chính của HĐTN chính là “củng cố, vận dụng tri thức đã học ở các môn học, phát triển thành những tình cảm, kĩ năng đã có” [6, tr. Trong các HĐTN các em được phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần giúp các em chủ động, sáng tạo, phát huy được năng lực của mỗi HS. Khi tham gia vào các tình huống thực tế, HSSV có cơ hội để thực hành, kiểm chứng những gì đã được dạy. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc ghi nhớ các khái niệm và hiểu cách ứng dụng vào thực tiễn.
HĐTN còn tạo ra một môi trường học tập khác hoàn toàn với môi trường học mà các em đang được học. Nó không còn đơn thuần là GV giảng giải, thuyết trình mà hoạt động chủ đạo tập trung vào người học. HĐTN “Giúp người học trưởng thành từ những sai lầm”. HĐTN giúp tạo hứng thú học tập cho HS.
HS sẽ tiếp nhận vai trò là trung tâm, điều chỉnh quá trình tiếp thu kiến thức phù hợp với năng lực nhờ học cùng trải nghiệm. Việc chủ động tham gia vào quá trình học, phối hợp với bạn bè, trải nghiệm kiến thức trong nhiều môi trường khác nhau sẽ tạo hứng thú cho người học. Mặt khác, vì được xử lí vấn đề theo cách mình nghĩ nên HS sẽ có động lực cao hơn so với việc bị ép giải quyết 10 vấn đề. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học Đặc điểm về tâm lí Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc phải sai lầm và có khi còn lẫn lộn.
HS các lớp đầu tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác. Do vậy trong quá trình dạy học cần chú ý phối hợp giữa giảng dạy và liên hệ thực tiễn nhằm giúp các em có cái nhìn chính xác, khách quan nhất về đối tượng. Các em HSTH thường có những xúc cảm nhất thời, khó kìm nén, nhanh hứng thú nhưng cũng nhanh chán. Do vậy trong trình dạy học, người GV cần linh hoạt hình thức tổ chức dạy học để tăng hứng thú học tập cho HS.
Ngoài ra việc tích hợp nội dung dạy học cũng giúp các em thích thú hơn trong tiết học, tránh lặp đi lặp lại nội dung gây nhàm chán và tăng khả năng tích lũy tri thức cho HS. Tư duy của trẻ là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong quá trình học tập cần sử dụng các phương pháp nhằm tạo cho trẻ có sự phát triển về tư duy, từng bước chuyển từ cấp độ nhận thức các sự vật và hiện tượng chỉ vẻ bề ngoài, các biểu hiện dễ nhận biết bằng cảm tính đến nhận thức được những dấu hiệu, bản chất của chúng. Điều này có tác dụng hình thành ở HS khả năng thực hiện thao tác khái quát hóa đầu tiên, thao tác so sánh đầu tiên, tiến đến khả năng suy luận sơ đẳng.
Đặc điểm về thể chất Sự phát triển thể chất ở HSTH diễn ra những biến đổi cơ bản về hệ cơ xương, về hệ thần kinh làm cơ sở cho những biến đổi tâm lí, nhân cách ở lứa tuổi này. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường học đường và ngoài xã hội đồng thời HSTH lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc đạo đức của hành vi. Những biến đổi cơ bản quan trọng trong sự phát triển tâm lí của HSTH cơ sở cho các em những bước ngoặt quan trọng trong quá trình tích lũy tri thức trong nhà trường và ngoài xã hội.