mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. 8 Chƣơng 2: Một số biện pháp phát triển tƣ duy phản biện cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm trong dạy học Hình học không gian lớp 11. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Một số vấn đề liên quan đến tƣ duy 1. Khái niệm tư duy Qua tìm hiểu tài liệu, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tƣ duy, tôi xin dẫn ra một vài quan điểm: Theo từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1977: Tƣ duy là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính qui luật của sự vật bằng những hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [17]. Theo Từ điển Giáo dục học: “Tƣ duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, cho phép phản ánh đƣợc bản chất và các mối quan hệ của sự vật khách quan mà con ngƣời không nhận biết đƣợc bằng tri giác và cảm giác trực tiếp hoặc bằng biểu tƣợng” [9]. Theo Trần Thúc Trình: “Tƣ duy là quá trình nhận thức, phản ánh những bản chất, những mối quan hệ có tính chất qui luật của sự vật hiện tƣợng mà trƣớc đó chủ thể chƣa biết” [18].
Mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về tƣ duy nhƣng có thể thấy điểm chung của các phát biểu trên là: Thứ nhất, tƣ duy là quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con ngƣời nhằm phản ánh hiện thực khách quan vào trí óc con ngƣời dƣới dạng các khái niệm, phán đoán, lý luận. 9 Thứ hai, tƣ duy gồm các quá trình nhận thức tiêu biểu nhƣ: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề. Thứ ba, kết quả của tƣ duy là một ý ngh a về sự vật, hiện tƣợng nào đó, và ở mức độ cao hơn, là một tƣ tƣởng nào đó hƣớng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đặc điểm của tư duy Tƣ duy thuộc mức độ nhận thức lý tính, nó có những đặc điểm cơ bản sau: - Tính “có vấn đề” của tƣ duy: Tƣ duy chỉ xuất hiện khi con ngƣời gặp vào những tình huống, hoàn cảnh “có vấn đề” mà chỉ dùng các hiểu biết cũ không đủ sức để giải quyết vấn đề.
Để giải quyết đƣợc vấn đề thì con ngƣời phải đi tìm các phƣơng pháp, cách thức mới để giải quyết vấn đề, khi đó con ngƣời đã phải tƣ duy. - Tính gián tiếp của tƣ duy: Con ngƣời sử dụng ngôn ngữ để tƣ duy, nhờ ngôn ngữ mà con ngƣời sử dụng các kết quả nhận thức (khái niệm, quy luật, quy tắc công thức…) vào quá trình tƣ duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát,…) để nhận thức đƣợc cái bên trong, bản chất của sự vật hiện tƣợng. Nhờ đó mở rộng không giới hạn những khả năng nhận thức của con ngƣời. - Tính trừu tƣợng và khái quát của tƣ duy: Tƣ duy không phản ánh sự vật hiện tƣợng một cách cụ thể, riêng lẻ mà có khả năng phân tích tìm ra bản chất chung của nhiều sự vật, hiện tƣợng.
Từ đó khái quát những sự vật, hiện tƣợng riêng lẻ có những thuộc tính chung thành một nhóm, một phạm trù. - Tƣ duy và ngôn ngữ: Tƣ duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì không thể diễn tả đƣợc quá trình tƣ duy nên ngôn ngữ là phƣơng tiện để diễn đạt kết quả tƣ duy. Ngƣợc lại nếu không có tƣ duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô ngh a.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện để biểu đạt tƣ duy nên việc phát triển tƣ duy phải gắn liền với trau dồi ngôn ngữ. Các giai đoạn của tư duy Tƣ duy đƣợc xét nhƣ một quá trình, ngh a là tƣ duy có nảy sinh, diễn biến và kết thúc. Cụ thể, gồm năm bƣớc cơ bản sau: - Xác định vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tƣ duy. - Tổng hợp kiến thức có liên quan đến vấn đề đã đƣợc xác định.
- Sàng lọc các liên tƣởng xuất hiện và hình thành giả thuyết. - Kiểm tra tính đúng của giả thuyết. - Giải quyết nhiệm vụ tƣ duy. Quá trình tƣ duy bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau đƣợc minh họa bởi sơ đồ (do K.
Plantônôv đƣa ra) (trích dẫn theo [10]) : Sơ đồ quá trình tư duy của K. Các thao tác cơ bản của tư duy Theo tác giả Nguyễn Bá Kim trong cuốn Phƣơng pháp dạy học môn Toán, NXB Giáo dục (2008) [13] thì các thao tác tƣ duy đƣợc trình bày nhƣ sau: - Phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình tƣ duy để phân chia một đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận hay những thuộc tính nhỏ, có mối quan hệ với nhau, từ đó có thể nhận thức đối tƣợng rõ ràng, sâu sắc hơn. Tổng hợp là quá trình tƣ duy để hợp nhất những bộ phận, thuộc tính đã đƣợc phân tích. Nhƣ vậy, phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành sự thống nhất không tách rời đƣợc.
11 - So sánh: So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tƣợng, sự vật, hiện tƣợng, từ đó rút ra đƣợc những điểm chung và điểm riêng biệt của từng đối tƣợng. - Khái quát hóa: Khái quát hóa là quá trình thống nhất, bao quát nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣng có chung những mối liên hệ, những thuộc tính hay những mối quan hệ thành một nhóm, một loại. - Trừu tƣợng hóa: Trừu tƣợng hóa là quá trình phát triển cao của tƣ duy, từ những thuộc tính cần thiết nhất của đối tƣợng mà con ngƣời có thể đƣa ra các dự đoán sự phát triển của đối tƣợng trong các giai đoạn tiếp theo. Trong quá trình học sinh học tập, tiếp thu kiến thức thì các thao tác tƣ duy đƣợc tiến hành đan xen nhau.
Thông qua các thao tác tƣ duy, học sinh có thể đạt đƣợc mục tiêu của việc học, giải quyết đƣợc vấn đề. Với mỗi một nội dung học tập cụ thể sẽ có một thao tác tƣ duy đƣợc xem là chủ đạo hay là phƣơng hƣớng. Tư duy Toán học Tƣ duy Toán học đƣợc hiểu nhƣ sau: Thứ nhất, là hình thức biểu lộ tƣ duy biện chứng của con ngƣời trong quá trình nhận thức khoa học hay trong quá trình áp dụng các kiến thức toán học vào các khoa học khác nhƣ kỹ thuật, công nghệ thông tin, kinh tế quốc dân,… hay áp dụng để giải quyết các bài toán thực tiễn. Thứ hai, tƣ duy Toán học có các tính chất đặc thù đƣợc quy định bởi bản chất của khoa học toán học, bởi sự áp dụng các phƣơng pháp toán học để nhận thức các hiện tƣợng của thế giới hiện thực, cũng nhƣ bởi chính các phƣơng thức chung của tƣ duy mà nó sử dụng.
Nội dung của tƣ duy toán học là những tƣ tƣởng phản ánh hình dạng không gian và những quan hệ số lƣợng của thế giới hiên thực. Hình thức của tƣ duy toán học là khái niệm, phán đoán, suy luận, chứng minh. Phân loại tư duy Toán học Để phân loại tƣ duy toán học, có thể đặt tƣ duy trong sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tƣợng, xem xét và cải tiến nó để nó phát huy vai trò hơn nữa thì ngƣời ta chia thành: Tƣ duy sáng tạo và tƣ duy phản biện. - Tƣ duy sáng tạo: Tƣ duy sáng tạo là một quá trình tƣ duy nhằm tạo ra những ý tƣởng mới mẻ, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao.
- Tƣ duy phản biện: TDPB là quá trình sử dụng các thao tác trí tuệ nhƣ: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừ tƣợng hóa, khái quát hóa… để đánh giá sự việc, hiện tƣợng dựa trên các kinh nghiệm, chứng cƣ, thông tin và lí lẽ nhằm mục đích xác định tính đúng – sai và tự điều chỉnh. Tƣ duy phản biện 1. Quan niệm về tư duy phản biện Qua việc nghiên cứu các tài liệu về tƣ duy phản biện, tối đã dựa trên những ý kiến, quan điểm có trƣớc của một số tác giả để có cái nhìn tổng quan về TDPB. Sau đó, tôi sẽ đƣa ra ý kiến của mình về TDPB.
Dƣới đây là một số giải thích cũng nhƣ một số quan điểm về TDPB của các tác giả trong và ngoài nƣớc: Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (1997), phê phán là “v ch r , ch r cái s i trái t thái h ng ng t nh ho c n án” [15, tr.1205]; phản biện là “ ánh giá chất ượng m t c ng tr nh ho học hi c ng tr nh ó ược ư r bảo vệ ấy học vị trước h i ng chấm thi; ho c ánh giá chất ượng m t c ng tr nh ho học hi c ng tr nh ó ược ư r bảo vệ trước h i ng thẩm ịnh” [15, tr.1188] TDPB à tư duy có suy xét, cân nhắc quyết ịnh hợp ý hi hi u ho c thực hiện m t vấn ề (J. 13 Theo Halpern (1996): TDPB à o i tư duy có mục ích, ược tr nh bày m t cách gic và hướng tới thực hiện mục ti u. Tư duy ó b o g m giải quyết vấn ề, ư r những ết uận chính xác, có hệ thống, tính ến những hả năng có th xảy r (trích dẫn theo [10]). Mặc dù, có rất nhiều quan điểm khác nhau về TDPB nhƣng ta vẫn nhận ra đƣợc những nét chung nhất về TDPB.
Trong luận văn này, tôi quan niệm rằng: TDPB là cách suy ngh có chủ định xây dựng và hoàn thiện với thái độ hoài nghi tích cực trong việc phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra, nhằm đi đến một phán đoán hay kết luận vấn đề bằng những lập luận có căn cứ. Sau khi nghiên cứu k các quan điểm và hiểu rõ về TDPB, trong đề tài này tôi sẽ nghiên cứu và đề xuất các biện phát phát triển TBPB ở học sinh: Là quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện khả năng phản biện của học sinh. Các mức độ của tư duy phản biện Theo Rasiman [20], tác giả đã nghiên cứu khả năng TDPB dựa vào việc giải quyết vấn đề toán học trong giáo dục Toán.