CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 1.1 Tình huống và tình huống dạy học 1.1 Tình huống Theo từ điển Tiếng Việt: “Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một thời điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết”. Tình huống cũng có thể được hiểu là sự mô tả hay trình bày một trường hợp trong thực tế nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết, qua đó đòi hỏi người đọc (người nghe) phải giải quyết vấn đề đó. Ở góc độ tâm lý học, tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó.
Trong quan hệ không gian, tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể. Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể. Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động [7].2 Tình huống dạy học Những tình huống trong giảng dạy là những tình huống mang tính điển hình, miêu tả những sự kiện, hoàn cảnh có thật hay hư cấu nhằm giúp người học hiểu và vận dụng tri thức. Tình huống được sử dụng nhằm kích thích người học phân tích, bình luận, đánh giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó từng bước chiếm lĩnh tri thức hay vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợp thực tế [7].
Tiêu chuẩn của một tình huống tốt là [7]: - Về mặt nội dung: + Mang tính giáo dục; + Chứa đựng mâu thuẫn và mang tính khiêu khích; + Tạo sự thích thú cho người học; + Nêu ra được những vấn đề quan trọng và phù hợp với người học;… - Về mặt hình thức: 8 + Có cách thể hiện sinh động; + Sử dụng thuật ngữ ngắn ngọn, súc tích và ẩn danh; + Được kết cấu rõ ràng, rành mạch và dễ hiểu; + Có trọng tâm và tương đối hoàn chỉnh để không cần phải tìm hiểu thêm quá nhiều thông tin;… 1.3 Bài tập [2] Bài tập là nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập bao gồm các dữ kiện và yêu cầu cần tìm. Bài tập nhận thức là bài tập được giáo viên đưa đến cho học sinh theo mục đích dạy học giúp học sinh định hướng được việc học và qua bài tập học sinh hình thành được kiến thức mới. Bài tập chỉ thành bài tập nhận thức khi mâu thuẫn khách quan trong bài tập được học sinh ý thức như một vấn đề, từ đó học sinh dựa vào kiến thức đã có để giải quyết mâu thuẫn, lĩnh hội kiến thức từ bài tập.4 Bài tập tình huống trong dạy học Bài tập tình huống dạy học là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình dạy học được cấu trúc dưới dạng bài tập. Khi học sinh giải quyết được những bài tập ấy vừa có tác dụng củng cố kiến thức vừa rèn luyện được những kỹ năng cần thiết [2].
Câu hỏi, bài tập, bài toán nào gây ra được mâu thuẫn chủ quan giữa cái đã biết và chưa biết thì đưa người học đến trạng thái có vấn đề, từ đó nảy sinh các câu hỏi: là gì (cái gì?), có tính chất gì?, như thế nào?, tại sao? (vì sao?), từ đó nảy sinh quá trình vận động từ chưa biết đến biết chưa đầy đủ và biết đầy đủ, biết thấu cảm, và có khả năng suy luận sáng tạo [10]. Trong dạy học Sinh học nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích – tổng hợp cho học sinh, bài tập tình huống không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mới, củng cố, khắc sâu kiến thức mà bài tập tình huống còn là một phương tiện giúp rèn luyện kỹ năng cho học sinh.2 Phương pháp dạy học bằng tình huống 1.1 Khái niệm phương pháp dạy học bằng tình huống [2] 9 Dạy học bằng tình huống là một phương pháp mà giáo viên tổ chức cho học sinh xem xét, phân tích, nghiên cứu, thảo luận để tìm ra các phương án giải quyết cho các tình huống, qua đó mà đạt được các mục tiêu bài học đặt ra.2 Đặc điểm của dạy học bằng tình huống [2] - Dựa vào các tình huống để thực hiện chương trình học (học sinh nắm các tri thức, kỹ năng), những tình huống không nhằm kiểm tra kỹ năng mà giúp phát triển chính bản thân kỹ năng. - Những tình huống có cấu trúc thực sự phức tạp, nó không phải chỉ có một giải pháp cho tình huống (tình huống chứa các biến sư phạm). - Bản thân tình huống mang tính chất gợi vấn đề, không phải học sinh làm theo ý thích của thầy giáo; học sinh là người giải quyết vấn đề theo phương thức thích nghi, điều tiết với môi trường; có hay không sự hỗ trợ của thầy giáo tùy thuộc vào tình huống.
- Học sinh chỉ được hướng dẫn cách tiếp cận với tình huống chứ không có công thức nào giúp học sinh tiếp cận với tình huống. - Việc đánh giá dựa trên hành động và thực tiễn.3 Ưu – khuyết điểm của dạy học bằng tình huống [2] - Ưu điểm: Đây là phương pháp có thể kích thích ở mức cao nhất sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập; phát triển các kỹ năng học tập, giải quyết vấn đề, kỹ năng đánh giá, dự đoán kết quả, kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, trình bày. của học sinh; tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, tính sáng tạo, tiếp cận tình huống dưới nhiều góc độ; cho phép phát hiện ra những giải pháp cho những tình huống phức tạp; chủ động điều chỉnh được các nhận thức, hành vi, kỹ năng của học sinh. Phương pháp này có thế mạnh trong đào tạo nhận thức bậc cao.
- Nhược điểm: Để thiết kế được tình huống phù hợp nội dung, mục tiêu đào tạo, trình độ của học sinh, kích thích được tính tích cực của học sinh đòi hỏi cần nhiều thời gian và công sức. Đồng thời giáo viên cần phải có kiến thức, kinh nghiệm sâu, rộng; có kỹ 10 năng kích thích, phối hợp tốt trong quá trình dẫn dắt, tổ chức thảo luận và giải đáp để giúp học sinh tiếp cận kiến thức, kỹ năng. Trên thực tế, không phải giáo viên nào cũng hội đủ các phẩm chất trên. Do sự eo hẹp về thời gian giảng dạy trên lớp cộng với sự thụ động của học sinh do quá quen với phương pháp thuyết trình là một trở ngại trong việc áp dụng phương pháp này.1 Khái niệm kỹ năng Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện hiệu quả một công việc đạt được mục đích bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức, hành động phù hợp với hoàn cảnh và phương tiện nhất định.
Khi nói tới kỹ năng là nói tới khả năng thực hiện một hành động đạt tới mức đúng đắn, thuần thục nhất định và rèn luyện kỹ năng chính là rèn luyện cho học sinh khả năng triển khai các thao tác một cách logic phù hợp với mục tiêu hoạt động học tập [12]. Nhà trường không chỉ là nơi cung cấp những tri thức, mà thông qua những tri thức trọng tâm, cơ bản rèn luyện cho học sinh cách học, cách tự chiếm lĩnh tri thức [12].2 Kỹ năng học tập Muốn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thống kỹ năng chuyên biệt gọi là kỹ năng học tập. Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra [2]. Kỹ năng học là khả năng sử dụng cách học tác động đến nội dung học hay là khả năng thực hiện một hoạt động học [14] Kỹ năng = Cách học Nội dung Cách học là cách tác động của chủ thể đến đối tượng học, hay là cách thực hiện hoạt động học.
Kỹ năng được rèn luyện và sử dụng trong suốt cả cuộc đời. Các kỹ năng cơ bản cần rèn luyện cho việc học suốt đời có thể bao gồm [14]: - Kỹ năng tái hiện (nhắc lại, lặp lại, nhớ…). 11 - Kỹ năng nhận thức (nhận biết, thông hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phê phán…). - Kỹ năng thực hành (hoạt động chân tay, luyện tập, ứng dụng, triển khai…).
- Kỹ năng xử sự (thái độ, thói quen ứng xử…). - Kỹ năng hợp tác (học nhóm, tranh luận…). - Kỹ năng giải quyết vấn đề (thu nhận, xử lý thông tin…). - Kỹ năng nghề nghiệp (lĩnh vực chuyên sâu, nghề…).
- Kỹ năng tự học (tự nghiên cứu, tự thể hiện mình, tự kiểm tra, tự điều chỉnh…). - Kỹ năng tự quản lý việc học (thời gian, môi trường học). Đối với học sinh THPT có thể nêu hệ thống kỹ năng học tập chung như sau:[2] - Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu thập, xử lý, sử dụng thông tin: kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng quan sát, kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ năng phân tích - tổng hợp, kỹ năng so sánh, kỹ năng khái quát hoá, kỹ năng suy luận, kỹ năng áp dụng kiến thức đã học. - Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình học tập liên quan đến việc quản lý phương tiện học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài và chất lượng; kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kỹ năng tự điều chỉnh.
- Các kỹ năng phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: kỹ năng học nhóm .3 Kỹ năng nhận thức: * Kỹ năng phân tích – tổng hợp Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần tương đối độc lập để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn. Đó là quá trình diễn ra trong đầu chủ thể nhằm tách đối tượng tư duy thành những thuộc tính, những bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn [13]. Ví dụ, khái niệm mô phân sinh và chức năng của nó đối với sự sinh trưởng của thực vật có thể phân tích trong tư duy thành các thành phần như sau: 12 Sơ đồ 1.1 Các loại mô phân sinh và chức năng Trong dạy học, vấn đề hình thành kỹ năng phân tích cho học sinh cần phải được coi trọng. Tuỳ đặc điểm từng môn học và nhiệm vụ học tập cụ thể, các giáo viên đã đề ra những yêu cầu phân tích khác nhau.