Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Chương 2: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Chương 3: Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa tại các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Chương 4: Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học lớp 4, lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Chương 5: Thực nghiệm sư phạm về tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. 8 luan an Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 1.1 Nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học ở trường Tiểu học Tổ chức HĐTN nói chung và tổ chức HĐTN trong dạy học ở trường Tiểu học nói riêng là một trong những nội dung cụ thể của lý thuyết HTTN. Đây là lí thuyết giáo dục hiện đại nổi bật trong thế kỉ 20, đóng vai trò trung tâm và trở thành xu hướng nền tảng của giáo dục trong thế kỉ 21. Lý thuyết này có lịch sử phát triển từ rất lâu.
Ban đầu chỉ là những ý tưởng về PPDH của Aristote (Lee Andresen & cộng sự, 2003, tr.225 - 239); Socrates; Khổng Tử (Charlene Tan & Benjamin Wong, 2008, tr. 3)… Sau đó, tư tưởng về HTTN đã được Rousseau; Johann Pestalozzi; Mary Parker Follett; Carl Roger; Maria Montessori; Kurt Matthias Robert Marin Hahn; Paulo Freire, John Dewey, David A.Kolb… kế thừa và làm rõ khi chỉ ra vấn đề cơ bản của HTTN chính là sự kết hợp giữa thực tiễn và tư duy, kiến thức có được không phải bằng cách lắng nghe, áp đặt mà bằng việc huy động kinh nghiệm. Các tác giả đã đề cao kinh nghiệm chủ quan và cảm xúc cá nhân trong học tập. Vì vậy, việc kích thích, huy động kinh nghiệm của người học thông qua tổ chức HĐTN là rất cần thiết trong dạy học (C.Itin, 1999; Lee Andresen & cộng sự, 2003; David Boud & cộng sự, 2005; M.Kolb, 2014; Chân dung nhà cải cách GD tiêu biểu trên thế giới, 2018).1 Vai trò của kinh nghiệm trong học tập Nhà khoa học Vai trò của kinh nghiệm trong học tập Kolb (1984:38) Học tập là quá trình mà ở đó kiến thức được hình thành thông qua sự chuyển đổi kinh nghiệm.
9 luan an Mezirow (2000:5) Quá trình sử dụng các diễn giải trước để xây dựng các diễn giải mới hoặc sửa đổi những kinh nghiệm của một người để định hướng cho hành động trong tương lai. Wilson (2005:7) Sự thay đổi diễn ra trong một thời gian dài về kiến thức, thái độ hoặc hành vi có được do kết quả của việc giáo dục, đào tạo chính thức hoặc do kinh nghiệm không chính thức. Beard and Wilson Quá trình hình thành nhận thức là kết quả của sự tham gia tích (2006:19) cực giữa thế giới bên trong của con người và thế giới bên ngoài của môi trường. (Nguồn: Anne Jordan & cộng sự, 2008, tr.199) Nghiên cứu về tổ chức HĐTN trong dạy học tiêu biểu có thể kể đến một số công trình sau: Năm 2002, Ann C.Jensen và David A.Kolb biên soạn sách gồm 12 chương có nhan đề “Conversational learning: An experiential approach to knowledge creation” cho rằng tổ chức HĐTN trong dạy học cần được thực hiện thông qua các cuộc trò chuyện, hội thoại trực tiếp hoặc thông qua không gian mạng.
Hoạt động này được thực hiện theo mô hình: GV tổ chức trò chuyện, khơi gợi kinh nghiệm, tăng tính tích cực, chủ động của sinh viên trong quá trình học (Ann C.Baker & cộng sự, 2002). Sáu năm sau, năm 2008, dựa trên các nghiên cứu về giáo dục, tâm lý học và thần thoại học của Erikson, 1950; Piaget, 1962; Vygotsky, 1978; Wolf, 1984; kết hợp với nghiên cứu về tầm quan trọng của vui chơi đối với sự phát triển nhận thức và xã hội-tình cảm con người của Singer và cộng sự, Alice Y.Kolb và David A.Kolb trong bài báo “Learning to play, playing to learn. A case study of a ludic learning space” đã khẳng định vai trò của tổ chức HĐTN trong dạy học thông qua trò chơi. Đây là hoạt động này có vị trí quan trọng trong việc khơi nguồn sáng tạo, trí tưởng tượng, tạo sự hứng thú cho sinh viên, là một trong những cách thức tổ chức HĐTN độc đáo, hiệu quả, có lợi cho việc học sâu, hiểu rõ vấn đề.
Trong đó người học đạt được khả năng học tập chuyên sâu thông qua việc tích hợp các giá trị trí tuệ, thể chất, đạo đức và tinh thần trong một không gian tự do và an toàn, phát huy tiềm năng học hỏi và trưởng thành của họ (David A.Kolb & cộng sự, 2008). 10 luan an Năm 2011, Mai Phương Trinh và David A.Kolb trong bài báo “Eastern experiential learning: Eastern principles for learning wholeness” đã vận dụng HTTN vào tổ chức các hoạt động học tập dành cho SV các nước phương Đông dựa trên công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây nổi tiếng ở thế kỷ 20 như William James, John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers với các nội dung của Nho giáo và Đạo giáo. Mai Phương Trinh và David A.Kolb đã phát triển một mô hình năng động, tổng thể về quá trình học hỏi từ kinh nghiệm và một mô hình đa chiều về sự phát triển của người trưởng thành theo cách tổ chức HĐTN trong dạy học để giúp sinh viên đi từ cái chưa biết đến cái đã biết và từ cái đã biết đến hiểu rõ về nó. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập việc vận dụng HTTN vào các nước phương Đông thông qua tổ chức HĐTN trong dạy học cụ thể như thế nào (Mai Phương Trinh & cộng sự, 2011).
Năm 2012, trong nghiên cứu “The learning way: learning from experience as the Path to Lifelong learning anh Development”, Angela M.Passarelli và David A.Kolb tiếp tục nhấn mạnh bản chất của việc học là trải nghiệm, hợp tác và thường được kích hoạt bởi cá nhân người học hơn là người dạy. Vì vậy, cách thức tổ chức HĐTN trong dạy học là kích thích, tạo tình huống để SV gặp những thách thức trong học tập, khơi gợi cảm xúc tích cực giúp họ huy động kinh nghiệm trực tiếp, khám phá, trình bày, nêu quan điểm, thiết lập các mối quan hệ giữa học tập với thực hành, nhờ đó, PTNL (tư duy, phản ánh, hành động.) và giúp họ học tập suốt đời (Angela M.Passarelli & cộng sự, 2012, tr. Cũng trong thời gian này, trong nghiên cứu “Using Experiential Learning Theory to Promote Student Learning and Development in Programs of Education”, hai cũng tác giả đã cung cấp một mô hình can thiệp giáo dục thông qua tổ chức HĐTN dành cho các du học sinh đại học, giúp họ thích nghi với việc học tập trong môi trường mới. Một số hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức như: tạo tình huống nhằm gây hứng thú, tạo động lực, giúp người học huy động kinh nghiệm, xác định mối liên hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết; phân tích, thảo luận, giảng giải, vận dụng, điều chỉnh, đánh giá với sự tham gia của tất cả mọi người (Ban giám hiệu, giảng viên, gia đình người bản xứ và bản thân sinh viên).
Việc huy động 11 luan an tất cả các lực lượngvào quá trình tổ chức HĐTN giúp tối đa hóa hiệu quả học tập của sinh viên. Năm 2015, Anthony William (Tony) Bates trong tác phẩm “Dạy học trong kỷ nguyên số - Teaching in a Digital Age” đã đưa ra một số cách tổ chức HĐTN trong dạy học như tổ chức cho SV tham quan nhà xưởng, phòng thu, trải nghiệm tại phòng thí nghiệm thông qua các PPDH như dạy học dựa vào vấn đề, dạy học dựa vào dự án, dạy học dựa vào sự thẩm vấn, dạy học hợp tác (tr. Đặc biệt, nghiên cứu xem dạy học trực tuyến là một trong những nội dung tổ chức HĐTN trong dạy học. Một số ngữ cảnh trong dạy học trực tuyến có thể áp dụng rất hiệu quả dạy học trải nghiệm như người học thực hiện và nâng cao hiệu quả học tập thông qua việc truy cập các nguồn trực tuyến, bằng việc sử dụng các tài nguyên đa phương tiện trên trực tuyến để tạo ra các báo cáo hoặc bài trình chiếu, cộng tác, học hỏi lẫn nhau; trải nghiệm thông qua sự kết hợp các công cụ đồng bộ như hội nghị qua Web, các diễn đàn thảo luận hoặc các phương tiện xã hội thông qua làm việc nhóm, báo cáo, thí nghiệm từ xa…(Bates, A.
Năm 2017, trong bài báo “Experiental learning theory as a guide for experiental educators in Higher education”, dựa trên quan điểm “Lấy người học làm trung tâm”, kế thừa các PPDH như dạy học hành động của Foy 1977, Revans 1980, Keys 1994; giáo dục phiêu lưu của Fuller 2012, Timken và McNamee 2012; PPDH mô phỏng và chơi game của Shields, Zawadzki và Johnson 2011,Taylor, Backlund và Niklasson 2012, Alice Y.Kolb và David A.Kolb tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức HĐTN dành cho SV đại học trong việc lựa chọn nội dung dựa trên một chuỗi các hoạt động, kĩ thuật dạy học phù hợp với mục tiêu học tập. Đồng thời đề cao vai trò, sự linh hoạt, tinh tế của GV trong quá trình tổ chức HĐTN. Chẳng hạn, khi tổ chức cho SV trải nghiệm tìm hiểu, khám phá vấn đề, GV đóng vai trò là người hướng dẫn; khi tổ chức cho SV phân tích, đánh giá vấn đề, GV đóng vai trò là chuyên gia… (Alice Y.Kolb & cộng sự, 2017). Năm 2020, nghiên cứu “The experiencing scale: An experiential learning Gauge of Engagement in Learning” của Karen L.Stock và David a.Kolb dựa trên 12 luan an thang đo trải nghiệm dành cho 270 sinh viên, các tác giả một lần nữa khẳng định việc tổ chức HĐTN trong dạy học giúp kích thích hứng thú của người học vào khám phá, tìm hiểu vấn đề, tiếp thu kiến thức thông qua các hoạt động như gây sự chú ý tập trung của người học, giúp họ tự khám phá, mở rộng và khắc sâu kiến thức bằng việc đóng vai, thực hiện bài tập, trò chơi.
Các HĐTN trong dạy học cần phải được tổ chức trực tiếp, có tính mới sẽ đạt hiệu quả cao trong việc PTNL cần thiết cho người học (Karen L.Stock & cộng sự, 2020).