phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Tổ chức HĐTN trong dạy học phần SHCTN cấp THCS để phát triển NLTC cho HS. Chƣơng 3: Thực nghiệm Sƣ phạm luan an 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC THỂ CHẤT VÀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1.
Giáo dục thể chất và Năng lực thể chất 1. Giáo dục thể chất và Năng lực thể chất trên thế giới Giáo dục thể chất Điểm qua các nghiên cứu về GDTC trên thế giới có thể thấy mỗi quốc gia xây dựng chƣơng trình GDTC khác nhau. - Một số quốc gia nhấn mạnh việc GDTC cho HS tập trung vào các KN vận động/thao tác mà không giáo dục cho HS những hiểu biết về cơ thể ngƣời để là cơ sở hình thành các hành vi có lợi cho sức khỏe (mặc dù trong chƣơng trình đào tạo Giáo viên GDTC có các môn học/mô đun giảng dạy về nội dung này): Theo pháp luật tại Slovenia, chƣơng trình quốc gia về GDTC ở các trƣờng tiểu học và THCS cung cấp các hoạt động thể chất ngoại khóa và các chƣơng trình thể thao bổ sung. Ở một số nƣớc, các Bộ Giáo dục tham gia vào thỏa thuận với chính quyền các cấp về việc cung cấp ngân sách cho hoạt động ngoại khóa; Các nghiên cứu đã chỉ ra Chƣơng trình GDTC cơ bản tại Phần Lan tập trung vào rèn các môn thể dục thể thao (Trƣợt băng, bóng chày, bóng đá, điền kinh và khúc côn cầu trên băng, bóng rổ, bóng chày và bóng chuyền); GDTC ở Hy Lạp chú trọng vào phát triển các hình thái vận động hoàn thiện và kết hợp vận động theo nhạc (lớp 1- lớp 4); phát triển KN thể thao và nhảy múa (lớp 5 - lớp 9); các hoạt động tiêu biểu thể thao, điền kinh, thể dục và khiêu vũ thể thao (lớp 10 - lớp12) và GV GDTC đánh giá HS trong suốt khóa học hoặc bằng cách thực hiện các bài KT thể dục ngắn.
Thời gian dành cho các bài KT phải đƣợc giữ ở mức tối thiểu, để không làm giảm thời gian thực sự dành cho giảng dạy; Nội dung hoạt động thể thao trong các giờ GDTC ở Trung Quốc trƣớc đây chủ yếu đƣợc diễn ra trong một số các môn thể thao. Tùy thuộc vào sự khác biệt về nhóm tuổi, các môn thể thao đã đƣợc thiết lập để đáp ứng các cấp độ luan an 9 mục tiêu tƣơng ứng. Mƣời năm sau khi Hội đồng nhà nƣớc công bố “Định hƣớng hoạt động thể chất cho quảng đại quần chúng”, tình trạng thể chất và sức khỏe của ngƣời dân Trung Quốc đã có dấu hiệu đi xuống. Trung Quốc đã bắt đầu phải đối mặt với vấn đề thực hiện một số các Điều luật và Quy định về GDTC, giáo dục sức khỏe, thể thao và giải trí đã đƣợc ban hành [11].
- Ở các quốc gia GDTC đƣợc giảng dạy theo hƣớng ngoài việc giáo dục cho HS các KN vận động thì chƣơng trình đã tích hợp các kiến thức, KN hƣớng tới việc CSSK thể chất, tinh thần cho HS: Chƣơng trình GDTC của Singapore tập trung vào các nội dung về những KN vận động cơ bản; Các KN hoạt động thể thao và thể chất; Các cuộc thi đấu thể thao giải trí; Giáo dục sức khỏe; Giáo dục ngoài trời; Các giá trị thông qua hoạt động ở GDTC và phát triển chuyên nghiệp. Mục tiêu của chƣơng trình giảng dạy GDTC ở Lào là nhằm tăng cƣờng phát triển các mặt về sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, tình cảm và xã hội của HS, thúc đẩy lối sống lành mạnh thông qua các hoạt động giáo dục. Tại Pháp đối với mỗi bậc học, có ba mục tiêu cơ bản đƣợc đặt ra trong GDTC đó là: Sự phát triển các KN và sự cần thiết của nguồn lực đối với hành vi vận động; Tiếp cận với các di sản văn hóa đƣợc tạo thành bởi các hoạt động thể thao, nghệ thuật và thể chất; Năng lực học tập và kiến thức hữu ích để hiểu biết hơn về cơ thể và giữ sức khỏe tốt. Tại Malaysia GDTC là một môn học bắt buộc đối với các trƣờng tiểu học và trung học chƣơng trình giảng dạy GDTC bao gồm ba lĩnh vực quan trọng: Sự khỏe mạnh; KN thể thao; Các vấn đề liên quan đến thể thao và phát triển thể chất [11].
Năng lực thể chất. GF (1996) [78] cùng nhóm các tác giả Reboredo MM [96], Moore GE [91], Cheema BS [71], Diane Michela [74] cho rằng thực hành hoạt động thể chất có liên quan đến cải thiện NLTC. Saltin B (1980) [99]; Anne Faber Hansen (2011) [67], Holtermann A (2010) [82] cho rằng hoạt động TDTT sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và nâng cao NLTC đối với đối tƣợng làm việc trí óc, góp phần nhỏ hơn trong việc duy trì và nâng cao NLTC đối với ngƣời lao động chân tay. Zhenzhen Qiu (2017) [108] cho rằng thực hành tập thể dục thƣờng xuyên luan an 10 giúp cải thiện và nâng cao NLTC.
Zbigniew Jastrzebski (2011) [107] tìm hiểu quá trình đào tạo kỹ thuật đá bóng và NLTC của các cầu thủ bóng đá đã cho chỉ rõ quá trình đào tạo kỹ thuật đá bóng có sự ảnh hƣởng tích cực tới NLTC với thời gian là 1 năm. Ulrich (2013) nghiên cứu trên 250 HS từ lớp 1 đến lớp 4 về mối quan hệ giữa NLTC với khả năng vận động và khả năng thể thao. Kết quả cho thấy rằng: NLTC không liên quan đáng kể đến việc chúng tham gia vào các chương trình thể thao có tổ chức, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với khả năng vận động [69]. Từ nghiên cứu này tác giả cũng đƣa ra lời khuyên đối với các nhà giáo dục cần tổ chức các hình thức học tập tích cực để trẻ có nhiều cơ hội vận động giúp phát triển NLTC.
Bell (1997) [85] TN trên HS lớp 5 và lớp 7 để phân tích mối quan hệ giữa NLTC và mô hình hoạt động thể chất. Tác giả kết luận rằng: Có sự khác biệt giữa NLTC của HS lớp 5 và HS lớp 7. Nghiên cứu này là cơ sở để các nhà giáo dục đƣa ra cách thiết kế các mô hình học tập tích cực trong môi trƣờng giáo dục ở những lứa tuổi khác nhau. Các nghiên cứu đã thử nghiệm trên đủ các đối tƣợng lứa tuổi khác nhau nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống về quy trình, các biện pháp tổ chức HĐTN để tổ chức tích hợp hình thành và phát triển NLTC cho HS cấp THCS trong dạy học các môn học, đặc biệt môn Sinh học là môn học có nhiều tiềm năng bên cạnh các môn thể dục, thể thao.
Giáo dục thể chất và năng lực thể chất ở Việt Nam Ở Việt Nam, GDTC là môn học nhằm cung cấp kiến thức, KN vận động cơ bản cho ngƣời học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS, sinh viên từ đó hình thành và phát triển NLTC cho HS [1], [36]. Giáo dục thể chất trong môn thể dục: - Giáo dục thể chất trong môn thể dục là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con ngƣời. Tổng hợp quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con ngƣời. Giáo dục thể chất đƣợc chia thành hai mặt riêng biệt, dạy học động luan an 11 tác và giáo dục các tố chất vận động.
Chƣơng trình môn Thể dục lớp 8 theo chƣơng trình hiện hành yêu cầu HS cần đạt: Về kiến thức: Biết một số phƣơng pháp đơn giản tập luyện phát triển sức nhanh; biết khẩu lệnh và cách thực hiện chạy đều - đứng lại; biết cách thực hiện bài tập thể dục phát triển chung liên hoàn (35 nhịp); Biết cách thực hiện các giai đoạn kĩ thuật xuất phát, chạy lao, một số trò chơi; Biết cách chạy trên địa hình tự nhiên và thực hiện (lên/xuống dốc, vƣợt qua chƣơng ngại vật) và biết cách đo mạch ở mức độ đơn giản; Biết cách thực hiện 4 giai đoạn kĩ thuật nhảy xa kiểu “ngồi”; Biết cách thực hiện 4 giai đoạn kĩ thuật nhảy cao kiểu “bƣớc qua”; Biết cách thực hiện di chuyển bƣớc đơn ra trƣớc chếch trái/phải, đỡ cầu bằng ngực/mu bàn chân và hiểu luật thi đấu đá cầu; Biết cách thực hiện phát bóng thấp tay nghiêng hình và hiểu luật đá bóng mi ni, hiểu đƣợc một số điểm trong luật bơi, ném bóng. Về kĩ năng: Thực hiện đƣợc cơ bản đúng, đều những KN đội hình đội ngũ và bài thể dục phát triển chung; Thực hiện đúng kĩ thuật: xuất phát, chạy lao, chạy giữa quãng, chạy ngắn, chạy bền, chạy đà, giậm nhảy, trên không và vận dụng những hiểu biết về luật trong tập luyện và thi đấu; Thực hiện cơ bản đúng kĩ thuật bơi trƣờn sấp, bóng đá mi ni, ném bóng, đá cầu và vận dụng những hiểu biết về chiến thuật, luật trong tập luyện, thi đấu. Thái độ, hành vi: Có tinh thần tập thể, giúp đỡ bạn và có ứng xử đúng khi tập luyện TDTT. - Yêu cầu cần đạt môn GDTC trong chƣơng trình phổ thông tổng thể đối với HS lớp 8 gồm 3 yêu cầu: Vận động cơ bản; Bài tập thể dục; Thể thao tự chọn.
Giáo dục thể chất trong môn Sinh học: Trong môn Sinh học, GDTC có thể đƣợc giáo dục thông qua nhiều nội dung Sinh học khác nhau nhƣ: Sinh học tế bào, Sinh học cơ thể, Sinh thái học, Di truyền học… đặc biệt là nội dung SHCTN. Ở các phần Sinh học khác nhau GDTC nhằm vận dụng đƣợc kiến thức, kĩ năng của môn học để giải thích những hiện tƣợng thƣờng gặp trong tự nhiên và trong đời sống; những vấn đề bảo vệ sức khỏe và chăm sóc sức khỏe; những vấn đề về bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững; ứng xử thích hợp và giải quyết những vấn đề đơn giản liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng. Các biểu hiện cụ thể: luan an 12 - Nhận ra, giải thích đƣợc vấn đề thực tiễn dựa trên kiến thức Sinh học: + Xác định vai trò của việc xác định khẩu phần ăn hàng ngày nhằm bổ sung năng lƣợng phù hợp để giúp công suất làm việc hiệu quả, phòng ngừa bệnh tật, góp phần vào việc tính toán chi phí, lợi ích về mặt kinh tế cho gia đình. Giải thích đƣợc nguyên tắc lập khẩu phần ăn ; cân đối giữa các thành phần các chất dinh dƣỡng protein, glucid, lipid (protein: lipid: glucid = 1:1:4 hoặc 15%:25%:65%) và bổ xung vitamin.