Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học (mã số: 9.11) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc, mang tiêu đề: "Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học phần Sinh học cơ thể người cấp Trung học cơ sở để phát triển năng lực thể chất cho học sinh".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông chuyển từ nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, trong đó năng lực thể chất (NLTC) là một trong những năng lực chuyên môn cốt lõi. Tuy nhiên, thực tế dạy học tại các trường trung học cơ sở (THCS) còn nhiều bất cập: giáo viên quá chú trọng truyền đạt lý thuyết, lúng túng trong việc gắn bài học với thực tiễn đời sống, thiếu cơ sở lý luận, thiếu quy trình tổ chức dạy học trải nghiệm và chưa có bộ tiêu chí chuẩn để đánh giá năng lực người học. Đồng thời, sự gia tăng của các bệnh theo phong cách sống trong cộng đồng (tim mạch, huyết áp, tiểu đường, béo phì, suy dinh dưỡng, lạm dụng chất gây nghiện) đòi hỏi học sinh phải có hiểu biết khoa học để tự chăm sóc sức khỏe. Lứa tuổi học sinh THCS (11–15 tuổi, trọng tâm là học sinh lớp 8 từ 13–14 tuổi) là thời kỳ phát triển sinh học, thể lực và tâm sinh lý mạnh nhất. Mặc dù phần Sinh học cơ thể người (SHCTN) chứa đựng các tri thức giải phẫu và sinh lý người – nền tảng cốt lõi cho việc chăm sóc và rèn luyện thân thể – nhưng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm (HĐTN) nhằm tích hợp phát triển NLTC cho học sinh trong môn học này vẫn chưa được chú ý đúng mức.

Mục đích nghiên cứu của luận án là: Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLTC, giáo dục thể chất (GDTC) và mô hình học tập trải nghiệm; xây dựng các HĐTN để dạy học phần SHCTN tích hợp rèn luyện và phát triển NLTC cho học sinh THCS.

Giả thuyết khoa học được xác định: Nếu xác định được cấu trúc NLTC và quy trình dạy học SHCTN bằng tổ chức HĐTN tích hợp giáo dục NLTC thì học sinh sẽ vừa chiếm lĩnh được kiến thức SHCTN, vừa phát triển được NLTC.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 5 nhiệm vụ cụ thể được đánh số:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực, NLTC, hoạt động trải nghiệm để phát triển NLTC cho học sinh.
  2. Phân tích mục tiêu, nội dung phần SHCTN cấp THCS nhằm xây dựng các mạch nội dung HĐTN để tổ chức dạy học tích hợp giáo dục thể chất cho học sinh.
  3. Xác định cấu trúc của NLTC, xây dựng các mạch nội dung HĐTN và thiết kế quy trình tổ chức HĐTN để tích hợp giáo dục NLTC trong dạy học SHCTN cho học sinh THCS.
  4. Xây dựng quy trình và bộ công cụ đánh giá NLTC của học sinh THCS.
  5. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài.

Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức dạy học SHCTN (Sinh học 8) bằng HĐTN tích hợp giáo dục NLTC cho học sinh. Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học SHCTN cấp THCS.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn nội dung: Xây dựng các HĐTN để tổ chức dạy học SHCTN theo mô hình David Kolb để tích hợp GDTC ở 5 chương thuộc học kỳ I của phần Sinh học cơ thể người và vệ sinh (Sinh học 8).
  • Giới hạn địa bàn: Đề tài tiến hành khảo sát và thực nghiệm tại 6 trường THCS thuộc 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Dương và Phú Thọ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan lịch sử nghiên cứu, tác giả phân loại và điểm lại các công trình trong và ngoài nước theo hai mạch chính: nghiên cứu về giáo dục thể chất, năng lực thể chất và nghiên cứu về dạy học trải nghiệm.

Về giáo dục thể chất và năng lực thể chất:

  • Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy có hai khuynh hướng tổ chức GDTC. Khuynh hướng thứ nhất chỉ chú trọng rèn luyện kỹ năng vận động, thao tác kỹ thuật thể thao (như tại Slovenia, Phần Lan, Hy Lạp, Trung Quốc giai đoạn trước). Khuynh hướng thứ hai kết hợp kỹ năng vận động với giáo dục kiến thức chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần (như tại Singapore, Lào, Pháp, Malaysia). Về NLTC, các tác giả GF (1996), Reboredo MM, Moore GE, Cheema BS, Diane Michela chứng minh thực hành hoạt động thể chất có quan hệ chặt chẽ với cải thiện NLTC; Saltin B (1980), Anne Faber Hansen (2011), Holtermann A (2010) nghiên cứu vai trò của thể dục thể thao đối với lao động trí óc và chân tay; Zhenzhen Qiu (2017) và Zbigniew Jastrzebski (2011) khẳng định rèn luyện thường xuyên và kỹ thuật thể thao nâng cao NLTC; Ulrich (2013) nghiên cứu trên 250 học sinh lớp 1–4 chỉ ra NLTC gắn liền với khả năng vận động; Bell (1997) phân tích sự khác biệt về NLTC giữa học sinh lớp 5 và lớp 7; Evans John và Glyn C. Roberts (1987) khẳng định trẻ 8–11 tuổi có NLTC tốt đạt địa vị và thành công xã hội cao hơn.
  • Tại Việt Nam, nghiên cứu về thể chất và NLTC có các công trình của Tạ Hồng Hải (2002) dùng chỉ tiêu hình thái và thể lực đánh giá học sinh THCS Hà Nội và Nghệ An; Nguyễn Hùng Cường (2010) dùng 62 chỉ tiêu hình thái, chức năng sinh lý và thể lực trên sinh viên Trường Đại học Thể dục Thể thao I; Đồng Hương Lan (2016) khảo sát thể lực học sinh THPT chuyên Bắc miền Trung (chỉ 51,10% đạt tiêu chuẩn). Bên cạnh đó là các quan niệm lý luận về thể chất của A. Matveep (1990), Nông Thị Hồng (2007), Macximenko A.M (2001), Đặng Hồng Phương (2014), Nguyễn Quang Quyền (1994), Philin V.P, Nguyễn Ngọc Cừ (2001), Nguyễn Toản (2004), Nguyễn Công Khanh (2015).

Về hoạt động trải nghiệm:

  • Lược sử thế giới ghi nhận Aristotle khởi xướng tư tưởng trường học gắn với tự nhiên từ năm 450 TCN; thế kỷ XX có các nghiên cứu của Êxipốp, Babanxki Iu, Đannhilốp M.V, Roy Singh (1974); Zadek Kurt Lewin đề xuất mô hình học tập dựa vào trải nghiệm gồm 4 bước; Svinicki và Dixon (1987) xây dựng các hoạt động trong chu trình trải nghiệm; David Guile và Toni Griffiths (2000), Sakofs (1995); David Kolb chuẩn hóa chu trình học tập trải nghiệm 4 giai đoạn; Đại học California Davis đề xuất mô hình 5 giai đoạn; các nghiên cứu ứng dụng STEM của Baker, Cantor J. (2013); Camelia Maier (2014) dạy thực hành sinh lý thực vật qua kính hiển vi; Zame Zull (2002) phân tích cơ sở thần kinh học tương ứng với 4 giai đoạn của chu trình Kolb.
  • Tại Việt Nam, các tác giả nghiên cứu HĐTN gồm Đinh Thị Kim Thoa, Lê Huy Hoàng, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Thị Hằng, Dương Thúy Hà, Nguyễn Thị Kim Dung (2014); Bùi Ngọc Diệp (2015); Võ Trung Minh (2015); Nguyễn Hợp Tuấn (2018); Nguyễn Quỳnh Trang (2018); Đào Thị Ngọc Minh (2018); Nguyễn Thế Bình (2018); Lã Thị Bắc Lý (2017); Chu Thị Hồng Nhung (2017); Nguyễn Văn Bảy (2015); Nguyễn Văn Hạnh (2017); Trần Thị Gái (2018).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu GDTC tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở khía cạnh vận động cơ học hoặc kỹ năng thể dục thể thao thuần túy trong môn Thể dục, chưa chú trọng giáo dục cơ sở khoa học sinh học của thể chất. Đồng thời, các nghiên cứu về HĐTN chưa làm rõ quy trình thiết kế, biện pháp tổ chức và bộ công cụ đánh giá NLTC cho học sinh THCS tích hợp trong dạy học bộ môn Sinh học nói chung và phần Sinh học cơ thể người nói riêng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích: Luận án kế thừa các định nghĩa về thể chất, phát triển thể chất và năng lực theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018). Tác giả định nghĩa: "NLTC là khả năng vận dụng tri thức Sinh học cơ thể người để giải thích các hiện tượng, lựa chọn các biện pháp, các quy tắc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe (CSSK) từ đó làm cơ sở cho việc thực hiện các hành vi CSSK". Cấu trúc NLTC trong dạy học phần SHCTN được tác giả xây dựng gồm 6 kỹ năng (KN) thành phần:

  1. Lập khẩu phần ăn phù hợp.
  2. Thực hiện các hình thức vận động cơ bản.
  3. Nhận diện và lựa chọn cách cân bằng cảm xúc.
  4. Lập kế hoạch sinh hoạt, học tập và hoạt động CSSK.
  5. Đo và đánh giá một số chỉ số sức khỏe.
  6. Lựa chọn một số biện pháp thích ứng với môi trường.

Khung thiết kế HĐTN vận dụng chu trình học tập 4 giai đoạn của David Kolb:

  • Giai đoạn 1: Trải nghiệm cụ thể (hành động, trải nghiệm trực tiếp).
  • Giai đoạn 2: Quan sát phản ánh (chia sẻ, so sánh, xử lý, hồi tưởng, suy ngẫm).
  • Giai đoạn 3: Hình thành khái niệm (học hỏi từ trải nghiệm, rút ra kết luận khoa học).
  • Giai đoạn 4: Thử nghiệm tích cực (thực hành, ứng dụng vào giải quyết vấn đề thực tế). Cơ sở này được củng cố bằng nghiên cứu khớp nối thần kinh của James Zull (2002) giữa 4 pha trải nghiệm với các vùng vỏ não: vùng cảm giác, vùng vỏ não tích hợp phía sau, thùy trán và vùng vỏ não vận động.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 13–14, chuẩn kiến thức kỹ năng môn Sinh học 8, lý luận dạy học tích cực, lý thuyết học tập trải nghiệm và giáo dục thể chất.
  • Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn: Thiết kế 3 bộ phiếu hỏi. Phiếu 1 khảo sát giáo viên THCS về nhận thức, thực trạng rèn luyện NLTC, mức độ tổ chức HĐTN; Phiếu 2 điều tra kiến thức SHCTN và NLTC của học sinh; Phiếu 3 điều tra các hành vi tích cực về chăm sóc sức khỏe của học sinh.
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia giải phẫu sinh lý người, chuyên gia GDTC, chuyên gia phát triển chương trình, cán bộ quản lý và giáo viên Sinh học, Thể dục giàu kinh nghiệm. Các nội dung đưa vào nghiên cứu đều đạt tỷ lệ chuyên gia đồng thuận trên 90%.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành hai giai đoạn: thử nghiệm thăm dò (90 học sinh tại THCS Vạn Điểm, Thường Tín, Hà Nội, năm học 2016–2017) và thực nghiệm chính thức trên 515 học sinh tại 6 trường THCS (256 học sinh nhóm đối chứng, 259 học sinh nhóm thực nghiệm). Đồng thời tiến hành nghiên cứu trường hợp chuyên sâu trên 36 học sinh (6 học sinh/trường, gồm 2 học sinh điểm cao, 2 học sinh điểm thấp, 2 học sinh điểm trung bình môn Sinh học).
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và thực nghiệm bằng phần mềm SPSS 23.0. Sử dụng công cụ Frequencies (Mean, Mode, Median, Skewness, Kurtosis); Independent Samples T-test kiểm định sai khác giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm; Paired-Samples T-test kiểm định sự biến thiên các mức độ NLTC qua 3 lần đo (trước, trong, sau thực nghiệm) ở nhóm thực nghiệm với mức ý nghĩa p < 0,05; kiểm định tương quan tuyến tính Pearson (Analyze/Correlation/Bivariate) giữa kết quả tiếp thu kiến thức SHCTN và mức độ phát triển NLTC.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Dữ liệu khảo sát từ 218 giáo viên Sinh học THCS hợp lệ (trong 246 phiếu thu về từ 265 phiếu phát ra) tại Hà Nội, Hải Dương và Phú Thọ (thực hiện từ tháng 6/2017 đến tháng 9/2017).
  • Dữ liệu thực nghiệm thu thập từ 515 học sinh lớp 8 và 36 học sinh nghiên cứu trường hợp tại 6 trường THCS thuộc 3 tỉnh, thành phố nói trên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDTC, NLTC, các mô hình học tập trải nghiệm (Kurt Lewin, Svinicki, David Kolb) và đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 8. Học sinh lứa tuổi 13–14 có sự phát triển nhảy vọt về hình thái, cơ bắp và hệ sinh dục, tính năng động cao nhưng hệ tuần hoàn và thần kinh chưa hoàn thiện, dễ hưng phấn, chóng mệt mỏi; về tâm lý, các em tò mò, muốn khẳng định bản thân nhưng vốn sống còn hạn chế, cảm xúc dễ dao động mạnh. Tác giả xác lập cấu trúc NLTC gồm 6 kỹ năng và làm rõ định hướng sư phạm thông qua 4 biện pháp: tác động tâm lý, tạo môi trường học tập tích cực, cấu trúc lại nội dung môn học theo chủ đề tích hợp, sử dụng phương pháp dạy học trải nghiệm và dự án.

Phần cơ sở thực tiễn phân tích số liệu khảo sát 218 giáo viên dạy Sinh học THCS. Về tuổi nghề, giáo viên dưới 10 năm chiếm 6,0%; từ 10 đến dưới 20 năm chiếm 76,6%; từ 20 đến 30 năm chiếm 14,2%; trên 30 năm chiếm 3,2%; tuổi nghề trung bình là 16,39 năm. Nhận thức của giáo viên về vai trò GDTC rất cao: 93,6% đồng ý giúp học sinh tự phòng bệnh; 92,2% đồng ý bảo vệ và nâng cao sức khỏe; 86,7% đồng ý làm thay đổi nếp sống có hại; 83,5% đồng ý giúp thích nghi, cân bằng cuộc sống; 82,57% giáo viên tán thành định nghĩa NLTC gắn với tri thức SHCTN.

Tuy nhiên, mức độ giáo viên rèn luyện các kỹ năng NLTC cho học sinh trên thực tế lại rất thấp, thể hiện qua số liệu tại bảng dưới đây:

Các kỹ năng của NLTC Thường xuyên (%) Ít khi (%) Chưa bao giờ (%)
Thực hiện các hình thức vận động cơ bản 36,2 52,3 11,5
Nhận diện và lựa chọn được cách cân bằng cảm xúc 5,0 22,9 72,0
Lựa chọn một số biện pháp thích ứng với môi trường 2,8 11,0 86,2
Lập khẩu phần ăn phù hợp 1,8 6,9 91,3
Đo và đánh giá được một số chỉ số sức khỏe 0,9 2,3 96,8
Lập được kế hoạch sinh hoạt, học tập và CSSK 0,0 1,4 98,6

Khi được hỏi về việc đánh giá các kỹ năng này, hầu hết giáo viên thừa nhận không kiểm tra, đánh giá mà chỉ dừng lại ở mức độ nhắc nhở, khuyên bảo. Về nội dung giảng dạy, trên 50% giáo viên xác định 5 chương thuận lợi nhất để giáo dục NLTC là: Hệ vận động, Tuần hoàn, Hô hấp, Tiêu hóa, Trao đổi chất và năng lượng. Về hình thức dạy học, giáo viên chủ yếu sử dụng thảo luận và quan sát (76,61% – 82,57%); các hình thức trải nghiệm như thực hành/thí nghiệm thường xuyên chỉ đạt 14,68%, điều tra khảo sát đạt 1,84%, hoạt động chiến dịch đạt 1,38%, dù 99,08% giáo viên đánh giá việc tổ chức HĐTN là cần thiết và rất cần thiết.

Chương 2: Tổ chức HĐTN trong dạy học phần SHCTN cấp THCS để phát triển NLTC cho HS

Chương 2 trình bày mục tiêu, nội dung kiến thức 5 chương học kỳ I của phần SHCTN (Vận động, Tuần hoàn, Hô hấp, Tiêu hóa, Trao đổi chất và năng lượng) gắn với yêu cầu phát triển 6 kỹ năng NLTC.

Tác giả đề xuất nguyên tắc và quy trình thiết kế các HĐTN, bao gồm việc xác định mục tiêu kép (kiến thức SHCTN và kỹ năng NLTC), xây dựng chuỗi hoạt động học tập dựa trên chu trình 4 giai đoạn của Kolb:

  • Thiết kế hoạt động lập khẩu phần ăn phù hợp: Học sinh tính toán nhu cầu năng lượng hàng ngày, cân đối tỷ lệ protein : lipid : glucid là 1 : 1 : 4 (hoặc 15% : 25% : 65%) kết hợp bổ sung vitamin và khoáng chất cho các đối tượng khác nhau dựa vào lứa tuổi, giới tính, trạng thái vận động.
  • Thiết kế hoạt động vận động cơ bản: Học sinh tham gia trò chơi vận động (như thi xách nước để nhận biết sự mỏi cơ và sức chịu đựng của cơ), thảo luận cơ chế co cơ, hoạt động tuần hoàn, hô hấp khi vận động thể lực.
  • Thiết kế hoạt động đo chỉ số sức khỏe: Thực hành đo và đánh giá huyết áp, nhịp tim, nhịp thở, dung tích sống, nhiệt độ cơ thể, chỉ số khối cơ thể (BMI); điều tra tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì, bệnh tim mạch tại địa phương.
  • Thiết kế hoạt động nhận diện và cân bằng cảm xúc: Nhận diện 7 loại cảm xúc cơ bản (vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi, ghê tởm, lo lắng/căng thẳng); phân tích tác động của cảm xúc đến hoạt động các cơ quan (giận hại gan, buồn hại phổi, sợ hại thận, lo lắng hại dạ dày); thực hành kiểm soát và cân bằng cảm xúc.
  • Thiết kế hoạt động lập kế hoạch sinh hoạt, học tập và CSSK: Xây dựng thời gian biểu cân bằng giữa học tập, nghỉ ngơi, tập luyện và dinh dưỡng.
  • Thiết kế hoạt động thích ứng môi trường: Phân tích tác hại của khói bụi đến hệ hô hấp, thời tiết lạnh gây co mạch máu và cứng cơ khớp; thực hành các biện pháp tự bảo vệ (đeo khẩu trang, giữ ấm).

Về đánh giá NLTC, luận án vận dụng thang mô tả hành vi của Neesham C và cộng sự, xây dựng bảng tiêu chí đánh giá, thang điểm và quy trình đánh giá kết quả học tập qua từng giai đoạn nhằm phản ánh đường phát triển năng lực của học sinh.

Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm

Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các HĐTN đã thiết kế.

Mẫu thực nghiệm chính thức gồm 515 học sinh lớp 8 thuộc 6 trường THCS tại Hà Nội, Hải Dương và Phú Thọ, chia thành:

  • Nhóm đối chứng (ĐC): 256 học sinh, học theo giáo án thông thường dựa trên sách giáo viên Sinh học 8.
  • Nhóm thực nghiệm (TN): 259 học sinh, học bằng hình thức tổ chức HĐTN tích hợp giáo dục NLTC.
  • Nhóm nghiên cứu trường hợp: 36 học sinh (6 học sinh/trường) thuộc nhóm thực nghiệm được quan sát và ghi chép chi tiết hành vi xuyên suốt quá trình can thiệp.

Phương pháp xử lý và phân tích kết quả:

  • Phân tích định lượng: Đo lường điểm số NLTC của nhóm thực nghiệm qua 3 lần đo (trước, trong và sau thực nghiệm). Điểm trung bình NLTC toàn mẫu và từng kỹ năng thành phần được kiểm định bằng Paired-Samples T-test, cho thấy sự tăng trưởng rõ rệt với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05, khẳng định sự cải thiện NLTC là do tác động sư phạm chứ không phải ngẫu nhiên.
  • Đánh giá kiến thức SHCTN: So sánh điểm các bài kiểm tra kiến thức giữa nhóm ĐC và nhóm TN thông qua Independent Samples T-test. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở nhóm TN cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC, kiểm định t-test cho giá trị p < 0,05 xác nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
  • Kiểm định tương quan: Phân tích tương quan tuyến tính Pearson (Analyze/Correlation/Bivariate) khẳng định mối tương quan thuận, chặt chẽ giữa mức độ lĩnh hội kiến thức SHCTN và mức độ phát triển NLTC ở nhóm thực nghiệm.
  • Phân tích định tính: Số liệu theo dõi 36 học sinh nghiên cứu trường hợp và phiếu điều tra hành vi cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về hành vi chăm sóc sức khỏe: học sinh chủ động thay đổi chế độ dinh dưỡng, hình thành nền nếp tập luyện thể dục thể thao, biết cách đo các chỉ số cơ thể, biết kiểm soát cảm xúc tiêu cực và tự lập kế hoạch sinh hoạt cá nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

  1. Góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức HĐTN nhằm tích hợp phát triển NLTC cho học sinh THCS trong dạy học môn Sinh học (phần SHCTN - Sinh học 8).
  2. Xác định được cấu trúc NLTC phù hợp với môn học gồm 6 kỹ năng thành phần và vận dụng thành công mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb để hình thành, phát triển NLTC cho học sinh lớp 8.
  3. Đề xuất được quy trình thiết kế các HĐTN trong dạy học phần SHCTN tích hợp rèn luyện NLTC cho học sinh.
  4. Xác định được quy trình và biện pháp tổ chức các HĐTN trong và ngoài lớp học giúp phát triển NLTC cho học sinh THCS.
  5. Xây dựng được bộ tiêu chí, thang đo hành vi (vận dụng thang Neesham C và cộng sự) và bộ công cụ đánh giá NLTC của học sinh lớp 8 qua 3 giai đoạn.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, tác giả nêu rõ:

  • Đối với các cấp quản lý giáo dục: Cần tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên THCS về lý luận và kỹ thuật thiết kế, tổ chức HĐTN tích hợp rèn luyện phẩm chất, năng lực; trang bị thêm phương tiện, dụng cụ đo chỉ số sức khỏe cơ bản tại phòng học bộ môn Sinh học.
  • Đối với giáo viên bộ môn Sinh học: Cần chủ động chuyển đổi phương pháp dạy học, tăng cường các hoạt động thực hành, điều tra thực địa, dự án học tập gắn lý thuyết giải phẫu sinh lý với các kỹ năng giữ gìn sức khỏe; phối hợp chặt chẽ với gia đình để theo dõi và duy trì các hành vi tích cực của học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ giới hạn nghiên cứu:

  • Nội dung nghiên cứu mới chỉ tập trung xây dựng và thực nghiệm các HĐTN tích hợp phát triển NLTC ở 5 chương thuộc học kỳ I của phần Sinh học cơ thể người và vệ sinh (Sinh học 8), chưa thực hiện thiết kế cho toàn bộ các chương còn lại của học kỳ II (Hệ bài tiết, Da, Thần kinh và giác quan, Tuyến nội tiết, Sinh sản).
  • Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm mới chỉ giới hạn ở 6 trường THCS thuộc 3 tỉnh/thành phố khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Dương, Phú Thọ), chưa khảo sát trên các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất khác biệt.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả định hướng:

  • Mở rộng việc thiết kế và tổ chức các HĐTN giáo dục NLTC cho các chương còn lại của môn Sinh học cấp THCS và các khối lớp khác trong chương trình giáo dục phổ thông.
  • Tiếp tục hoàn thiện và chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá NLTC, áp dụng thực nghiệm trên quy mô mẫu rộng hơn ở nhiều địa phương trên cả nước.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Sinh học, Khoa học giáo dục: Luận án cung cấp khung lý thuyết về cấu trúc NLTC, sự tích hợp giữa mô hình trải nghiệm David Kolb với cơ chế thần kinh học của Zull, cùng phương pháp luận xử lý số liệu thực nghiệm bằng các công cụ kiểm định thống kê chuyên sâu (Independent Samples T-test, Paired-Samples T-test, Bivariate Correlation).
  • Đối với giáo viên Sinh học THCS: Phần thiết kế chi tiết các hoạt động học tập tại Chương 2 (lập khẩu phần ăn, đo huyết áp, nhịp tim, BMI, cân bằng cảm xúc, lập kế hoạch sinh hoạt) là tài liệu mẫu trực tiếp để xây dựng kế hoạch bài dạy trải nghiệm.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phát triển chương trình: Luận án cung cấp bộ tiêu chí đánh giá hành vi và thang đo năng lực cụ thể, làm căn cứ định hướng kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận năng lực trong Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Năng lực thể chất được luận án xác định gồm những thành phần cụ thể nào?
Luận án xác định cấu trúc NLTC gồm 6 kỹ năng thành phần: (1) Lập khẩu phần ăn phù hợp; (2) Thực hiện các hình thức vận động cơ bản; (3) Nhận diện và lựa chọn cách cân bằng cảm xúc; (4) Lập kế hoạch sinh hoạt, học tập và hoạt động CSSK; (5) Đo và đánh giá một số chỉ số sức khỏe; (6) Lựa chọn một số biện pháp thích ứng với môi trường.

2. Mô hình dạy học trải nghiệm nào được tác giả sử dụng làm khung thiết kế các hoạt động học tập?
Tác giả sử dụng mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của David Kolb gồm chu trình 4 giai đoạn xoắn ốc: Trải nghiệm cụ thể, Quan sát phản ánh, Hình thành khái niệm và Thử nghiệm tích cực. Mô hình này được luận giải phù hợp với cơ chế hoạt động của não bộ theo nghiên cứu của James Zull (2002).

3. Kết quả khảo sát thực trạng rèn luyện các kỹ năng NLTC của giáo viên THCS cho thấy điều gì?
Khảo sát 218 giáo viên Sinh học THCS cho thấy tỷ lệ giáo viên thường xuyên rèn luyện các kỹ năng NLTC cho học sinh rất thấp: Lập kế hoạch sinh hoạt đạt 0,0%; Đo chỉ số sức khỏe đạt 0,9%; Lập khẩu phần ăn đạt 1,8%; Thích ứng với môi trường đạt 2,8%; Cân bằng cảm xúc đạt 5,0%; chỉ có kỹ năng Thực hiện các hình thức vận động cơ bản đạt 36,2%. Phần lớn giáo viên không thực hiện đánh giá các kỹ năng này.

4. Quy mô thực nghiệm sư phạm chính thức của đề tài được triển khai ra sao?
Thực nghiệm chính thức được tiến hành trên 515 học sinh lớp 8 (256 học sinh đối chứng, 259 học sinh thực nghiệm) tại 6 trường THCS thuộc Hà Nội, Hải Dương và Phú Thọ. Đồng thời, tác giả theo dõi nghiên cứu trường hợp chuyên sâu trên 36 học sinh (6 học sinh mỗi trường, phân loại theo 3 mức học lực môn Sinh học). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 với các kiểm định thống kê ở mức ý nghĩa p < 0,05.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cấu trúc 6 kỹ năng của năng lực thể chất và đề xuất quy trình dạy học bằng hoạt động trải nghiệm theo mô hình David Kolb trong phần Sinh học cơ thể người lớp 8. Kết quả điều tra thực trạng trên 218 giáo viên đã phản ánh chính xác khoảng trống về việc thiếu vắng các biện pháp rèn luyện và công cụ đánh giá NLTC trong nhà trường phổ thông. Dữ liệu thực nghiệm sư phạm trên 515 học sinh và 36 trường hợp chuyên sâu đã khẳng định việc tổ chức dạy học trải nghiệm giúp học sinh vừa chiếm lĩnh vững chắc kiến thức giải phẫu sinh lý học, vừa phát triển rõ rệt các kỹ năng chăm sóc sức khỏe và hình thành các hành vi thể chất tích cực. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học cấp THCS.