Chương 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ THI PHÁP, KHÁI QUÁT THI PHÁP THƠ TỐ HỮU 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ THI PHÁP VÀ THI PHÁP HỌC 1. Về “thi pháp” 1. Các ý kiến khác nhau về khái niệm “thi pháp” Thi pháp là đối tượng nghiên cứu của thi pháp học.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thi pháp. Về một phương diện hay một góc độ nào đó, có thể nói, trong thực tế có bao nhiêu người nghiên cứu về thi pháp học thì cũng có bấy nhiêu cách hiểu về khái niệm thi pháp. Trần Đình Sử trong Thi pháp văn học trung đại Việt Nam: Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc chi phối sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp không phải là một nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong, vốn có của sáng tạo nghệ thuật, hình thành cùng với nghệ thuật.
Nó là mỹ học nội tại của sáng tác nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm là cả nền văn học. Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp. Nó bao gồm mấy bộ phận sau: - Lý luận về thi pháp của một giai đoạn văn học cụ thể.
Ở đây sẽ bao gồm lý luận về thi pháp vốn có của giai đoạn văn học, được tác giả của chúng thừa nhận. - Hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật thể hiện trong bản thân sáng tác của giai đoạn văn học được xét. Hệ thống này do tồn tại tiềm tàng trong sáng tác nên cần được miêu tả ra, đồng thời nó cũng không trùng khít với thi pháp học lý thuyết của giai đoạn văn học ấy. - Lý luận thi pháp của người nghiên cứu dùng để miêu tả một cách hệ thống thi pháp tiềm tàng trong thực tế văn học và lý giải mới đối với lý luận thi pháp đã có trong lịch sử.
Ba bộ phận của thi pháp này liên hệ với nhau trong một mối quan hệ hết sức khắng khít. Trong Thi pháp truyện Kiều, Trần Đình Sử nhấn mạnh: thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật thấm nhuần ý thức chủ thể của tác giả. Thi pháp học hiện đại bao gồm phong cách nghệ thuật như một bộ phận của nó. Phong cách GVHD: Nguyễn Hoa Bằng SVTH: Dương Thị Thùy Trang 7 Thi pháp tập thơ Từ ấy của Tố Hữu học nghệ thuật ở đây không chỉ là sự lựa chọn những yếu tố tư tưởng, tình cảm, phương tiện để dệt nên một tác phẩm nghệ thuật nhất định, mà còn là sự thống nhất những cái đã được chọn lựa vào một thể thống nhất hữu cơ, hoàn chỉnh.
Không có sự thống nhất trên mọi cấp độ và giữa các cấp độ với nhau thì không thể có được phong cách. Yếu tố tạo nên sự thống nhất ấy không gì quan trọng hơn là quan niệm nghệ thuật. Tính sáng tạo của bất kỳ tác phẩm nào cũng điều bắt đầu từ sáng tạo trong quan niệm, bất kể tác giả có ý thức được điều đó hay không. Thiếu một quan niệm mới thì không thể có được một sáng tạo thật sự mới trong nghệ thuật.
Tính hệ thống của nghệ thuật thể hiện ở chỗ mọi quan niệm mới về thế giới và con người đòi hỏi những biện pháp nghệ thuật tương ứng trên các cấp độ. Đi tìm quan niệm nghệ thuật và hệ thống biện pháp nghệ thuật tương ứng vốn có trong một tác phẩm là thực chất của việc nghiên cứu thi pháp tác phẩm. Nghiên cứu thi pháp văn học khác hẳn với việc phê bình thiên về bình luận, bình giảng theo lối cảm thụ chủ quan thịnh hành. Do vậy các thao tác ngữ học, tự sự học cũng được chú ý thích đáng.
Những khái niệm, thuật ngữ mới cũng được vận dụng. Nghiên cứu thi pháp tác phẩm thì phải bám sát vào văn bản tác phẩm. Muốn hiểu tác phẩm như một sáng tạo toàn vẹn thì phải nhìn tác phẩm như một sáng tạo của chủ thể, khám phá ý thức của chủ thể trong tác phẩm, xem nó như một hệ thống biểu hiện cụ thể, bao gồm cái nhìn, hình thức mang quan niệm. Lý luận văn học ngày nay đã cho biết yếu tố hình thức nào của tác phẩm văn học cũng điều mang tính nội dung.
Nhưng những yếu tố hình thức ở cấp thấp như vần, thanh điệu, ngắt nhịp…thì tính nội dung thường mờ nhạt, khó xác định. Hình thức càng ở bậc cao thì tính nội dung càng rõ rệt.6] - Đỗ Đức Hiểu trong Đổi mới phê bình văn học quan niệm: Thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học … Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp…) yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau…tức là cái đẹp của thế giới, con người. -Nguyễn Thị Dư Khánh trong Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp khẳng định: Theo chúng tôi, có thể xác lập nội dung của khái niệm thi pháp từ chính nội dung ngữ nghĩa của nó. Chữ thi ở đây dùng để chỉ toàn bộ văn học nói chung chứ không phải riêng về thơ.
Thi là cách nói đã thành quen, mang nội dung lịch sử, ghi dấu ấn của cả một GVHD: Nguyễn Hoa Bằng SVTH: Dương Thị Thùy Trang 8 Thi pháp tập thơ Từ ấy của Tố Hữu thời kỳ lịch sử khá dài, khi mà mọi loại hình văn học từ anh hùng ca, truyện, kịch, tiểu thuyết…đều được diễn đạt bằng thơ. Còn pháp là phương pháp, là phép tắc. Vậy thi pháp là phương pháp, là phép tắc làm văn, làm thơ… Có thể nói ngay ở đây, phép tắc căn bản nhất của nó là sáng tạo, hư cấu nghệ thuật, tất nhiên không phải là xuyên tạc, làm méo mó đời sống mà là để thể hiện đời sống một cách nghệ thuật lung linh, hấp dẫn… Dù các quan điểm lý luận có khác nhau, có lệ thuộc vào những thiên kiến xã hội, giai cấp, chính trị như thế nào thì vẫn không thể không thừa nhận một thực tế là, ngay từ buổi sơ khai, các nhà nghệ sĩ vô danh đã không chịu bằng lòng với việc mô phỏng, sao chép tự nhiên mà luôn luôn khát vọng khám phá, chiếm lĩnh và chinh phục tự nhiên bằng những sáng tạo bay bỗng của mình. Nói tóm lại, nói đến thi pháp chủ yếu là nói đến quá trình sáng tạo những hình thức nghệ thuật của tác phẩm, là nói đến những phương thức, phương tiện những thao tác nghệ thuật của nhà nghệ sĩ ngôn từ.
Xác định khái niệm “thi pháp” Cho đến nay trong sách báo của ta từ “thi pháp” đã khá quen thuộc với đọc giả. Người ta nói đến thi pháp của tác giả này, tác giả kia, thi pháp thể loại này thể loại khác, thi pháp giai đoạn này, giai đoạn nọ… Thi pháp đang trở thành mối quan tâm của những người muốn đi sâu nghiên cứu văn học.5] Nhà nghiên cứu Rooman Giacốpxơn trong công trình Ngôn ngữ học và thi pháp học(1960) định nghĩa thi pháp là một bộ phận của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu “chức năng thơ của phát ngôn”, tức là nghiên cứu những cách thức làm cho phát ngôn trở thành lời thơ. Nhà nghiên cứu Pháp Ts. Tôdôrốp trong công trình Thi pháp học(1975) định nghĩa thi pháp là các qui tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra các tác phẩm văn học cụ thể.
Nói cụ thể hơn là nghiên cứu tính văn học, chất văn học của tác phẩm văn học nói chung.7] Theo tôi “thi pháp” là hệ thống các phương thức phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật, nó được xem như là những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật cụ thể, tạo thành đặc sắc nghệ thuật, của một tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu. Nghiên cứu thi pháp là nghiên cứu về hình thức được thể hiện bằng ngôn từ nghệ thuật như: kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp, quan niệm nghệ thuật về con người…đây là những vấn đề mà thi pháp sẽ đi sâu nghiên cứu. Về “Thi pháp học” 1. Khái niệm “Thi pháp học” Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm thi pháp học, theo nhà nghiên cứu Nga V.Girmunxki đã có thể định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học với tư cách là một nghệ thuật”(1923).V Vinôgrađốp xác định “ GVHD: Nguyễn Hoa Bằng SVTH: Dương Thị Thùy Trang 9 Thi pháp tập thơ Từ ấy của Tố Hữu Thi pháp học là một khoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, các kiểu cấu trúc, các thể loại tác phẩm nhằm nắm bắt…không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ văn học, mà còn là bản thân các phương diện hình tượng khác nhau nhất của cơ cấu tác phẩm văn học và sáng tác dân gian” ( Phong cách học, Lý luận ngôn từ văn học, Thi pháp học M.7] Theo Trần Đình sử thì hiện nay cũng khó tìm thấy được một định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận.
Tuy nhiên, có thể tán thành quan niệm tổng quát mà theo quan niệm cá nhân đó là định nghĩa gần với chân lý, như quan điểm của Khrapchencô. Theo tác giả , “ Nếu như không đòi hỏi một định nghĩa trọn vẹn, bao trùm được tất cả thì theo tôi, có thể xác định thi pháp học như là một môn khoa học nghiên cứu tất cả các phương thức, phương tiện thể hiện cuộc sống bằng hình tượng” [14, tr. Theo Từ điển thuật ngữ văn học,“thi pháp học” là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật.206] Năm 1923, nhà nghiên cứu Ngữ văn Nga, Girmunski đã định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn chương với tư cách là một nghệ thuật”.
M,Bkhatin tuyên bố nhiệm vụ của ông là “Khám phá nhà nghệ sĩ Đôstôievski trong sáng tác của Đôstôievski”. Năm 1960, nhà nghiên cứu R.