CHƯƠNG 1 GIỚI THUYET NHỮNG VAN DE CHUNG VE TIẾP CAN TÁC PHAM VAN HOC CHU HAN VA NGU PHAP HAN VAN Nam trong vùng lan toa của khu vực văn hóa đồng văn, Việt Nam cũng như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam có nhiều thuận lợi khi nghiên cứu và địch thuật các tác phâm tho chit Hán. Thời gian qua, Việt Nam cũng đã có không ít các công trình dé cập đến Hán văn Việt Nam nói chung và tác phẩm văn học chữ Hán nói riêng. Những công trình ấy đã góp phần quan trọng cho công tác nghiên cứu, giải thích thực thẻ Hán văn Việt Nam, cũng như bước đầu tìm ra những nét riêng biệt của đối tượng này, đồng thời đóng góp những góc nhìn mới, phương thức mới cho việc tiếp nhận và dién giải các tác pham văn học chữ Hán.1 Hán văn Việt Nam nhìn từ góc độ song ngữ Khái niệm “song ngữ” (bilingualism) được giải thích là “hign tượng có hai hay nhiều hơn hai ngôn ngữ được sử dung trong xã hội” (Hoàng Tuệ. 2009: 55); “Song ngữ (bilingualism): Trong xã hội học, hiện tượng sử dung hai (hay hơn hai) ngôn ngữ ở mot cá nhân hay ở một cộng dong ngôn ngữ.
có khi cũng gọi là đa ngữ (multilingualism)” (Diệp Quang Ban, 2010: 437); hay “Sự tinh thông hoàn hảo nhự nhau hai ngôn ngữ, sự nam vững hai ngôn ngữ được sử dung trong những điều kiện giao tiếp khác nhau, như ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ văn hoc”. Thông qua hai nẻo đường du nhập vào Việt Nam là con đường truyền khâu và con đường van tự chính thức thông qua giáo duc, chữ Hán đã giúp người Việt ta ghi chép thành văn những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến đời sống vật chat và tinh than của dân tộc mình. không thé phủ nhận rang, chữ Hán làm xuất hiện và trở thành phương tiện ghi chép, lưu trữ, góp nhặt những điều liên quan đến các lĩnh vực khác nhau trong đời sông như lịch sử, văn hóa, xã hội, giáo dục v. của nước ta.
Vào triều đại Tùy Đường (khoảng 581 - 907), vương triều phong kiến Trung Quốc thực hành chế độ khoa cử ở vùng Giao Chỉ, nhằm tuyên chọn và đào tạo lớp Nho sinh quan lại. Vua Đường cho mở rộng trường học ở “An Nam” dé truyền bá Nho giáo, Đạo giáo, thông qua các ki thi tuyển tiễn sĩ để chọn nhân tài. Chế độ khoa cử ấy đã kích thích II sự học hành dùi mài kinh sử của nhiêu thé hệ người Việt. Nhờ vào chế độ khoa cử ấy, việc học và day chữ Han đã trở thành nhu cầu thực sự trên vùng dat Giao Chi.
Chữ Hán từ chỗ chi bó hep trong phạm vi sử dụng của tang lớp si đại phu và quan trường, đã dan dan mở rộng ra trong dân gian. Tác giả Lê Dinh Khan, trong cuốn Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, cho rằng chính giai đoạn này “chữ Hán cùng với Nho giáo đã cắm rễ xuống vừng đất phía Nam này. Nó trở thành chữ viết chính thức của toàn bộ cu dan sống trên đất Giao Chỉ. Trên đất Giao Chỉ thời kì này đã có hiện tượng song ngữ, vừa sử dụng tiếng Việt, vừa sử dung tiếng Hán.
Nhưng chỉ có chữ Hán là chữ viết được sử dụng chính thức. Vì vậy, đứng về mặt lí luận tiếp xúc ngôn ngữ mà nói, thì đây là dot tiếp xúc quan trọng nhất giữa tiếng Việt và tiếng Han” (Lê Đình Khan, 2010: 39). Nó tạo một dau ấn sâu sắc nhất trong suốt quá trình lịch sử phát triển của tiếng Việt cho đến tận ngày nay. Kết quả của đợt tiếp xúc này là tiếng Việt đã thu nhận vào hệ thông từ vựng của mình một loạt từ và chữ Hán mà cho đến ngày nay vẫn có quan hệ đối ứng chặt chẽ cũng như tính hệ thong về âm đọc.
Đến sau năm 939, Việt Nam về cơ bản đã thoát khỏi ach đô hộ của phong kiến phương Bac, khiến cho tiếp xúc giữa người Việt và người Hán giảm sút. Tuy nhiên, văn hóa Hán vẫn được coi trọng bởi giai cấp phong kiến thống trị, và vì thế ngôn ngữ văn tự Hán luôn được xem là ngôn ngữ quan phương. Chữ Hán vẫn là một công cụ quan trọng dé ban bồ sắc lệnh, truyền bá tư tưởng và tin tức. Lực lượng tri thức vẫn sử dụng chữ Hán dé viết sách và làm thơ.
Cư như thé, chữ Hán đã thúc đây nền văn học cỗ điển Việt Nam phát triển và gặt được nhiều thành tựu to lớn. Ngôn ngữ văn tự Hán vào tiếng Việt được chọn lọc và đi theo khuynh hướng Việt hóa trén mọi phương điện như âm, nghĩa và pham vi sử dụng. Bên cạnh đó, cũng không thẻ phủ nhận chữ Hán đã có những hạn chế, tạo ra một số khó khăn nhất định cho việc học tập và sử dụng. Nếu chữ Hán khó nhận biết, khó viết, khó nhớ và cũng chưa thể chuyên chở hết lời ăn tiếng nói vốn phong phú, đa dạng của người Việt ta thì chữ Nôm ra đời được sử dụng ở mọi lĩnh vực đời sống, có khả năng chuyên tải đầy đủ mọi thông tin đến với người đọc.
Chính vì sự phân hóa sâu sắc trong cái nhìn của Nho gia cũng như giai cấp phong kiến, nên đã có sự phân cấp rõ rệt giữa Hán văn chính thống và văn tự Nôm. Sự ra đời của chữ Nôm là một mốc đánh dấu, một bước chuyền mình của ngôn ngữ dân tộc, trở thành loại văn tự kí âm đầu tiên, ghi lại lời ăn 12 tiếng nói dân tộc, mả trong đó đã du nhập lượng lớn ngôn ngữ gốc Hán có thê hình dung qua sơ đỏ sau đây: Từ vựng tiếng Việt Từ vựng vốn có Từ vựng vay mượn (bản ngữ) (ngoại lai) Việt (Kinh). | Gốc khác Mường. Thái, Môn — Khmer Tiếp xúc phương nett So dé thé hiện vị trí cua từ vựng gốc Han (don vi gốc Hán) trong hệ thông từ vựng tiéng Việt Khi nhận xét về van đề “Han văn Việt Nam dưới góc độ song ngữ”, tác giả Phạm Văn Khoai cho rằng “Việc day, học và sử dung ngôn ngữ thứ hai xét từ góc độ song ngữ tùy thuộc vào các nhân tổ gồm tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ cân học, can viet.
Hai điểm xuất phát này sẽ có ảnh hướng rat lớn đến việc xây dựng các văn bản của ngôn ngữ thứ hai được xây dựng trên nên liên ngữ này”. Tác gia cũng thé hiện sự tác động và liên kết đó, nếu xét các nhân tô ay trong môi trường song ngữ Việt — Hán thông qua sơ đồ sau: 13 Văn ngôn gỗc (Ngôn ngữ vay mượn) Hán văn Việt Nam Tiêng Việt (tiếng mẹ đẻ) Sơ đồ thể hiện không gian liên ngữ của song ngữ Việt - Hán (Phạm Văn Khoai, 1997) Sơ đỗ trên cho thấy yếu tô trong môi trường song ngừ Việt — Hán có các mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên không gian liên ngừữ. Không gian liên ngữ Việt — Han sẽ chi phối kha năng sử dụng chữ Hán của người Việt Nam ở tat cả các cấp độ (nhất là ở các cấp độ từ vựng. Co thé nói đấy là một không gian “động” chứ không “tinh”.
“Động” trong mỗi quan hệ giữa các yếu tô là quan hệ, là ảnh hưởng của tiếng Việt đối với tiếng Hán. Đồng thời, ở ngay bản thân mỗi một yếu tố cũng có tính động riêng của minh, bởi chúng là những thực thể ngôn ngữ rất đa dạng. Không hiểu “tinh động” ở từng yếu tô của phức thé các yếu tổ tạo nên không gian liên ngữ, chúng ta sẽ không hiểu những nét chuyên biệt của Hán văn ở từng thời ki, từng phong cách. Hán văn Việt Nam cũng biêu hiện “tinh động” ấy và có thể qua Hán văn Việt Nam, phan nào chúng ta còn biết được tình hình của Han văn nói chung, các tác pham văn học chữ Hán nói riêng.
Xét ở khía cạnh văn tự, rõ rang dù cho người Trung Quốc có thé đọc và hiéu được, nhưng bản thân Hán văn (văn ngôn) được dùng trong các bai thơ cô ở Trung Quốc va Việt Nam ngày trước đã có sự khác biệt rõ rệt với bạch thoại (văn tự mà Trung Quốc sử dụng hiện nay). Hon thế, không thé phủ nhận sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ đã xóa bỏ triệt dé mọi dau vết của Hán văn Việt Nam về mặt văn tự. Do đó, khi tiền hành đọc, tiếp cận một tác phâm l4 thơ chữ Hán, người Việt nhất thiết cần một bản phiên âm được ghi bằng chữ Quốc ngữ hoặc nghe qua một “kênh phiên dich” là âm đọc Hán Việt, mới có the năm được cơ bản nội dung văn bản. Trong phạm vì nghiên cứu, Hán văn ở góc độ song ngữ được đẻ cập đến là góc độ xem xét dựa trên sự khác biệt về mặt văn tự (thư điện ngữ) giữa chữ Hán và chữ quốc ngữ ~ một rào can cho người đọc, người học trong việc tiếp cận và diễn giải các tác phẩm văn học chữ Hán.
Nói cách khác, xem xét Han văn Việt Nam dưới góc độ song ngữ chính là tập trung xem xét, nghiên cứu các đối tượng là văn bản trong mối tương quan và sự đối chiếu giữa nguyên tác viết bằng chữ Hán, bản phiên âm Hán Việt và bản dịch nghĩa. Chính vì thế người đọc cân thiết phải được tiếp cận với văn bán gốc chứ không phải là các sản phẩm của dịch thuật. Và các sản pham của dich thuật nên được dùng như một công cụ đối chiếu, so sánh và tham khảo về một cách hiéu mang tính chú quan. Người đọc can làm việc trực tiếp với nguyên tac, dé hiểu nguyên tác và nói về nguyên tác chứ không phải là một sản phẩm nào khác.
Do đó, việc nghiên cứu Hán văn Việt Nam nói chung và tác phâm văn học chữ Han nói riêng từ góc độ song ngữ là điều đáng được chú trọng. Bởi tác phẩm văn học chữ Hán (sản phẩm của môi trường song ngữ) vừa phải tuân thủ những qui tắc nghiêm ngặt của văn ngôn. vừa phải chịu áp lực của hoàn cảnh ngôn ngữ nơi nói thê hiện và hành chức trong những điều kiện xã hội, cũng tức là ngôn ngữ Việt Nam trong suốt hai mươi thé ki qua.2 Về việc minh giải tác phẩm văn học chữ Hán Do vị trí địa lí và hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam từ lâu đã có sự tiếp xúc giao lưu với văn hóa Han. Có thé thay rõ dau ấn của sự tiếp xúc giao lưu nảy trên nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ và chữ viết, đấu ấn này lại càng đậm nét.
thê hiện ở kho tàng tác phẩm văn học chữ Han đỏ 86, lớp từ Hán Việt phong phú trong tiếng Việt.