đặt vấn đề phái tính, vấn đề văn học nữ nhƣng lại giải quyết bằng văn học viết về ngƣời nữ. Tác giả dùng khái niệm “văn học nữ tính” để chỉ ra những nguyên nhân, dấu hiệu cơ bản của âm hƣởng nữ quyền trong tác phẩm. Nhìn chung, bài viết khơi sâu nghiên cứu âm hƣởng nữ quyền trong văn học chứ chƣa chú trọng nhiều đến khái niệm phái tính. Tác giả kết luận: “Vấn đề phái tính và âm hƣởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tƣ tƣởng chung của 8 thời đại chứ chƣa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tƣ cách là ngƣời thiết tạo nên những tƣ tƣởng nghệ thuật riêng của mình” (Nguyễn Đăng Điệp, 2006).
Trong Văn học và giới nữ (2016, tr.406) của Phùng Gia Thế và Trần Thiện Khanh (biên soạn), Dƣơng Thị Thúy Hằng với bài viết “Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam sau 1975” đã cho rằng: “Ý thức về phái tính đồng nghĩa với việc ý thức về nhân vị cá nhân, bản thể, bản ngã của ngƣời phụ nữ đƣợc phát triển. Đó là khi họ từ giã những không gian rộng lớn, mang vóc dáng thời đại, trở về với ngôi nhà, với căn bếp, với hạnh phúc, mong mỏi nhỏ bé của phái nữ, với hạnh phúc và hi sinh, thiên chức và những ẩn ức thẳm sâu”. Đi sâu vào xem xét thể loại tự truyện, một thể loại vốn là thế mạnh của các nhà văn nữ cũng đã thu hút một số nhà nghiên cứu. Hồ Khánh Vân trong bài viết “Một vài lí giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt nam từ 1990 đến nay” đã biện giải nhƣ sau: “Trong quá trình tự thuật, ngƣời phụ nữ viết văn vừa bộc lộ và thể hiện bản thân, vừa sáng tạo ra chính mình thông qua thế giới hình tƣợng.
Tự thuật vừa là khởi nguồn, là chất liệu của sáng tạo, đồng thời cũng vừa là đích đến, là sản phẩm sinh ra từ hành trình sáng tạo ấy. Đây chính là phƣơng thức tự sự đặc trƣng, là mô thức tự sự gắn liền với hoạt động sáng tác của nữ giới” (Hồ Khánh Vân, 2012). Từ nhận định này tác giả đã chỉ ra đƣợc một vài nét đặc thù trong thể loại văn xuôi của nhà văn nữ. Khuynh hƣớng nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền thƣờng đƣợc tiến hành song song với nghiên cứu những biểu hiện phái tính trong văn học nữ.
Bởi vì cái gọi là nữ quyền luận trong văn học Việt Nam mới dừng lại ở những biểu hiện rải rác trong các sáng tác của những nhà văn, nhà thơ và đôi khi ngay cả trong bản thân họ, những biểu hiện của nữ quyền cũng không mấy thuần nhất. Tiếp nối phần bình luận về bài viết “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại” (2006) của Nguyễn Đăng Điệp ở phần trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã dùng cụm từ “âm hƣởng nữ quyền” mà không dùng “Chủ nghĩa nữ quyền” nhƣ một cách khẳng định ở Việt Nam, chƣa hẳn đã có một chủ nghĩa nữ quyền đầy đủ theo đúng ý nghĩa của nó. Tác giả khẳng định “âm hƣởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại và hậu hiện 9 đại”. Điều này đã đƣợc tiếp tục kế thừa và phát triển trong luận án “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” (2013) của Nguyễn Thị Thanh Xuân.
Đây là công trình có đối tƣợng nghiên cứu là sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu cho văn xuôi Việt Nam đƣơng đại từ cái nhìn của phái tính và âm hƣởng nữ quyền. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân đã cung cấp một cái nhìn khái quát về lý thuyết phê bình nữ quyền trên thế giới cũng nhƣ sự xuất hiện của nó trong văn học Việt Nam. Tiểu luận “Ý thức nữ quyền trong thơ đương đại” của Lƣu Khánh Thơ viết về thơ nữ đƣơng đại từ góc nhìn nữ quyền/giới tính. Tác giả nhận định “Việc tiếp nhận và ảnh hƣởng ý thức nữ quyền đã đem đến cho thơ nữ đƣơng đại những phẩm chất mới, một lối viết mới.
Họ không chỉ làm đẹp cho đời bằng chính thiên chức, bổn phận của mình mà còn bằng cả tiếng nói thơ ca riêng” (Nguyễn Thành và Hồ Thế Hà chủ biên, 2017, tr.539) Ngoài ra, ta còn bắt gặp“Dấu hiệu nữ quyền trong văn nữ Việt Nam” của Bùi Thị Thủy có hơi hƣớng tiếp bƣớc ý kiến của Nguyễn Đăng Điệp, “Phê bình văn học nữ quyền” của Lý Lan thể hiện góc nhìn lịch sử về các trào lƣu phê bình văn học nữ quyền thế giới, “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại” của Trần Huyền Sâm dẫn luận các khái niệm của các nhà nữ quyền Pháp: S. Irigaray nhằm nghiên cứu tinh thần nữ quyền của tiểu thuyết nữ Việt Nam đƣơng đại… Đứng trƣớc sự phong phú của nguồn tƣ liệu khảo sát, tôi nhận thấy càng ngày có khá nhiều công trình nghiên cứu là các luận án, luận văn chọn đề tài phái tính trong thơ làm đối tƣợng khai phá. Tiêu biểu nhƣ: Các luận văn: “Tư duy thơ nữ sau 1975” (2005) của Hoàng Thùy Linh phác họa lại dòng thơ nữ sau 1975 đậm đà chất nữ tính phong phú, mạnh mẽ; “Phái tính trong thơ nữ sau 1975” (2007) của Nguyễn Ngọc Thùy Anh khảo sát những sáng tác của các nhà thơ nữ sau 1975, phác họa diện mạo chung của thơ nữ hiện đại; “Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đương đại” (2018) của Nguyễn Thị Thuận làm rõ những biểu hiện của ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đƣơng đại ở hai phƣơng diện nội dung và nghệ thuật; “Về một đặc 10 điểm tư duy thơ nữ gần đây: Ý thức phái tính (Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh)” (2009) của Nguyễn Thị Hồng Giang chỉ ra đặc điểm trong thơ nữ qua các tác phẩm của ba nhà thơ mà tác giả khảo sát, tiếp nhận thơ nữ từ góc nhìn về một đặc điểm tƣ duy của họ sẽ cho thấy những khát vọng hạnh phúc, khát khao giải phóng của phái nữ; “Ý thức phái tính trong thơ nữ đương đại (Khảo sát qua hai tác giả Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên)” (2016) của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng đã đi sâu vào tìm hiểu sáng tác của hai nhà thơ Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên, bƣớc đầu nhìn nhận một trong những đặc điểm tiêu biểu của thơ nữ Việt Nam sau 1975: viết với ý thức của một ngƣời nữ. Các luận án: “Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới căn bản” (2015) của Đặng Thu Thủy đã chỉ ra một số đặc điểm đổi mới cơ bản trong thơ ca Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay dựa trên các phƣơng diện đổi mới quan niệm, cảm hứng và một số hình thức nghệ thuật; “Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới” (2019) của Hồ Tiểu Ngọc đã lý giải những cơ sở lịch sử, xã hội, văn hóa của ý thức giới/phái tính/ và âm hƣởng nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam 1986-2015, từ đó chỉ ra ý nghĩa chúng trong tiến trình dân chủ hóa xã hội và văn học, thấy đƣợc đóng góp của các nhà thơ nữ vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam từ góc nhìn giới và lối viết nữ; “Ý thức nữ quyền và thơ nữ Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay” (2019) của Nguyễn Thị Hƣởng đi sâu nghiên cứu các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay và một số phƣơng thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ vào giai đoạn đó.
Tựu trung lại, các kiến giải trên là những gợi mở cần thiết và hữu ích để tôi có thể tìm hiểu thêm về ý thức phái tính trong thơ nữ. Theo dòng chảy của thời gian, vấn đề ý thức phái tính trong văn học đã dần đƣợc quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng khoảng trống của vấn đề còn rất lớn. Và văn học cần thêm nhiều hạt giống mới, thanh âm mới để đóng góp vào những khoảng vùng còn đang bị bỏ hoang ấy.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông Nam Bộ 2.1 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông 11 Nam Bộ nói chung Tính đến thời điểm hiện nay, số lƣợng các bài viết nghiên cứu riêng về mảng thơ nữ ở Đông Nam Bộ vẫn còn ít, đặc biệt nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ dƣới góc nhìn tổng quát lại hiếm hoi hơn, nếu có nhắc đến, đa phần chỉ mang tính chất điểm qua tên tuổi một số tác giả nữ, trào lƣu sáng tác, hiện tƣợng nổi cộm, xuất hiện rải rác trong các chuyên luận lớn nghiên cứu chung về thơ ca Nam Bộ hoặc thơ ca đƣơng đại.
Vì vậy, để thấy xuất phát điểm của thơ nữ Đông Nam Bộ, ta cần khái quát đôi dòng về văn học Nam Bộ. Và để đánh giá thơ nữ Đông Nam Bộ, ta cần có sự góp nhặt từ các nghiên cứu của những công trình khác có phạm vi rộng lớn hơn. Nhƣ ta biết, văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết. Từ năm 1932 trở đi, văn học có nhiều dấu hiệu khởi sắc với hai đòn bẩy lớn.
Thứ nhất là phong trào Thơ mới đƣợc mở ra từ tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn do Phan Khôi và nữ sĩ Manh Manh chủ trì. Thứ hai là nhóm Tự lực văn đoàn đƣợc thành lập ở Hà Nội do Nhất Linh, Khái Hƣng đứng đầu. Trong giai đoạn 1932-1945, thơ nữ Nam Bộ ghi dấu bởi sự góp mặt của nhóm Phụ nữ tân văn (Nguyễn Thị Kiêm, Vân Đài,…); nhóm Hà Tiên (nữ sĩ Mộng Tuyết,…). Đây cũng là giai đoạn xuất hiện các cây bút nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp nhƣ: Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế, Trúc Hà, Phan Văn Hùm, Ca Văn Thỉnh,… Kiều Thanh Quế trong quyển Đàn bà và nhà văn (2011) đã khẳng định sự tồn tại của những bóng hồng trong văn chƣơng: “Địa vị ngƣời đàn bà trong văn chƣơng kể cũng to tát thay.
Những bài thơ ít đƣợc ngâm ngợi, có lẽ là những bài thơ thiếu hẳn cái hơi hƣớm của một ngƣời đàn bà. Những cuốn tiểu thuyết kém độc giả nhất dễ thƣờng là những cuốn không đả động đến ngƣời đàn bà. Cho nên trong văn chƣơng Đông - Tây, đâu đâu cũng có ít nhiều bƣớc kinh qua của ngƣời đàn bà”.