Nghiên Cứu Ý Thức Phái Tính Trong Thơ Nữ Đông Nam Bộ Từ Năm 2010 Đến Năm 2020

Khám phá ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn 2010-2020, phân tích sự phát triển và ảnh hưởng văn hóa trong tác phẩm.

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

154
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

ỜI CAM ĐOAN

ỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.2.1. Các công trình nghiên cứu về phái tính

0.2.2. Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông Nam Bộ

0.2.2.1. Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông Nam Bộ nói chung
0.2.2.2. Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về từng nhà thơ nữ Đông Nam Bộ

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4.1. Đối tượng nghiên cứu

0.4.2. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020

1.1. Giới thuyết về phái tính và nữ quyền

1.2. Ý thức phái tính

1.2.1. Ý thức nữ quyền

1.2.2. Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam từ trung đại đến hiện đại

1.2.2.1. Ý thức phái tính trong thơ nữ trung đại
1.2.2.2. Ý thức phái tính trong thơ nữ hiện đại

1.3. Quá trình phát triển ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ đương đại. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000

1.4. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2020

2. BIỂU HIỆN Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020

2.1. Ý thức về cái tôi bản thể

2.1.1. Ý thức về vẻ đẹp nữ tính

2.1.2. Ý thức về vẻ đẹp cá tính

2.1.3. Ý thức thân thể

2.1.4. Ý thức về thiên chức làm mẹ

2.2. Ý thức về tình yêu

2.2.1. Khát khao yêu thương mãnh liệt, cháy bỏng

2.2.2. Mạnh mẽ đối diện với cô đơn, đau khổ, bất hạnh

2.2.3. Khát vọng giải phóng tính dục khỏi những ràng buộc

3. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020

3.1. Hệ thống biểu tượng mang tính nữ

3.1.1. Biểu tượng Đất và các biến thể của Đất

3.1.2. Biểu tượng Nước và các biến thể của Nước

3.1.3. Biểu tượng bóng Đêm và các biến thể của Đêm

3.2. Ý thức phái tính và giọng điệu

3.2.1. Giọng tha thiết, tâm tình

3.2.2. Giọng hoài nghi, cô đơn

3.2.3. Giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ

3.2.4. Giọng giễu nhại

3.2.5. Giọng vô âm sắc

3.3. Ý thức phái tính và ngôn ngữ

3.3.1. Ngôn ngữ thơ giàu nữ tính

3.3.2. Ngôn ngữ mang tính "phồn thực"

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ý Thức Phái Tính Trong Thơ Nữ Đông Nam Bộ

Nghiên cứu ý thức phái tính trong thơ nữ là một dấu hiệu của quá trình dân chủ hóa và bình đẳng giới. Đông Nam Bộ, với sự phát triển kinh tế và xã hội, tạo điều kiện cho sự bùng nổ của thơ nữ với những giọng điệu mới, phá vỡ hệ thẩm mỹ truyền thống. Việc nghiên cứu giai đoạn 2010-2020 là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, bổ sung thêm góc nhìn mới về thơ nữ đương đại Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đông Nam Bộ. Nghiên cứu này hy vọng chỉ ra những đóng góp riêng biệt của các nhà thơ nữ trong việc diễn đạt tinh thần thời đại, khẳng định vị thế cá nhân trong văn chương. Thơ nữ cần sự quan tâm, tri ân, đồng cảm và công nhận khoa học đối với sự sáng tạo của các nhà thơ.

1.1. Bối Cảnh Văn Hóa và Xã Hội Ảnh Hưởng Thơ Nữ

Đông Nam Bộ, từ “miền Đông gian lao mà anh dũng”, nay là đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa của cả nước và quốc tế. Sự phát triển này kéo theo nhiều đổi khác về tư duy, thị hiếu, tạo điều kiện cho thơ nữ phát triển mạnh mẽ. Sự bùng nổ của văn chương mạng cũng góp phần đưa thơ ca đến gần hơn với công chúng. Nghiên cứu về thơ ca Đông Nam Bộ là một lĩnh vực hấp dẫn cho những nhà nghiên cứu phê bình trẻ.

1.2. Sự Trỗi Dậy của Tiếng Nói Phái Tính Trong Thơ

Ngày nay, quan niệm “Văn chương không phải là nơi cho một người phụ nữ luận bàn” đã lỗi thời. Những người phụ nữ đã kiêu hãnh thể hiện tài năng của mình trên văn đàn, với phong cách đa dạng. Họ không ngại ngần gửi gắm tâm sự thầm kín vào thơ, dùng thơ để mưu cầu hạnh phúc, bày tỏ cảm xúc, thể hiện cách nhìn về cuộc sống. Tiếng nói phái tính trỗi dậy mạnh mẽ như một nhu cầu tất yếu.

II. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Ý Thức Phái Tính Trong Văn Học

Vấn đề giới tính và lý thuyết nữ quyền đã thâm nhập vào văn học Việt Nam từ lâu, nhưng chưa nhận được sự quan tâm sâu sắc ở góc độ học thuật. Mãi đến đầu thế kỷ XX, mới xuất hiện các bài viết chuyên luận về vấn đề này. Lịch sử nghiên cứu về phái tính trong giới lý luận phê bình văn học Việt Nam có thể chia làm ba giai đoạn: từ đầu thế kỷ XX đến 1998, từ 1999 đến 2005, và từ 2006 đến nay. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm và đóng góp riêng.

2.1. Giai Đoạn Đầu Ý Thức Nữ Quyền Sơ Khai

Giai đoạn đầu thế kỷ XX chứng kiến sự ý thức của các “nữ sĩ tiên phong cổ súy phong trào nữ quyền qua hoạt động báo chí và văn học” như Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân, Đạm Phương nữ sử, Hằng Phương,… Đặc biệt, Phan Khôi mở chuyên mục Văn học với nữ tánh trên tờ Phụ nữ tân văn, đưa người phụ nữ trở thành trung tâm của cuộc bàn luận văn chương. Phan Khôi nhận ra mối liên đới đặc biệt giữa phụ nữ và văn học, cho rằng phụ nữ có những tính cách phù hợp với văn học.

2.2. Giai Đoạn Bùng Nổ Tiếp Xúc Với Lý Thuyết Nữ Quyền

Giai đoạn thứ hai được xem là “giai đoạn bùng nổ” của phê bình nữ quyền ở Việt Nam, do sự tiếp xúc với chủ thuyết nữ quyền và sự phát triển của văn học hải ngoại. Các chuyên đề về “Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học”, “Văn học nữ quyền”, “Giới tính”,… xuất hiện trên các trang báo điện tử. Luận án của Hồ Tiểu Ngọc (2019) đề cập đến các bài viết của Nguyễn Hưng Quốc, chỉ ra sự cần thiết giải phóng phụ nữ về ngôn ngữ, chống lại sự nam hóa trong ngôn ngữ.

2.3. Giai Đoạn Hiện Đại Nghiên Cứu Đa Dạng và Phong Phú

Từ năm 2006, nghiên cứu về văn học nữ giới khởi sắc với sự xuất hiện ngày càng nhiều các nghiên cứu về phái tính trong văn học nữ, đa dạng và phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng. Các bài viết được phân loại thành ba khuynh hướng chính: nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex; nghiên cứu văn học nữ thiên về nữ tính/thiên tính nữ; nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền.

III. Biểu Hiện Ý Thức Phái Tính Trong Thơ Nữ Đông Nam Bộ

Thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn 2010-2020 thể hiện rõ ý thức phái tính qua nhiều khía cạnh. Đó là ý thức về cái tôi bản thể, bao gồm ý thức về vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp cá tính và ý thức về thân thể. Bên cạnh đó, còn có ý thức về thiên chức làm mẹ và ý thức về tình yêu, thể hiện qua khát khao yêu thương mãnh liệt, sự mạnh mẽ đối diện với cô đơn, đau khổ và khát vọng giải phóng tính dục khỏi những ràng buộc.

3.1. Ý Thức Về Cái Tôi Bản Thể Trong Thơ Nữ

Ý thức về cái tôi bản thể là một trong những biểu hiện quan trọng của ý thức phái tính trong thơ nữ. Các nhà thơ nữ thể hiện sự tự nhận thức về bản thân, về vẻ đẹp riêng có của người phụ nữ, không chỉ là vẻ đẹp hình thể mà còn là vẻ đẹp tâm hồn, cá tính. Họ không ngần ngại bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc cá nhân, khẳng định sự độc lập và tự chủ trong cuộc sống.

3.2. Ý Thức Về Thiên Chức Làm Mẹ và Tình Yêu

Thiên chức làm mẹtình yêu là hai chủ đề lớn được khai thác trong thơ nữ Đông Nam Bộ. Các nhà thơ nữ thể hiện tình yêu thương con cái, sự hy sinh và trách nhiệm của người mẹ. Đồng thời, họ cũng bày tỏ những khát khao, mong muốn trong tình yêu, sự đấu tranh để có được hạnh phúc và tự do trong mối quan hệ.

IV. Phương Thức Nghệ Thuật Thể Hiện Ý Thức Phái Tính Trong Thơ

Các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ sử dụng nhiều phương thức nghệ thuật để thể hiện ý thức phái tính trong thơ. Hệ thống biểu tượng mang tính nữ như Đất, Nước, Đêm được sử dụng một cách sáng tạo. Giọng điệu thơ đa dạng, từ tha thiết, tâm tình đến hoài nghi, cô đơn, nồng nhiệt, mạnh mẽ, giễu nhại, vô âm sắc. Ngôn ngữ thơ giàu nữ tính, mang tính "phồn thực", thể hiện sự nhạy cảm và tinh tế của người phụ nữ.

4.1. Hệ Thống Biểu Tượng Mang Tính Nữ Trong Thơ

Hệ thống biểu tượng mang tính nữ đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện ý thức phái tính. Các biểu tượng như Đất, Nước, Đêm không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho những phẩm chất, đặc trưng của người phụ nữ như sự sinh sôi, nuôi dưỡng, dịu dàng, bí ẩn.

4.2. Giọng Điệu và Ngôn Ngữ Thơ Thể Hiện Phái Tính

Giọng điệungôn ngữ thơ là những yếu tố quan trọng góp phần thể hiện ý thức phái tính. Giọng điệu thơ đa dạng, thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau của người phụ nữ. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà thơ.

V. Ảnh Hưởng Của Thơ Nữ Đông Nam Bộ Đến Văn Học Việt Nam

Thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn 2010-2020 có những đóng góp quan trọng vào văn học Việt Nam. Nó góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của người phụ nữ trong văn chương, khẳng định vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Đồng thời, nó cũng mở ra những hướng đi mới cho nghiên cứu về văn học nữ quyền ở Việt Nam.

5.1. Đóng Góp Vào Sự Phát Triển Của Văn Học Nữ Quyền

Thơ nữ Đông Nam Bộ góp phần vào sự phát triển của văn học nữ quyền bằng cách thể hiện những khát vọng, mong muốn của người phụ nữ về sự bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Nó cũng phản ánh những vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề giới.

5.2. Mở Ra Hướng Nghiên Cứu Mới Về Thơ Nữ

Nghiên cứu về thơ nữ Đông Nam Bộ mở ra những hướng nghiên cứu mới về thơ nữ nói chung, đặc biệt là về ý thức phái tính và những vấn đề liên quan đến giới. Nó cũng khuyến khích các nhà nghiên cứu trẻ quan tâm hơn đến lĩnh vực này, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.

VI. Kết Luận Ý Thức Phái Tính và Tương Lai Thơ Nữ

Nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn 2010-2020 cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của tiếng nói nữ giới trong văn chương. Các nhà thơ nữ đã không ngừng khẳng định bản thân, thể hiện những khát vọng và mong muốn của mình. Trong tương lai, thơ nữ hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển, đóng góp vào sự đa dạng và phong phú của văn học Việt Nam.

6.1. Tiềm Năng Phát Triển Của Thơ Nữ Trong Tương Lai

Thơ nữ có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, khi xã hội ngày càng cởi mở và bình đẳng hơn. Các nhà thơ nữ sẽ có nhiều cơ hội hơn để thể hiện bản thân, đóng góp vào sự phát triển của văn học và xã hội.

6.2. Vai Trò Của Nghiên Cứu Trong Việc Khuyến Khích Thơ Nữ

Nghiên cứu về thơ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự phát triển của thơ nữ. Nó giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của thơ nữ, tạo điều kiện cho các nhà thơ nữ được công nhận và tôn trọng.

06/06/2025
Ý thức phái tính trong thơ nữ đông nam bộ từ 2010 đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phái tính, vấn đề văn học nữ nhƣng lại giải quyết bằng văn học viết về ngƣời nữ. Tác giả dùng khái niệm “văn học nữ tính” để chỉ ra những nguyên nhân, dấu hiệu cơ bản của âm hƣởng nữ quyền trong tác phẩm. Nhìn chung, bài viết khơi sâu nghiên cứu âm hƣởng nữ quyền trong văn học chứ chƣa chú trọng nhiều đến khái niệm phái tính. Tác giả kết luận: “Vấn đề phái tính và âm hƣởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tƣ tƣởng chung của 8 thời đại chứ chƣa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tƣ cách là ngƣời thiết tạo nên những tƣ tƣởng nghệ thuật riêng của mình” (Nguyễn Đăng Điệp, 2006).

Trong Văn học và giới nữ (2016, tr.406) của Phùng Gia Thế và Trần Thiện Khanh (biên soạn), Dƣơng Thị Thúy Hằng với bài viết “Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam sau 1975” đã cho rằng: “Ý thức về phái tính đồng nghĩa với việc ý thức về nhân vị cá nhân, bản thể, bản ngã của ngƣời phụ nữ đƣợc phát triển. Đó là khi họ từ giã những không gian rộng lớn, mang vóc dáng thời đại, trở về với ngôi nhà, với căn bếp, với hạnh phúc, mong mỏi nhỏ bé của phái nữ, với hạnh phúc và hi sinh, thiên chức và những ẩn ức thẳm sâu”. Đi sâu vào xem xét thể loại tự truyện, một thể loại vốn là thế mạnh của các nhà văn nữ cũng đã thu hút một số nhà nghiên cứu. Hồ Khánh Vân trong bài viết “Một vài lí giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt nam từ 1990 đến nay” đã biện giải nhƣ sau: “Trong quá trình tự thuật, ngƣời phụ nữ viết văn vừa bộc lộ và thể hiện bản thân, vừa sáng tạo ra chính mình thông qua thế giới hình tƣợng.

Tự thuật vừa là khởi nguồn, là chất liệu của sáng tạo, đồng thời cũng vừa là đích đến, là sản phẩm sinh ra từ hành trình sáng tạo ấy. Đây chính là phƣơng thức tự sự đặc trƣng, là mô thức tự sự gắn liền với hoạt động sáng tác của nữ giới” (Hồ Khánh Vân, 2012). Từ nhận định này tác giả đã chỉ ra đƣợc một vài nét đặc thù trong thể loại văn xuôi của nhà văn nữ. Khuynh hƣớng nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền thƣờng đƣợc tiến hành song song với nghiên cứu những biểu hiện phái tính trong văn học nữ.

Bởi vì cái gọi là nữ quyền luận trong văn học Việt Nam mới dừng lại ở những biểu hiện rải rác trong các sáng tác của những nhà văn, nhà thơ và đôi khi ngay cả trong bản thân họ, những biểu hiện của nữ quyền cũng không mấy thuần nhất. Tiếp nối phần bình luận về bài viết “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại” (2006) của Nguyễn Đăng Điệp ở phần trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã dùng cụm từ “âm hƣởng nữ quyền” mà không dùng “Chủ nghĩa nữ quyền” nhƣ một cách khẳng định ở Việt Nam, chƣa hẳn đã có một chủ nghĩa nữ quyền đầy đủ theo đúng ý nghĩa của nó. Tác giả khẳng định “âm hƣởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại và hậu hiện 9 đại”. Điều này đã đƣợc tiếp tục kế thừa và phát triển trong luận án “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” (2013) của Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Đây là công trình có đối tƣợng nghiên cứu là sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu cho văn xuôi Việt Nam đƣơng đại từ cái nhìn của phái tính và âm hƣởng nữ quyền. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân đã cung cấp một cái nhìn khái quát về lý thuyết phê bình nữ quyền trên thế giới cũng nhƣ sự xuất hiện của nó trong văn học Việt Nam. Tiểu luận “Ý thức nữ quyền trong thơ đương đại” của Lƣu Khánh Thơ viết về thơ nữ đƣơng đại từ góc nhìn nữ quyền/giới tính. Tác giả nhận định “Việc tiếp nhận và ảnh hƣởng ý thức nữ quyền đã đem đến cho thơ nữ đƣơng đại những phẩm chất mới, một lối viết mới.

Họ không chỉ làm đẹp cho đời bằng chính thiên chức, bổn phận của mình mà còn bằng cả tiếng nói thơ ca riêng” (Nguyễn Thành và Hồ Thế Hà chủ biên, 2017, tr.539) Ngoài ra, ta còn bắt gặp“Dấu hiệu nữ quyền trong văn nữ Việt Nam” của Bùi Thị Thủy có hơi hƣớng tiếp bƣớc ý kiến của Nguyễn Đăng Điệp, “Phê bình văn học nữ quyền” của Lý Lan thể hiện góc nhìn lịch sử về các trào lƣu phê bình văn học nữ quyền thế giới, “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại” của Trần Huyền Sâm dẫn luận các khái niệm của các nhà nữ quyền Pháp: S. Irigaray nhằm nghiên cứu tinh thần nữ quyền của tiểu thuyết nữ Việt Nam đƣơng đại… Đứng trƣớc sự phong phú của nguồn tƣ liệu khảo sát, tôi nhận thấy càng ngày có khá nhiều công trình nghiên cứu là các luận án, luận văn chọn đề tài phái tính trong thơ làm đối tƣợng khai phá. Tiêu biểu nhƣ: Các luận văn: “Tư duy thơ nữ sau 1975” (2005) của Hoàng Thùy Linh phác họa lại dòng thơ nữ sau 1975 đậm đà chất nữ tính phong phú, mạnh mẽ; “Phái tính trong thơ nữ sau 1975” (2007) của Nguyễn Ngọc Thùy Anh khảo sát những sáng tác của các nhà thơ nữ sau 1975, phác họa diện mạo chung của thơ nữ hiện đại; “Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đương đại” (2018) của Nguyễn Thị Thuận làm rõ những biểu hiện của ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đƣơng đại ở hai phƣơng diện nội dung và nghệ thuật; “Về một đặc 10 điểm tư duy thơ nữ gần đây: Ý thức phái tính (Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh)” (2009) của Nguyễn Thị Hồng Giang chỉ ra đặc điểm trong thơ nữ qua các tác phẩm của ba nhà thơ mà tác giả khảo sát, tiếp nhận thơ nữ từ góc nhìn về một đặc điểm tƣ duy của họ sẽ cho thấy những khát vọng hạnh phúc, khát khao giải phóng của phái nữ; “Ý thức phái tính trong thơ nữ đương đại (Khảo sát qua hai tác giả Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên)” (2016) của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng đã đi sâu vào tìm hiểu sáng tác của hai nhà thơ Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên, bƣớc đầu nhìn nhận một trong những đặc điểm tiêu biểu của thơ nữ Việt Nam sau 1975: viết với ý thức của một ngƣời nữ. Các luận án: “Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới căn bản” (2015) của Đặng Thu Thủy đã chỉ ra một số đặc điểm đổi mới cơ bản trong thơ ca Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay dựa trên các phƣơng diện đổi mới quan niệm, cảm hứng và một số hình thức nghệ thuật; “Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới” (2019) của Hồ Tiểu Ngọc đã lý giải những cơ sở lịch sử, xã hội, văn hóa của ý thức giới/phái tính/ và âm hƣởng nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam 1986-2015, từ đó chỉ ra ý nghĩa chúng trong tiến trình dân chủ hóa xã hội và văn học, thấy đƣợc đóng góp của các nhà thơ nữ vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam từ góc nhìn giới và lối viết nữ; “Ý thức nữ quyền và thơ nữ Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay” (2019) của Nguyễn Thị Hƣởng đi sâu nghiên cứu các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay và một số phƣơng thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ vào giai đoạn đó.

Tựu trung lại, các kiến giải trên là những gợi mở cần thiết và hữu ích để tôi có thể tìm hiểu thêm về ý thức phái tính trong thơ nữ. Theo dòng chảy của thời gian, vấn đề ý thức phái tính trong văn học đã dần đƣợc quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng khoảng trống của vấn đề còn rất lớn. Và văn học cần thêm nhiều hạt giống mới, thanh âm mới để đóng góp vào những khoảng vùng còn đang bị bỏ hoang ấy.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông Nam Bộ 2.1 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông 11 Nam Bộ nói chung Tính đến thời điểm hiện nay, số lƣợng các bài viết nghiên cứu riêng về mảng thơ nữ ở Đông Nam Bộ vẫn còn ít, đặc biệt nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ dƣới góc nhìn tổng quát lại hiếm hoi hơn, nếu có nhắc đến, đa phần chỉ mang tính chất điểm qua tên tuổi một số tác giả nữ, trào lƣu sáng tác, hiện tƣợng nổi cộm, xuất hiện rải rác trong các chuyên luận lớn nghiên cứu chung về thơ ca Nam Bộ hoặc thơ ca đƣơng đại.

Vì vậy, để thấy xuất phát điểm của thơ nữ Đông Nam Bộ, ta cần khái quát đôi dòng về văn học Nam Bộ. Và để đánh giá thơ nữ Đông Nam Bộ, ta cần có sự góp nhặt từ các nghiên cứu của những công trình khác có phạm vi rộng lớn hơn. Nhƣ ta biết, văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết. Từ năm 1932 trở đi, văn học có nhiều dấu hiệu khởi sắc với hai đòn bẩy lớn.

Thứ nhất là phong trào Thơ mới đƣợc mở ra từ tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn do Phan Khôi và nữ sĩ Manh Manh chủ trì. Thứ hai là nhóm Tự lực văn đoàn đƣợc thành lập ở Hà Nội do Nhất Linh, Khái Hƣng đứng đầu. Trong giai đoạn 1932-1945, thơ nữ Nam Bộ ghi dấu bởi sự góp mặt của nhóm Phụ nữ tân văn (Nguyễn Thị Kiêm, Vân Đài,…); nhóm Hà Tiên (nữ sĩ Mộng Tuyết,…). Đây cũng là giai đoạn xuất hiện các cây bút nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp nhƣ: Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế, Trúc Hà, Phan Văn Hùm, Ca Văn Thỉnh,… Kiều Thanh Quế trong quyển Đàn bà và nhà văn (2011) đã khẳng định sự tồn tại của những bóng hồng trong văn chƣơng: “Địa vị ngƣời đàn bà trong văn chƣơng kể cũng to tát thay.

Những bài thơ ít đƣợc ngâm ngợi, có lẽ là những bài thơ thiếu hẳn cái hơi hƣớm của một ngƣời đàn bà. Những cuốn tiểu thuyết kém độc giả nhất dễ thƣờng là những cuốn không đả động đến ngƣời đàn bà. Cho nên trong văn chƣơng Đông - Tây, đâu đâu cũng có ít nhiều bƣớc kinh qua của ngƣời đàn bà”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ý Thức Phái Tính Trong Thơ Nữ Đông Nam Bộ (2010-2020)" khám phá những khía cạnh sâu sắc về ý thức phái tính trong thơ ca của các nhà thơ nữ tại khu vực Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2010-2020. Tác phẩm không chỉ phân tích các chủ đề và hình ảnh mà còn làm nổi bật cách mà các nhà thơ nữ thể hiện bản sắc và tiếng nói của mình trong bối cảnh văn hóa và xã hội hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về vai trò của phụ nữ trong văn học, cũng như cách mà thơ ca có thể phản ánh và định hình nhận thức về giới tính.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại luận án ts ngôn ngữ và văn hoá việt nam 60 22 01, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ văn học thơ trên báo nhân dân và tập san giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách mà thơ ca được thể hiện qua các phương tiện truyền thông. Cuối cùng, tài liệu Hình ảnh người phụ nữ trong thơ của các tác giả nam thời trung đại sẽ mang đến một cái nhìn so sánh thú vị về hình ảnh người phụ nữ trong thơ ca qua các thời kỳ khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về vai trò của phái tính trong văn học.