Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Ở chương này, chúng tôi trình bày một số vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho những chương sau. Đó là bối cảnh thời trung đại về tư tưởng, văn hóa, xã hội có 8 những ảnh hưởng nhất định đến đời sống của người phụ nữ đương thời; ảnh hưởng đến đặc điểm thơ ca với đề tài, cảm hứng cũng như nghệ thuật biểu hiện. HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CỦA CÁC TÁC GIẢ NAM THỜI TRUNG ĐẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG Trong chương 2, chúng tôi khảo sát và giới thiệu những hình ảnh, những kiểu nhân vật nữ xuất hiện trong thơ ca các tác giả nam và làm rõ hình ảnh người nữ hiện lên dưới cái nhìn của các tác giả.
HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CỦA CÁC TÁC GIẢ NAM THỜI TRUNG ĐẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT Chương này chúng tôi sẽ tìm hiểu những phương thức nghệ thuật mà các nhà thơ nam đã sử dụng để khắc họa hình ảnh người phụ nữ trong thơ của mình từ cách xây dựng hình ảnh, biểu đạt ngôn từ đến cách thể hiện giọng điệu. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội thời trung đại 1. Bối cảnh chung về tư tưởng, văn hóa, đời sống xã hội thời trung đại Văn học trung đại Việt Nam đóng một vai trò đặc biệt quan trọng bởi suốt hàng nghìn năm phát triển, nó đã phản ánh được những vấn đề của đất nước, của con người Việt Nam.
Không chỉ có thế, nó còn là ý thức của người Việt về tổ quốc, về dân tộc. Trong quá trình vận động và phát triển của mình, mười thế kỷ văn học trung đại cũng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của những yếu tố tư tưởng, văn hóa cũng như đời sống xã hội thời kỳ ấy. Tín ngưỡng nguyên thủy của nước ta là tín ngưỡng Thờ Mẫu (đạo thờ Thánh Mẫu - bà Chúa Liễu Hạnh). Từ thế kỷ XVI, tín ngưỡng này đã trở thành một sinh hoạt văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống con người.
Thờ cúng Thánh Mẫu, biểu tượng người mẹ tối linh góp phần đề cao giá trị, vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội Việt Nam. Trong những năm gần đây, đạo thờ Thánh Mẫu đã được phục hồi và nhắc tới nhiều. Đây là một tín ngưỡng thuần Việt vô cùng đặc sắc, mang một tín lý tinh tế giản dị, sâu sắc dung hòa giữa Phật giáo Ấn Độ, Đạo giáo Trung Hoa vào tục thờ thần thánh đậm đà tính bản địa của dân tộc ta. Vì thế mà không phải ngẫu nhiên vào ngày 01/12/2016, UNESCO đã chính thức công nhận "Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Ngoài ra, dân tộc Việt Nam ta còn có tín ngưỡng vật linh và nhất là thờ cúng ông bà tổ tiên. Với quan niệm vạn vật hữu linh, tất cả mọi vật đều có linh hồn nên người ta đã thờ các hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, mây, mưa.; các loài động vật như chim, rắn, cá, voi.; hay các loài thực vật, cây cỏ.Chẳng hạn như ngư dân vùng biển thờ cá voi để mong được che chở trước bão giông, sóng gió. Niềm tin rằng con người sau khi chết sẽ về với ông bà tổ tiên nơi chín suối và các ngài vẫn đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu đang vất vả mưu sinh nơi trần gian chính là cơ sở hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên. Với hầu hết người Việt, gia đình dòng họ là vô cùng quan trọng nên tín ngưỡng thờ kính tổ tiên có thể coi gần 10 như là "quốc đạo", ngay cả những người không tin có thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà của họ.
Bên cạnh những tín ngưỡng nguyên thủy đó thì những cơ sở tư tưởng Việt cũng đã sớm được hình thành từ thời dựng nước, đó là tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân văn, nhân đạo; ngoài ra còn có những quan điểm thẩm mĩ đã ăn sâu thấm đượm trong tâm tư người Việt. Những cơ sở tư tưởng này phát triển dần theo thời gian, trải qua thời kỳ lịch sử trung đại mười thế kỷ và trong suốt thời gian này, nó đã tồn tại trong cộng đồng nông thôn, được chính nhân dân gìn giữ, lưu truyền để trở thành truyền thống dân tộc và đi vào trong các sáng tác của những nhà văn, nhà thơ với nhiều cách thức, sắc thái khác nhau. Yêu nước là một tư tưởng mang giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nó đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước với sức sống mãnh liệt; là sức mạnh to lớn của dân tộc ta; là động lực tinh thần chủ yếu tạo nên tâm hồn, bản lĩnh và trí tuệ của các thế hệ người Việt Nam.
Lòng yêu nước của dân tộc ta được hình thành và lớn dần qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Qủa vậy, Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết trong Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam: “. Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, ở đây bản chất Việt Nam biểu lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ chỗ nào khác. Yêu nước thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam”.
Nó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi người dân qua mọi thời đại, làm nên lịch sử oai hùng, giúp cho dân tộc ta đánh thắng mọi thù trong giặc ngoài cho dù chúng có mạnh hơn gấp nhiều lần. Cùng với tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân văn, nhân đạo xuất hiện từ sớm và lớn dần theo thời gian. Yêu nước gắn liền với yêu dân, phản ánh tư tưởng chủ đạo “Nước lấy dân làm gốc” trong văn hóa chính trị Việt Nam. Năm 1010, với quyết tâm xây dựng một quốc gia độc lập, hùng cường và bằng tầm nhìn chiến lược, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long “để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” (Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn).
Năm 1300, Hưng Đạo 11 Đại Vương Trần Quốc Tuấn - đã có một tư tưởng tiến bộ khi tâu với vua Trần Anh Tông: “Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”. Thời chiến, đó là điều không thể nhưng khi đất nước đã được hưởng thái bình thì triều đình phải giảm bớt sự đóng góp, huy động nhân lực vật lực, sức người sức của. của nhân dân sao cho dân giàu hơn thời chiến, sung sướng hơn lên chứ không phải lao lung như thời chiến.
“Khoan thư sức dân” cũng là làm cho dân không bị bất an, lao tâm khổ trí. Những năm đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi, Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đã chăm lo xây dựng thống nhất, đồng bộ các yếu tố “dân giàu, nước mạnh, binh cường”, thực thi “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi). Đến thế kỷ XVIII, công cuộc giữ nước đòi hỏi tư duy chiến lược mới là phải chủ động “giữ cho trong ấm, ngoài êm”, kết hợp trấn áp thù trong với đánh giặc ngoài. Đặc biệt, lòng thương người, tinh thần nhân đạo của dân tộc ta còn đáng khâm phục ở chỗ mở lòng khoan dung, lấy “đức lớn hiếu sinh” mà đối xử với kẻ thù: “.Nghĩ kế nước nhà trường cửu - Tha cho mười vạn hàng binh - Gây lại hòa hảo cho hai nước - Dập tắt chiến tranh cho muôn đời” (Nguyễn Trãi toàn tập).
Sau khi lên ngôi hoàng đế, Quang Trung cũng đã ra sức thực thi các chính sách an dân, chính sách ngoại giao hòa bình, lập lại bang giao hòa hiếu với phương Bắc để ổn định và phát triển đất nước. Trong lịch sử, ông cha ta cũng xử lý khôn khéo các quan hệ với các nước láng giềng để phối hợp giúp đỡ lẫn nhau vì đại nghĩa. Như vậy, với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta cương quyết đứng lên đấu tranh để giành lại độc lập, tự chủ nhưng vẫn luôn nêu cao tinh thần nhân đạo, coi trọng con người. Về phương diện nghệ thuật thì quan niệm thẩm mĩ là hết sức quan trọng.
Tư tưởng thẩm mĩ đã ra đời từ lâu và có vai trò to lớn trong văn học nghệ thuật nhưng lại ít được đề cập tới. Chúng ta có thể nhận thấy một số quan niệm thẩm mĩ của dân tộc Việt Nam được biểu hiện từ những sinh hoạt đời thường như ăn, mặc, ở.đến các loại hình nghệ thuật như điêu khắc, kiến trúc, hội họa, âm nhạc.Trước tiên, chúng ta nhìn nhận một vài nét tiêu biểu, nổi trội trong quan niệm của nhân dân ta về cái đẹp, sau đó sẽ tìm hiểu sơ lược những nhân tố đã cấu thành nên môi trường 12 mà ở đó, quan niệm, ý thức thẩm mĩ đã được hình thành và phát triển. Mặc dù những quan niệm ấy có biến chuyển theo thời gian lịch sử nhưng những gì là cốt lõi vẫn gắn chặt với dân tộc ta. Đầu tiên có thể thấy rằng đối với nhân dân ta, cái đẹp luôn được gắn với thiên nhiên, con người Việt Nam dường như không thể sống mà không có thiên nhiên.
Những yêu cầu về sự hài hòa, cân đối; thanh đạm, mực thước; hướng nội hơn hướng ngoại; cái cao, cái lớn ẩn giấu trong cái nhỏ bé, tế nhị; cái phi thường trong cái bình thường; cái cứng trong cái mềm; trực giác thì hơn lí tính. trở thành những yêu cầu sâu sắc của nền thẩm mĩ dân tộc. Cái thiện, cái đạo lý làm người đi từ cái đạo lý cộng đồng đến đạo lý của từng công dân đối với nước nhà, nước nhà gắn chặt với cái chân, cái thiện, cái mĩ. Sở dĩ có những điều trên là nhờ vào những nhân tố như hoàn cảnh thiên nhiên, vị trí địa lý, vị trí văn hóa, cộng đồng làng xã, vận mệnh dân tộc.Chúng làm nên môi trường mà từ đó, các quan niệm thẩm mĩ được hình thành và phát triển.
Trước hết là thiên nhiên. Việt Nam là một quốc gia thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với nghề trồng lúa nước, Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, sống rất gần với thiên nhiên.