Chương 1 PHÚ NÔM THỜI TRUNG ĐẠI - ĐẶC ĐIỂM VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 1. Phú Nôm trung đại và đặc trưng thể loại 1. Sơ lược về đặc điểm chung của thể loại phú. Phú là thể loại có bề dày phát triển trong lịch sử văn học Trung Hoa.
Ban đầu, phú được dùng như khái niệm chỉ phương thức sáng tác, sau đó mới dần dần được hoàn chỉnh và trở thành một thể tài văn học. Sự khác biệt giữa biện pháp nghệ thuật này với “năm nghĩa” còn lại của Kinh Thi cũng như nét độc đáo làm nên đặc trưng thể loại của phú là ở chỗ nó thiên về mô tả, phô bày trực tiếp “kể lại một việc mà nói thẳng ra” (Chu Hy) [42, tr.148]: “Phú có nghĩa phô bày. Phô bày vẻ đẹp, viết thành văn chương, thể hiện sự vật, thuật tả tình ý.115] Theo các nhà nghiên cứu hiện đại thì thể phú được hình thành từ ba nguồn khác nhau: (1) Kinh thi thường được xem là nguồn gốc trước hết khởi sinh ra phú. Tuy nhiên, trong Kinh thi, phú chưa phải khái niệm chỉ thể loại.
Thoạt tiên, phú cùng với tỷ và hứng hợp thành ba biện pháp nghệ thuật chính của các bài thơ dân gian. Trong ba biện pháp ấy, nếu tỷ và hứng đều hướng đến cách diễn đạt bóng gió, kín đáo thì phú chỉ rõ tên, nói rõ việc. Về sau, phú mới được sử dụng để định danh cho một thể loại. Sự chuyển nghĩa đương nhiên có nguyên do.
Quá trình hình thành và phát triển của thể phú vẫn luôn mang theo một dấu vết đặc biệt gắn liền cùng nguồn cội: lấy phô bày và miêu tả trực tiếp làm điểm phân biệt mình với các thể loại khác như thơ chẳng hạn. Nói như Lục Cơ trong Văn phú: “Thơ dựa vào tình cảm và phải đẹp đẽ, phú thể hiện sự vật và phải trong sáng” [55, tr. (2) Một nguồn ảnh hưởng khác chi phối sự hình thành thể phú là Sở ca, loại thơ được viết theo âm điệu dân ca nước Sở. Ly tao của Khuất Nguyên là tác phẩm nổi bật nhất viết theo thể tài này.
Trong Ly tao có tả cảnh, tả tình, có phô trương, có đối thoại, hình ảnh diễm lệ, bóng bẩy, giàu tính hư cấu đã tác động đến hình thức lời văn cũng như bố cục của phú sau này. (3) Ngoài ra, phú còn chịu ảnh hưởng từ hình thức vấn đáp văn xuôi thời Tiên Tần. Tuyến trần thuật được chuyển từ một nhân vật sang nhiều nhân vật tạo thành hình thức đối thoại khách – chủ đặc trưng của phú. Từ những mầm mống ban đầu, thời gian đã mang đến cho phú, với tư cách một thể loại văn học, sự hoàn chỉnh về kết cấu vào đời Hán với những tác phẩm nổi tiếng của Tư Mã Tương Như, Dương Hùng, Ban Cố.
Mặc dù về sau tại quê hương Trung Hoa, phú vẫn tiếp tục phát triển với một số thay đổi nhất định về văn thể, nội dung, nhưng cái khung vững chắc của thể loại thì đã được xây dựng từ triều đại nhà Hán. Cuộc đổi ngôi của các thể loại lớn trong văn học Trung Hoa đi theo chiều hướng: Hán phú – Đường thi – Tống từ – Nguyên khúc – tiểu thuyết Minh Thanh. Con đường ấy có lý lẽ của riêng nó. Hoàn cảnh lịch sử, tâm lý dân tộc đã lựa chọn thể loại.
Phú sẽ là nhân vật chính trên bảng cơ cấu thể loại khi nhiệm vụ ca ngợi hùng đồ bá nghiệp trở thành nhu cầu chính của thời đại. Khoảng thời gian phú Trung Hoa thịnh đạt nhất là vào thời Hán, triều đại tồn tại quãng từ năm 206 TCN đến năm 220 CN. Đời sống xã hội đương thời có nhiều chuyển biến quan trọng. Chính sách của Hán Vũ đế đã hòa hoãn được mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, làm cho xã hội ổn định và phát triển, biến Trung Hoa trở thành cường quốc của Đông Á và thế giới.
Trong hoàn cảnh đó, giai cấp phong kiến quý tộc kiến thiết kinh đô, xây dựng những công trình xa hoa phục vụ cho việc ăn chơi hưởng lạc. Sự cường điệu thường xuyên ở phú khiến thể loại này, chứ không phải thơ hay bất kỳ thể loại nào khác, trở nên thích hợp nhất với việc ca ngợi vương triều và vương vị. Các hoàng đế nhà Hán như Vũ đế, Tuyên đế đều say mê sự tán dương của phú. Một bài phú hay có thể trở thành nguyên cớ để được ban thưởng chức tước, bổng lộc như trường hợp Tư Mã Tương Như.
Phong trào viết phú vì thế càng trở nên rầm rộ. Diễn biến của thể phú qua các triều đại có nhiều thay đổi, dẫn đến sự phân chia thành nhiều kiểu loại khác nhau. Trong Văn thể minh biện, Từ Sử Tăng đời Minh chia phú thành bốn loại: cổ phú, bài phú, luật phú, văn phú. Đó cũng là cách chia được nhiều người tán thành.
Trong Trung Quốc cổ đại văn thể khái luận, Chử Bân Kiệt cũng trình bày các loại phú chính theo hướng phân chia này. (1) Trong các loại phú, cổ phú xuất hiện sớm nhất. Nói cổ phú là chủ yếu chỉ phú ra đời vào thời Hán. Cổ phú thường có quy mô lớn, phần nhiều dùng hình thức chủ – khách vấn đáp, câu dài xen lẫn câu ngắn, văn vần xen lẫn văn xuôi.
Ngôn ngữ của cổ phú hoa lệ, từ ngữ hiểm hóc. Thượng Lâm phú, Tử Hư phú (đều của Tư Mã Tương Như), Lưỡng đô phú (Ban Cố)… đều là những mẫu mực điển hình cho cổ phú. Bài phú bắt đầu có từ sau thời Ngụy Tấn, thịnh hành vào thời Nam Bắc triều. Đặc điểm chủ yếu của bài phú ở phương diện nghệ thuật là sự cân đối, hài hòa về chữ nghĩa, thanh điệu.
Trên phương diện nội dung, bài phú thường hay tả các vật trong sinh hoạt hằng ngày hoặc biểu hiện tình li biệt của thiếu nữ nơi khuê phòng. (3) Thứ ba là luật phú, biến thể của bài phú. Để thích hợp với chế độ khoa cử đời Đường, luật phú quy định chặt chẽ hơn về đối ngẫu, hạn vần. Nội dung chủ yếu của luật phú là xiển thích kinh nghĩa, sự tích, điển cố, trị đạo, tính lý.
Về độ dài, luật phú cũng thường được hạn định ở số chữ không quá 400. (4) Cuối cùng là văn phú. Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cuộc vận động cổ văn Đường – Tống, văn phú có khuynh hướng “tản văn hóa”, dùng vần tự do, lấy câu bốn chữ, sáu chữ làm chính, dùng nhiều hư từ chi, hồ, giả, dã và các từ liên kết, do đó mang đậm phong cách văn xuôi. Về nội dung, văn phú chú trọng nghị luận, thuyết lý.
Trong văn phú có những tác phẩm rất được các tác giả trung đại Việt Nam yêu thích, đặc biệt là Tiền Hậu Xích Bích phú của Tô Thức. Như vậy, giữa khoảng thời gian trên dưới chín thế kỷ kể từ thời điểm được hình thành đến khi du nhập vào Việt Nam, phú đã đã trải qua nhiều triều đại tại Trung Hoa. Về cơ bản, thể loại này đã hoàn tất việc xác định những đặc điểm có tính chuẩn mực. Chính vì thế, việc một nền văn học mới hình thành như văn học Việt Nam ở bước đầu phát triển cần phải vay mượn các thể loại từ phương Bắc, trong đó có phú, là điều tất yếu.
Tuy nhiên, sự lựa chọn thể loại dù ở một nền văn học phái sinh cũng không phải do tác động từ bên ngoài mà được quyết định bởi những nhân tố nội sinh như: văn hóa truyền thống, tâm lý thời đại, trình độ tư duy nghệ thuật và thao tác nghệ thuật của các thế hệ tác giả. Bằng cách xây dựng nên một cơ cấu thể loại không tương đồng Trung Hoa, văn học dân tộc đã chứng tỏ khả năng bản địa hóa mạnh mẽ các yếu tố ngoại lai với bản lĩnh “Nam Bắc đều làm chủ đất nước mình, không phải bắt chước nhau” 2. Trong giai đoạn trung đại, sáng tác bằng hai loại ngôn ngữ là đặc điểm chung của nhiều nền văn học. Khi văn học Việt tiếp nhận thể loại phú từ Trung Hoa, tình hình cũng diễn ra tương tự.
Bên cạnh phú được viết bằng 2 Trích câu nói vua Trần Nghệ Tông trong Đại Việt sử ký toàn thư [58, tr. Hán ngữ còn có sự tồn tại của bộ phận phú Nôm. Từ định danh “Nôm” ở đây có ý nghĩa nhiều hơn một yếu tố văn tự. Thậm chí vẫn là chưa đủ nếu chỉ xem chữ Nôm như một tiền đề văn hóa thúc đẩy quá trình dân tộc hóa các thể loại du nhập từ bên ngoài.
Với văn học, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích của sự sáng tạo. Trước hết, như một phương tiện sáng tác, chữ Nôm sẽ nhập vào thể phú lời ăn tiếng nói sống động của nhân dân, những triết lý và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc. Nhưng mặt khác, phú – thể loại chú trọng đến sự miêu tả vừa khoa trương vừa tỉ mỉ – cũng sẽ tạo thành môi trường để rèn giũa, phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ dân tộc. Quá trình tương tác giữa thể loại và ngôn ngữ này sẽ có tác động ra sao đối với tiến trình phát triển của văn học dân tộc? Đóng góp của phú Nôm, cũng như nhiều thể loại khác được viết bằng ngôn ngữ Việt trong thời trung đại, sẽ chủ yếu biểu hiện ở chỗ: so với cái khung truyền thống mà thể loại đã tạo ra, nó sẽ biến đổi như thế nào và đến mức độ nào.
Quan niệm về phú của các tác giả Việt Nam thời trung đại. Tiếp nhận phú nghĩa là tiếp nhận cả thực tiễn sáng tác và lý luận về phú. Chẳng hạn, Lê Quý Đôn, kế thừa cách giải thích của các nhà lý luận Trung Quốc, cũng xác định rằng phú bắt nguồn từ Sở từ với đặc trưng lớn nhất là phong cách diễm lệ: “Sở từ là tổ của từ phú. Đời xưa chưa có từ phú.
Khuất Nguyên khởi xướng lối từ phú ở nước Sở. Tống Ngọc, Đường Lặc, Cảnh Sai họa theo. Những câu văn ấy đều bay bướm mà thể thơ từ đấy biến đổi hẳn.93] Ở một chỗ khác, ông lại nhấn mạnh về sự phân biệt giữa các loại “văn”: “Sách Điển luận của Tào Phi chép: văn tấu và nghị phải nhã. Văn thư luận phải hợp lý.
Văn minh và lũy phải thiết thực. Văn thi phú thì phải đẹp đẽ.