mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông cũng là người đầu tiên đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, ông dám giữ một bản ngã, một cái tôi riêng mình. Cái tôi cá nhân trong thơ Tản Đà được thể hiện qua nhiều cung bậc khác nhau, đó là cái tôi đa sầu, đa cảm, cái tôi đa tình và cái tôi ngông nghênh, khinh bạc. Tản Đà không phải là một trường 13 hợp “ngông” cá biệt trong văn học Việt Nam.
Trước ông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… đều ngông. Nguyễn Du đã từng ngậm ngùi mà xưng tên: Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. (Độc Tiểu Thanh kí ) Hồ Xuân Hương trong Mời trầu cũng tự khẳng định: Này của Xuân Hương mới quệt rồi… Hay Nguyễn Công Trứ : Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng… (Bài ca ngất ngưởng ) Nhưng có lẽ Tản Đà là một nhà thơ ngông hơn cả trên đàn văn giao thời hai thế kỉ XIX - XX: Vùng đất Sơn Tây nảy một ông Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng Sông Đà núi Tản ai hun đúc? Bút thánh câu thần sớm vãi vung. (Tự trào) Giọng điệu ngông, khinh bạc là giọng điệu chủ đạo trong nhiều bài thơ của Tản Đà, đi liền với quan niệm sống của ông với xã hội đương thời.
“Ngông” là thái độ khinh đời, ngạo đời dựa trên sự tài hoa uyên bác. Người Trung Hoa hiểu ngông là cuồng, là loạn. Xét đến cùng, ngông thể hiện một cá tính đặc biệt. Khái niệm “ngông” trong văn học thường được dùng để chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường của những nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.
Tất nhiên, ý thức cá nhân ấy cũng chỉ được phát triển mạnh mẽ trong những điều kiện xã hội nhất định, gắn liền với tổng thể những quan niệm khá mới mẻ (trong khuôn khổ trung đại) về vũ 14 trụ, nhân sinh và nghệ thuật. Đối với Tản Đà, cái ngông ấy không nên hiểu đơn thuần chỉ là cái ngông của những nhà nho tài tử, của đám văn nhân, mà phải hiểu theo góc độ khác, từ nhân sinh quan. Trước hết, khi thể hiện mình ngông, nghĩa là khi con người sống thật với mình nhất, thể hiện cá tính không trộn lẫn với người khác, dù người khác ấy có sự chi phối mạnh mẽ đến bản thân mình. Xã hội phong kiến là xã hội không cho cá tính phát triển, người có tài trong xã hội phong kiến là người chỉ được múa một tay.
Con người trong xã hội phong kiến phải tuân theo các phép tắc của cộng đồng, phải hòa mình vào số đông của tập thể. Sự phát triển cá tính trong xã hội phong kiến là một mầm họa. Vì thế, mọi phép tắc ứng xử trong xã hội phong kiến, suy cho cùng là để bóp chết cá tính của con người. Trong xã hội ngột ngạt như thế mà có những tính cách trỗi dậy thì rõ ràng không thể xem đó là sự ương ngạnh.
Mặt khác trong những năm hai mươi của thế kỉ XX, trước luồng gió của chủ nghĩa cá nhân tư sản và trào lưu văn học lãng mạn trên thế giới, xã hội nảy sinh nhu cầu đòi giải phóng bản ngã, đòi tự do và đời sống tình cảm riêng tư chống lại sự kiềm hãm, đè nén của xã hội phong kiến. Cái “ngông” của Tản Đà thực chất là sự phản ứng của xã hội đương thời ở góc độ nhân sinh quan. Sự phản ứng đó là hết sức táo bạo, thể hiện bản lĩnh của một nhân cách sống. Tản Đà được ví là nhà thơ của say, ngông và mộng.
Tản Đà đã thể hiện cái ngông trong cuộc sống và trong cả thơ văn. Ngay trong lời tự bạch, Tản Đà đã hiện lên với hình ảnh của một lữ khách chơi ngông nhất: Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có, cửa nhà thời không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly Túi thơ đeo khắp ba kỳ 15 Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng. (Thú ăn chơi) Tản Đà coi bốn phương là nhà, mang túi thơ đi khắp trong thiên hạ, mang cái ngông nghênh của mình thách thức với cả sông núi. Và ông cho rằng đó là định mệnh sắp đặt ông như vậy, dù ông dù mọi người có chấp nhận hay không.
Tản Đà đã hiên ngang thể hiện cái tôi của mình qua việc tự xưng danh: Dạ, bẩm lạy Trời, con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu và Địa cầu Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt. (Hầu Trời) Nhưng cách xưng danh tính của Tản Đà cũng khác thể hiện rõ dấu ấn trong cung cách của ông, đó là cách xưng hô tên trước, họ sau giống phương Tây, tách tên, họ theo một kiểu cung khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục,… Vì vậy đã ngông lại càng ngông. Nhưng đó là cái ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn sau vẻ thành khẩn trước “đấng chí tôn”, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ.
Một cái tên - tên thật chứ không phải tự hay hiệu - mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là của Á Châu - của xứ sở có một nền văn minh tinh thần cao quý, đáng tự hào. Tản Đà xưng rõ danh tính, hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình qua việc mượn lời của Thiên tào tra sổ: Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông. 16 (Hầu Trời) Nếu không có cái ngông thị tài của Cao Bá Quát, không có cái ngỗ ngược của Nguyễn Công Trứ thì khó mà có cái tuyên ngôn ngạo nghễ của Tản Đà: Thơ lưng chất nặng tay buồn rỗi Bán áo mà mua giấy viết ngông.
(Dạm bán áo đoạn) Tản Đà còn nói về tài năng của bản thân bằng niềm tự hào với giọng điệu ngông nghênh, phóng túng: Vùng đất Sơn Tây nảy một ông Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng Sông Đà núi Tản ai hun đúc? Bút thánh câu thần sớm vãi vung Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh Khuyên khuyên điểm điểm có hay không Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ, ông càng tốt bộ ngông. (Tự trào) Chất tài hoa, phóng túng, ngông nghênh khinh bạc thể hiện khi ông tìm đến rượu. Cái ngông ấy như được kích thích, ngông lại càng ngông: Say sưa nghĩ cũng hư đời Hư thời hư vậy, say thời cứ say Đất say đất cũng lăn quay Trời say mặt đất đỏ gay ai cười?. (Lại say) 17 Tản Đà đã say, đã sống trọn vẹn trong cái say của mình, cái say ngạo mạn và thách thức.
Tản Đà không say rượu. Rượu chẳng qua chỉ là cái cớ, giúp Tản Đà ngất ngưởng, vùng vẫy trong cuộc chơi: Cảnh đời gió gió mưa mưa Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn. (Thơ rượu) Tản Đà cho rằng, cuộc đời thực không lấy gì làm hạnh phúc, đời đáng chán, đáng buồn. Ông mong muốn thoát li thực tại, đắm mình vào những giấc mộng để quên đời.
Khi mộng, Tản Đà được sống những cuộc đời mới mẻ, đẹp đẽ, tự ông vẽ ra theo trí tưởng tượng của bản thân. Chính trong những giấc mộng, Tản Đà mới tìm lại được cái tôi của mình, gặp được những người trong ý tưởng và suy nghĩ của mình. Tản Đà đã từng muốn làm thằng Cuội lên cung trăng chơi với chị Hằng: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi, Cung quế đã ai ngồi đó chửa ? Cành đa xin chị nhắc lên chơi. (Muốn làm thằng Cuội ) Tóm lại, trong thơ Tản Đà, ngông là một đặc điểm nổi bật thể hiện cách sống khinh bạc, làm trái ngược đời để tỏ rằng mình tỉnh trong khi kẻ khác say, để chứng minh rằng mình thanh bạch trong khi người khác ô trọc, dơ bẩn.
Đó cũng là cách thể hiện ý thức về tài năng, giá trị đích thực của bản thân và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời. Sau Tú Xương, có lẽ Tản Đà là một nhà thơ ngông hơn cả trên thi đàn văn giao thời hai thế kỉ XIX -XX. Giọng hài hước tự trào Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… đặc biệt sau này là Tú Xương đã từng đem chính cuộc đời mình vào làm đề tài để sáng tác. Nhưng có lẽ, chưa ai mang chính cuộc đời mình vào thể hiện trong tác phẩm một 18 cách chân thực và đầy đủ như Tản Đà.
Vì thế, đọc thơ Tản Đà, chúng ta hình dung ra bức chân dung tự họa của ông bằng giọng điệu hài hước, tự trào, thể hiện ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, đem cái cá nhân trình diện với cuộc đời. Tản Đà đã kế tục truyền thống trào lộng của văn học thông tục, sáng tác những vần thơ dung dị, giòn giã, từ cái nhếch mép, mỉa mai nhẹ nhàng đến tiếng cười trào phúng cay độc đủ các cung bậc. Tiếng cười làm ta nhớ đến Tú Xương trong bài Xuân: Chí cha chí chát khua giầy dép Đen thủi đen thui cũng lượt là. Còn đối với thơ Tản Đà, tiếng cười ấy lại là: Thối om sọt phẩn, nhiều cô gánh Tanh ngắt hơi đồng, lắm cậu yêu.
(Sự đời) Có khi phảng phất phong cách bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương: Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt Đá hỏm hang đen tối tối mò Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho. (Chơi chùa Hương Tích) Ngay cả khi tự trào về cảnh đời nghèo túng bằng giai điệu hóm hỉnh, nhà thơ không giấu được sự cay đắng trước nỗi cơ cực của mình: Hôm qua chửa có tiền nhà Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào! Đi ra rồi lại đi vào Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ. (Ngẫu hứng) Nhà tớ xưa nay vốn vẫn nghèo Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu 19 Quanh năm luống những lo văn ế Thân thế xem thua chú hát chèo. Càng đau mà vẫn phải càng theo Theo mãi cho nên vẫn cứ nghèo Nghèo chỉ có văn, văn lại ế Ế cho văn tớ hết tiền tiêu… (Lo văn ế) Giọng điệu hài hước, tự trào còn thể hiện rõ khi ông viết về bi kịch của cuộc đời mình.
Đó là bi kịch của một kẻ sĩ đi thi nhiều lần nhưng không đỗ: Mỗi năm Hậu Bổ một lần thi Năm ngoái năm xưa tớ cũng thi Cử, tú, ấm sinh vài chục kẻ Tây, ta, quốc ngữ bốn năm kì.