Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học: Phân Tích Giọng Điệu Nghệ Thuật Trong Thơ Tản Đà

Khóa luận tốt nghiệp phân tích giọng điệu nghệ thuật thơ Tản Đà, khám phá phong cách độc đáo và ảnh hưởng của nhà thơ tiên phong trong văn học Việt Nam.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

51
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích nghiên cứu

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp của khóa luận

0.8. Cấu trúc của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG

1.1. Giọng điệu nghệ thuật

1.1.1. Khái niệm giọng điệu nghệ thuật

1.1.2. Vai trò của giọng điệu nghệ thuật trong thơ

1.2. Sự nghiệp sáng tác

1.3. Vị trí Tản Đà trên tiến trình thơ ca Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT THƠ TẢN ĐÀ

2.1. Các kiểu giọng điệu

2.1.1. Giọng điệu ngông, khinh bạc

2.1.2. Giọng hài hước tự trào

2.1.3. Giọng điệu tâm tình

2.2. Các phương thức biểu hiện giọng điệu thơ Tản Đà

2.2.1. Sự đan xen giữa ngôn ngữ ước lệ, tượng trưng với ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ

2.2.2. Sử dụng đại từ nhân xưng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp với chủ đề 'Giọng điệu nghệ thuật trong thơ Tản Đà' là một nghiên cứu chuyên sâu về phong cách thơ của nhà thơ Tản Đà. Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú đã phân tích các yếu tố nghệ thuật trong thơ Tản Đà, đặc biệt là giọng điệu, để làm nổi bật vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam. Khóa luận này không chỉ là một công trình học thuật mà còn có giá trị thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của khóa luận tốt nghiệp là tìm hiểu và phân tích giọng điệu nghệ thuật trong thơ Tản Đà. Tác giả muốn khẳng định vai trò của Tản Đà trong sự phát triển của thơ ca Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu này cũng nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về phong cách và cá tính sáng tạo của Tản Đà, từ đó góp phần vào việc giảng dạy và học tập trong các cấp học.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng các phương pháp như phân tích thơ, so sánh, và thống kê để làm rõ các đặc điểm của giọng điệu nghệ thuật trong thơ Tản Đà. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố ngôn ngữ, cấu trúc, và cảm xúc trong thơ, từ đó làm nổi bật phong cách độc đáo của Tản Đà.

II. Giọng điệu nghệ thuật

Giọng điệu nghệ thuật là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên phong cách của một nhà thơ. Trong thơ Tản Đà, giọng điệu không chỉ là phương tiện truyền tải cảm xúc mà còn là công cụ để thể hiện thái độ và quan điểm của tác giả. Khóa luận đã phân tích các kiểu giọng điệu như giọng ngông, giọng hài hước, và giọng tâm tình, từ đó làm rõ sự đa dạng trong phong cách thơ của Tản Đà.

2.1. Giọng ngông và khinh bạc

Giọng ngông là một trong những đặc điểm nổi bật trong thơ Tản Đà. Tác giả sử dụng giọng điệu này để thể hiện sự tự tin và thách thức với xã hội đương thời. Ví dụ, trong bài thơ 'Tự trào', Tản Đà viết: 'Bởi ông hay quá ông không đỗ / Không đỗ, ông càng tốt bộ ngông'. Giọng điệu này không chỉ thể hiện cá tính mạnh mẽ mà còn phản ánh tinh thần phóng khoáng của nhà thơ.

2.2. Giọng hài hước tự trào

Giọng hài hước tự trào là một nét độc đáo trong thơ Tản Đà. Tác giả thường sử dụng giọng điệu này để tự giễu cợt bản thân, tạo nên sự gần gũi và thân thiện với độc giả. Ví dụ, trong bài 'Thú ăn chơi', Tản Đà viết: 'Thú ăn chơi cũng gọi rằng / Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian'. Giọng điệu này không chỉ mang tính giải trí mà còn thể hiện sự thông thái và khôn ngoan của nhà thơ.

III. Thơ Tản Đà và văn học Việt Nam

Thơ Tản Đà được xem như một cầu nối giữa văn học trung đạivăn học hiện đại. Tác giả đã kế thừa truyền thống thơ ca dân tộc đồng thời mang đến những cách tân mới mẻ. Khóa luận đã phân tích các yếu tố như ngôn ngữ, thi pháp, và cảm xúc trong thơ Tản Đà, từ đó khẳng định vị trí của ông trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam.

3.1. Vị trí của Tản Đà trong thơ ca Việt Nam

Tản Đà được coi là người mở đầu cho thơ ca hiện đại Việt Nam. Ông đã mang đến những cách tân về ngôn ngữ và hình thức thơ, tạo nên sự đổi mới trong phong cách sáng tác. Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét: 'Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại'. Khóa luận đã làm rõ vai trò của Tản Đà trong việc hiện đại hóa thơ ca Việt Nam.

3.2. Ảnh hưởng của Tản Đà đến văn học hiện đại

Thơ Tản Đà không chỉ ảnh hưởng đến các nhà thơ cùng thời mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển của văn học hiện đại. Các yếu tố như cái tôi cá nhân, cảm xúc lãng mạn, và ngôn ngữ đời thường trong thơ Tản Đà đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà thơ sau này. Khóa luận đã phân tích sâu sắc những đóng góp này của Tản Đà.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông cũng là người đầu tiên đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, ông dám giữ một bản ngã, một cái tôi riêng mình. Cái tôi cá nhân trong thơ Tản Đà được thể hiện qua nhiều cung bậc khác nhau, đó là cái tôi đa sầu, đa cảm, cái tôi đa tình và cái tôi ngông nghênh, khinh bạc. Tản Đà không phải là một trường 13 hợp “ngông” cá biệt trong văn học Việt Nam.

Trước ông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… đều ngông. Nguyễn Du đã từng ngậm ngùi mà xưng tên: Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. (Độc Tiểu Thanh kí ) Hồ Xuân Hương trong Mời trầu cũng tự khẳng định: Này của Xuân Hương mới quệt rồi… Hay Nguyễn Công Trứ : Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng… (Bài ca ngất ngưởng ) Nhưng có lẽ Tản Đà là một nhà thơ ngông hơn cả trên đàn văn giao thời hai thế kỉ XIX - XX: Vùng đất Sơn Tây nảy một ông Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng Sông Đà núi Tản ai hun đúc? Bút thánh câu thần sớm vãi vung. (Tự trào) Giọng điệu ngông, khinh bạc là giọng điệu chủ đạo trong nhiều bài thơ của Tản Đà, đi liền với quan niệm sống của ông với xã hội đương thời.

“Ngông” là thái độ khinh đời, ngạo đời dựa trên sự tài hoa uyên bác. Người Trung Hoa hiểu ngông là cuồng, là loạn. Xét đến cùng, ngông thể hiện một cá tính đặc biệt. Khái niệm “ngông” trong văn học thường được dùng để chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường của những nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.

Tất nhiên, ý thức cá nhân ấy cũng chỉ được phát triển mạnh mẽ trong những điều kiện xã hội nhất định, gắn liền với tổng thể những quan niệm khá mới mẻ (trong khuôn khổ trung đại) về vũ 14 trụ, nhân sinh và nghệ thuật. Đối với Tản Đà, cái ngông ấy không nên hiểu đơn thuần chỉ là cái ngông của những nhà nho tài tử, của đám văn nhân, mà phải hiểu theo góc độ khác, từ nhân sinh quan. Trước hết, khi thể hiện mình ngông, nghĩa là khi con người sống thật với mình nhất, thể hiện cá tính không trộn lẫn với người khác, dù người khác ấy có sự chi phối mạnh mẽ đến bản thân mình. Xã hội phong kiến là xã hội không cho cá tính phát triển, người có tài trong xã hội phong kiến là người chỉ được múa một tay.

Con người trong xã hội phong kiến phải tuân theo các phép tắc của cộng đồng, phải hòa mình vào số đông của tập thể. Sự phát triển cá tính trong xã hội phong kiến là một mầm họa. Vì thế, mọi phép tắc ứng xử trong xã hội phong kiến, suy cho cùng là để bóp chết cá tính của con người. Trong xã hội ngột ngạt như thế mà có những tính cách trỗi dậy thì rõ ràng không thể xem đó là sự ương ngạnh.

Mặt khác trong những năm hai mươi của thế kỉ XX, trước luồng gió của chủ nghĩa cá nhân tư sản và trào lưu văn học lãng mạn trên thế giới, xã hội nảy sinh nhu cầu đòi giải phóng bản ngã, đòi tự do và đời sống tình cảm riêng tư chống lại sự kiềm hãm, đè nén của xã hội phong kiến. Cái “ngông” của Tản Đà thực chất là sự phản ứng của xã hội đương thời ở góc độ nhân sinh quan. Sự phản ứng đó là hết sức táo bạo, thể hiện bản lĩnh của một nhân cách sống. Tản Đà được ví là nhà thơ của say, ngông và mộng.

Tản Đà đã thể hiện cái ngông trong cuộc sống và trong cả thơ văn. Ngay trong lời tự bạch, Tản Đà đã hiện lên với hình ảnh của một lữ khách chơi ngông nhất: Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có, cửa nhà thời không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly Túi thơ đeo khắp ba kỳ 15 Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng. (Thú ăn chơi) Tản Đà coi bốn phương là nhà, mang túi thơ đi khắp trong thiên hạ, mang cái ngông nghênh của mình thách thức với cả sông núi. Và ông cho rằng đó là định mệnh sắp đặt ông như vậy, dù ông dù mọi người có chấp nhận hay không.

Tản Đà đã hiên ngang thể hiện cái tôi của mình qua việc tự xưng danh: Dạ, bẩm lạy Trời, con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu và Địa cầu Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt. (Hầu Trời) Nhưng cách xưng danh tính của Tản Đà cũng khác thể hiện rõ dấu ấn trong cung cách của ông, đó là cách xưng hô tên trước, họ sau giống phương Tây, tách tên, họ theo một kiểu cung khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục,… Vì vậy đã ngông lại càng ngông. Nhưng đó là cái ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn sau vẻ thành khẩn trước “đấng chí tôn”, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ.

Một cái tên - tên thật chứ không phải tự hay hiệu - mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là của Á Châu - của xứ sở có một nền văn minh tinh thần cao quý, đáng tự hào. Tản Đà xưng rõ danh tính, hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình qua việc mượn lời của Thiên tào tra sổ: Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông. 16 (Hầu Trời) Nếu không có cái ngông thị tài của Cao Bá Quát, không có cái ngỗ ngược của Nguyễn Công Trứ thì khó mà có cái tuyên ngôn ngạo nghễ của Tản Đà: Thơ lưng chất nặng tay buồn rỗi Bán áo mà mua giấy viết ngông.

(Dạm bán áo đoạn) Tản Đà còn nói về tài năng của bản thân bằng niềm tự hào với giọng điệu ngông nghênh, phóng túng: Vùng đất Sơn Tây nảy một ông Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng Sông Đà núi Tản ai hun đúc? Bút thánh câu thần sớm vãi vung Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh Khuyên khuyên điểm điểm có hay không Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ, ông càng tốt bộ ngông. (Tự trào) Chất tài hoa, phóng túng, ngông nghênh khinh bạc thể hiện khi ông tìm đến rượu. Cái ngông ấy như được kích thích, ngông lại càng ngông: Say sưa nghĩ cũng hư đời Hư thời hư vậy, say thời cứ say Đất say đất cũng lăn quay Trời say mặt đất đỏ gay ai cười?. (Lại say) 17 Tản Đà đã say, đã sống trọn vẹn trong cái say của mình, cái say ngạo mạn và thách thức.

Tản Đà không say rượu. Rượu chẳng qua chỉ là cái cớ, giúp Tản Đà ngất ngưởng, vùng vẫy trong cuộc chơi: Cảnh đời gió gió mưa mưa Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn. (Thơ rượu) Tản Đà cho rằng, cuộc đời thực không lấy gì làm hạnh phúc, đời đáng chán, đáng buồn. Ông mong muốn thoát li thực tại, đắm mình vào những giấc mộng để quên đời.

Khi mộng, Tản Đà được sống những cuộc đời mới mẻ, đẹp đẽ, tự ông vẽ ra theo trí tưởng tượng của bản thân. Chính trong những giấc mộng, Tản Đà mới tìm lại được cái tôi của mình, gặp được những người trong ý tưởng và suy nghĩ của mình. Tản Đà đã từng muốn làm thằng Cuội lên cung trăng chơi với chị Hằng: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi, Cung quế đã ai ngồi đó chửa ? Cành đa xin chị nhắc lên chơi. (Muốn làm thằng Cuội ) Tóm lại, trong thơ Tản Đà, ngông là một đặc điểm nổi bật thể hiện cách sống khinh bạc, làm trái ngược đời để tỏ rằng mình tỉnh trong khi kẻ khác say, để chứng minh rằng mình thanh bạch trong khi người khác ô trọc, dơ bẩn.

Đó cũng là cách thể hiện ý thức về tài năng, giá trị đích thực của bản thân và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời. Sau Tú Xương, có lẽ Tản Đà là một nhà thơ ngông hơn cả trên thi đàn văn giao thời hai thế kỉ XIX -XX. Giọng hài hước tự trào Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… đặc biệt sau này là Tú Xương đã từng đem chính cuộc đời mình vào làm đề tài để sáng tác. Nhưng có lẽ, chưa ai mang chính cuộc đời mình vào thể hiện trong tác phẩm một 18 cách chân thực và đầy đủ như Tản Đà.

Vì thế, đọc thơ Tản Đà, chúng ta hình dung ra bức chân dung tự họa của ông bằng giọng điệu hài hước, tự trào, thể hiện ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, đem cái cá nhân trình diện với cuộc đời. Tản Đà đã kế tục truyền thống trào lộng của văn học thông tục, sáng tác những vần thơ dung dị, giòn giã, từ cái nhếch mép, mỉa mai nhẹ nhàng đến tiếng cười trào phúng cay độc đủ các cung bậc. Tiếng cười làm ta nhớ đến Tú Xương trong bài Xuân: Chí cha chí chát khua giầy dép Đen thủi đen thui cũng lượt là. Còn đối với thơ Tản Đà, tiếng cười ấy lại là: Thối om sọt phẩn, nhiều cô gánh Tanh ngắt hơi đồng, lắm cậu yêu.

(Sự đời) Có khi phảng phất phong cách bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương: Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt Đá hỏm hang đen tối tối mò Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho. (Chơi chùa Hương Tích) Ngay cả khi tự trào về cảnh đời nghèo túng bằng giai điệu hóm hỉnh, nhà thơ không giấu được sự cay đắng trước nỗi cơ cực của mình: Hôm qua chửa có tiền nhà Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào! Đi ra rồi lại đi vào Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ. (Ngẫu hứng) Nhà tớ xưa nay vốn vẫn nghèo Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu 19 Quanh năm luống những lo văn ế Thân thế xem thua chú hát chèo. Càng đau mà vẫn phải càng theo Theo mãi cho nên vẫn cứ nghèo Nghèo chỉ có văn, văn lại ế Ế cho văn tớ hết tiền tiêu… (Lo văn ế) Giọng điệu hài hước, tự trào còn thể hiện rõ khi ông viết về bi kịch của cuộc đời mình.

Đó là bi kịch của một kẻ sĩ đi thi nhiều lần nhưng không đỗ: Mỗi năm Hậu Bổ một lần thi Năm ngoái năm xưa tớ cũng thi Cử, tú, ấm sinh vài chục kẻ Tây, ta, quốc ngữ bốn năm kì.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khóa Luận Tốt Nghiệp: Giọng Điệu Nghệ Thuật Trong Thơ Tản Đà" khám phá sâu sắc phong cách và giọng điệu độc đáo trong thơ của nhà thơ Tản Đà, một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Bài viết phân tích cách Tản Đà kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, tạo nên một giọng thơ đa dạng, vừa lãng mạn vừa trữ tình. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về nghệ thuật ngôn từ và tư tưởng sáng tạo của Tản Đà, đồng thời nhận thức được giá trị văn hóa và lịch sử mà thơ ông mang lại.

Để mở rộng kiến thức về các tác phẩm văn học khác, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam: Những đóng góp về nội dung và nghệ thuật của Lương Khê thi thảo Phan Thanh Giản, nơi phân tích sâu về nghệ thuật thơ ca của một nhân vật lịch sử khác. Ngoài ra, bài Luận án phó tiến sĩ văn học: Chủ nghĩa hiện đại và văn học Việt Nam hiện đại cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của văn học Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao. Cuối cùng, bài Luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam: Đặc điểm du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX sẽ giúp bạn hiểu thêm về thể loại du ký, một phần quan trọng trong văn học Việt Nam cùng thời kỳ.

Những bài viết này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới mẻ về văn học Việt Nam, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các tác phẩm và tác giả tiêu biểu.