Chương 1, chúng tôi sẽ điểm qua bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỉ XIX, giới thiệu thân thế và sự nghiệp chính trị của đại thần Phan Thanh Giản, đồng thời cho thấy một tác giả văn học Phan Lương Khê qua việc giới thiệu một số tác phẩm của ông. Bên cạnh đó, Chương 1 cũng nêu khái quát đặc điểm thơ trung đại Việt Nam thế kỉ XIX;khái lược về tác phẩm Lương Khê thi thảo, số lượng bài, chủ đề, hoàn cảnh sáng tác. Chương 2:Những đóng góp của Lương Khê thi thảo về phương diện nội dung Chương 2 sẽ chỉ ra những nội dung đặc sắc của tập thơ, đi sâu phân tích một số bài thơ tiêu biểu, nổi bật ở từng nội dung; từ đó cho thấy sự phong phú về chủ đề, nội dung trong thơ Phan Thanh Giản như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét. Chương 3:Những đóng góp của Lương Khê thi thảo về phương diện nghệ thuật Ở chương này, chúng tôi sẽ triển khai các phương diện nghệ thuật như thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu.
Bên cạnh đó sẽ chọn lọc phân tích một số bài thơ tiêu biểu nhằm chỉ ra những điểm đặc sắc trong nghệ thuật thơ Phan Thanh Giản; từ đó có thể thấy được sự đóng góp không nhỏ về mặt nghệ thuật của Lương Khê thi thảo, đặc biệt là về mặt thể loại. 16 Ngoài ra, luận văn còn có các Phụ lục về Niên biểu Phan Thanh Giản, Mục lục tập thơ Lương Khê thi thảo,ảnh chụp bản gốc tác phẩm Lương Khê thi thảo, hình ảnh gặp gỡ hậu duệ cụ Phan… 17 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNGVỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Xã hội Việt Nam thế kỉ XIX và tác giả Phan Thanh Giản 1.
Xã hội Việt Nam thế kỉ XIX Thế kỉ XIX là thế kỉ có nhiều biến động lớn trong lịch sử, cả thế giới lẫn Việt Nam.Có thể nói đây là buổi giao thời đầy biến động đối với lịch sử Việt Nam, dẫn đến sự tác động không nhỏ đến lĩnh vực sáng tác văn học của nước nhà. Ở châu Âu, giai cấp tư sản lần lượt nắm chính quyền. Sự thành công của cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một lượng hàng hóa khổng lồ, cần thị trường tiêu thụ. Cùng với Anh, Pháp cũng là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế và xâm chiếm thuộc địa.
Tuy nhiên, sau những lần bị Anh “hớt tay trên” thị trường béo bở ở Ấn Độ, Canada., Pháp dần chuyển mục tiêu xâm lược sang các nước thuộc châu Á, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, sau khi đánh bại Tây Sơn, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long, đóng đô tại Huế với ý nguyện xây dựng một vương triều hùng mạnh. Tuy nhiên, trước ý đồ xâm lược của Pháp, sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp cùng những thành tựu văn minh phương Tây, thì những chính sách cai trị lạc hậu của nhà Nguyễn đã không thể cản nổi bánh xe lịch sử, sau hơn một thế kỉ thành lập và phát triển, cuối cùng đã bị lịch sử bỏ qua. Về đối nội Trong lĩnh vực chính trị, nhà Nguyễn duy trì chế độ phong kiến chuyên chế, vua nắm quyền lực tối cao.
Ngay từ thời Gia Long, triều đình đã thi hành nhiều chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, đề cao chủ nghĩa tôn quân. Trong công tác xây dựng bộ máy hành chính, triều Nguyễn thực hiện nhiều cải cách, vua trực tiếp nắm Viện Cơ mật, bãi bỏ chức Tể tướng để tránh lộng quyền, không lập Hoàng hậu. Gia Long tổ chức lại các đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương, chia cả nước thành 23 trấn, 18 4 doanh. Đến triều Minh Mệnh, nhà vua tiến hành phân định lại các tỉnh và định các chức quan cai trị ở miền núi.
Đối với nền kinh tế, đề cao chính sách “trọng nông, ức thương”, các vua triều Nguyễn chủ trương duy trì nền kinh tế tự túc tự cấp. Chính vì “trọng nông”, nhà Nguyễn cho khẩn hoang nhiều nơi, trong đó đáng chú ý là đồng bằng sông Cửu Long: “Nhà nước bỏ tiền đào kênh thoát nước Thụy Hà và sông Vĩnh Tế, tạo thuận lợi cho việc khẩn hoang” (Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, 1995, tr.308); chú ý phát triển hệ thống thủy lợi, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Đối với lĩnh vực văn hóa, trong khi Nhà nước không chú trọng canh tân về kinh tế, thì văn hóa lại rất được quan tâm. Những thành tựu văn học chính là điểm son trong thời kì này như nhận định của nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang: “Văn học triều Nguyễn như miếng vá gấm trong một chiếc áo đã cũ kĩ, mục nát” (dẫn theo Nguyễn Thị Liên, 2016, tr.
Thơ ca của vua Tự Đức, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản. là minh chứng cho những đóng góp to lớn của triều đại này về văn học. Trong lĩnh vực giáo dục, triều Nguyễn vẫn đề cao học thuyết Nho giáo và dựa vào nền tảng học thuyết này để cai trị đất nước. Triều đình thành lập Quốc Tử Giám và tổ chức các kì thi Hương, thi Hội để chọn nhân tài.
Công tác biên soạn quốc sử, địa chí. được quan tâm, đáng chú ý là các công trình “Nhất thống dư địa chí” và “Quốc triều hình luật”. Bức tranh toàn cảnh xã hội thời kì này thực sự ảm đạm. Đời sống nhân dân cơ cực, mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc.
Từ triều Gia Long đến triều Tự Đức, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, binh lính diễn ra khắp nơi. Đáng chú ý là cuộc binh biến do Lê Văn Khôi cầm đầu kéo dài hai năm ở Gia Định dưới triều Minh Mệnh, đã khiến triều đình tốn nhiều tài lực để dẹp loạn. Cuộc sống của người dân không chỉ khó khăn do những chính sách hạn chế, 19 hà khắc của triều đình mà còn do thiên tai, bệnh dịch, mất mùa liên tục xảy ra. Năm 1820, nạn dịch hạch làm chết hơn 300 nghìn người.
Tháng 3 năm 1926, vùng Nam Định, Hải Dương mất mùa; cùng năm này, bệnh dịch ở Gia Định làm chết binh và dân khoảng 18 nghìn người. Thời Tự Đức (1848 – 1883), đê Văn Giang vỡ 18 năm liền nên đất phải bỏ hoang. Vùng Hưng Yên, Khoái Châu bị lụt nhiều năm khiến nhiều nông dân phải đi ăn xin. Nguyễn Duy Oanh cũng đã mượn những câu hát dân gian để mô tả tình cảnh xã hội bấy giờ: “… Dân nghèo thì cùng kiệt Kẻ lưu lạc tha phương Người chết chợ chết đường … Là cái đời Tự Đức.” (Nguyễn Duy Oanh, 1974, tr.32) Tóm lại, chính sách đối nội trên đã không giúp nhà Nguyễn duy trì một vương triều vững mạnh, một xã hội ổn định, phồn vinh mà còn làm cho kinh tế đất nước ngày càng trì trệ, nghèo nàn.
Về đối ngoại Đối với Trung Quốc, các vua triều Nguyễn luôn đặt mối quan hệ giao hảo, thực hiện chính sách mềm dẻo, vừa tỏ ra thần phục, vừa giữ uy thế của một quốc gia độc lập, tự chủ. Đối với các nước láng giềng như Ai Lao (Lào), Cao Miên (Campuchia), nhà Nguyễn thiết lập mối quan hệ “đàn anh”, dành cho họ nhiều sự giúp đỡ. Riêng đối với Xiêm (Thái Lan), tuy cũng có lúc hai bên tranh giành ảnh hưởng, nhưng nhìn chung vẫn bang giao ổn định, ôn hòa. Đối với các nước phương Tây, từ thời Gia Long, triều đình đã nhìn thấy nguy cơ bị đe dọa chủ quyền, độc lập nên các triều vua Nguyễn đều có những chính sách củng cố quốc phòng, một mặt hạn chế sự tiếp xúc với phương Tây, 20 mặt khác lại cử những phái đoàn buôn bán, giao thương nhưng thực chất là thăm dò tình hình đối phương để tìm kế sách ứng phó.
Đến thời Thiệu Trị, tình hình tuy cũng có những bất ổn nhưng cơ bản vẫn kiểm soát được. Từ khi Tự Đức kế vị, đã thực hiện nhiều chính sách bảo thủ, kìm hãm sự phát triển của đất nước khiến tình hình càng rối ren. Việc trọng nông, ức thương đã tạo nên mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội và chính sách bế quan tỏa cảng đã đẩy mâu thuẫn với nước ngoài (Pháp, Tây Ban Nha) lên cao trào. Đỉnh điểm là chính sách cấm đạo, diệt đạo Gia – tô của Tự Đức, đó là lí do để liên minh Pháp – Tây Ban Nha đổ bộ vào Đà Nẵng vào ngày 1 tháng 9 năm 1858, bắn phát súng đầu tiên trên bán đảo Sơn Trà, hợp thức hóa hành động xâm lược thuộc địa sau bao năm ấp ủ bằng lí lẽ bảo vệ đạo Gia – tô.
Trước tình hình đó, vua tôi nhà Nguyễn hết sức lúng túng. Triều đình chia làm hai phái: chủ hòa và chủ chiến. Ban đầu, Tự Đức cũng có động thái chống trả, tuy nhiên, càng về sau, trước những thất bại liên tiếp, vua từng bước chấp nhận thương lượng, nhượng bộ dần các yêu sách từ Pháp, bắt đầu từ Hòa ước Nhâm Tuất (05/6/1862). Với hệ tư tưởng Nho giáo bảo thủ, triều đình Huế thờ ơ với những phát minh về khoa học kĩ thuật của phương Tây, khước từ mọi canh tân của những trí thức cấp tiến.
Chính vì vậy, những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền đều bị triều đình “ngó lơ”. Phan Thanh Giản đã từng “than thở”: “Từ ngày đi sứ tới Tây kinh, Thấy việc Âu châu phải giật mình. Kêu gọi đồng bang mau kịp bước, Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…” (Tự thán) (Nguyễn Duy Oanh, 2003, tr.140) 21 Chính vì vậy, Việt Nam, vốn là nước nông nghiệp lạc hậu, lại càng bị tụt hậu so với văn minh thế giới. Trong điều kiện lịch sử ấy, Phan Thanh Giản đã nhận ra sự khác biệt quá xa giữa văn minh Đông – Tây, sự chênh lệch trong tương quan lực lượng với Pháp.
Nhưng với vai trò một công thần mẫn cán, một bề tôi lương đống của triều đình, ông nhận trọng trách thương thuyết Hòa ước Nhâm Tuất với Pháp. Và khi thỏa thuận không thành công, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay Pháp, để rồi 5 năm sau, Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, chính vì vậy, “bi kịch thời đại” lại trở thành “bi kịch” của chính cuộc đời ông. Tác giả Phan Thanh Giản Những công trình nghiên cứu Phan Thanh Giản thường để lại ấn tượng trong lòng độc giả về một trí thức khai khoa tiến sĩ Nam Kỳ, một vị quan thanh liêm, mẫn cán; một nhân vật chính trị có nhiều “vấn đề”; một tác gia văn học với nhiều tác phẩm để đời. Do vậy, để hiểu rõ hơn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, hay thi sĩ Phan Lương Khê, thì việc tìm hiểu thân thế, sự nghiệp chính trị, sự nghiệp văn chương… sẽ góp phần tạo nên câu trả lời xác tín nhất.