chương I của luận văn này. Các đặc trưng của một bộ phận văn học đương nhiên thể hiện rõ nhất trong những tác phẩm tiêu biểu và điển hình. Theo cách quan niệm đó, trong luận văn của mình, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát những tác phẩm mà chúng tôi cho là mang tính điển hình của bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam sau đây: 1. Cỏ lau: Tập truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, bản in năm 1989.
Tập truyện ngắn bao gồm 3 truyện: Mùa trái cóc ở Miền nam, Cỏ lau và Phiên chợ Giát. Nguyễn Minh Châu được coi là nhà văn đi tiên phong cho sự đổi mới văn học Việt Nam kể từ 1986. Ở những tác phẩm cuối đời của ông người ta thấy những mầm mống đầu tiên của sự đổi mới trong văn học, đặc biệt là trong truyện ngắn và tiểu thuyết. Do vậy, chúng tôi coi những truyện ngắn trong tập Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu là những tác phẩm mang dấu hiệu cho sự ra đời của bộ phận văn học “vết thương” sau Đổi mới 1986.
21 z Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới 2. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, bản in năm 2006 do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Tiểu thuyết Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, bản in năm 1988 do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, bản in năm 1987 của Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành.
Tiểu thuyết Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, bản in năm 2003 của Nhà xuất bản Văn học. Tiểu thuyết Lão Khổ và truyện ngắn Bước qua lời nguyền in trong Tạ Duy Anh – Tác phẩm chọn lọc bản in năm 2002 của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. Tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, bản in năm 2002 của Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc. Tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài, bản in năm 2006 của Nhà xuất bản Đà Nẵng.
Tiểu thuyết Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng, bản in năm 2009 của Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng, bản in năm 1999 của Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Ngoài ra, do nhiệm vụ so sánh với trào lưu văn học “vết thương” ở Trung Quốc nên trong những trường hợp cụ thể, chúng tôi sẽ sử dụng cả những tác phẩm tiểu biểu của văn học Trung Quốc thuộc trào lưu văn học này như: Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ, Vết thương của Lư Tân Hoa,… 22 z Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới 4. ươ p p ê ứu Trước một đối tượng là một hiện tượng văn học còn khá xa lạ đối với lý luận văn học cũng như văn học sử, việc đặt ra mục tiêu khái quát được những nét bản chất về diện mạo cũng như đặc trưng về mặt mỹ học của văn học “vết thương” luận văn đòi hỏi sự vận dụng mang tổng hợp nhiều phương pháp.
Trong luận văn của mình, chúng tôi chủ yếu vận dụng ba phương pháp chính là: Phương pháp hệ thống, phương pháp mỹ học và phương pháp so sánh. Phương pháp mỹ học là phương pháp quan trọng nhất trong việc cung cấp những tiền đề lý luận giúp chúng tôi rút ra những nhận định khái quát về những đặc trưng thẩm mỹ của bộ phận văn học “vết thương” Việt Nam. Phương pháp so sánh được sử dụng như một nhu cầu tất yếu để đáp ứng mục tiêu so sánh sự giống và khác nhau giữa bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam với dòng Văn học vết thương ở Trung Quốc. Phương pháp hệ thống được vận dụng như một phương pháp tối ưu để khảo sát về một bộ phận văn học độc lập như văn học “vết thương”.
Việc đặt bộ phận văn học này trong dòng chảy chung của những sáng tác về đề tài lịch sử cũng như văn học đương đại theo cái nhìn của phương pháp hệ thống sẽ cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện và bao quát hơn về vị trí và vai trò của nó. Ngoài các phương pháp nêu trên chúng tôi cũng sử dụng những thao tác mang tính bổ trợ như thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp, thao tác so sánh đối chiếu,… 5. Cấu trú u v Từ nhiệm vụ đã được nêu ở trên, luận văn của chúng tôi sẽ được triển khai theo ba chương như sau: C ươ 1: V ọ vết t ươ ở Trung Qu và V ệt Nam – Một so s ị đại 23 z Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới C ươ 2: Đặ trư t ẩm mỹ củ v ọ vết t ươ V ệt Nam C ươ 3: Một và đặ trư t p p của bộ ph v ọ vết t ươ tr v xuô Việt Nam thời kỳ Đổi mới C ươ 1: VĂN HỌC V T THƯ NG Ở TRUNG QUỐC VÀ VI T NAM – MỘT S SÁNH ỊCH ĐẠI Sự khác biệt về bản chất trong cơ sở xã hội và thẩm mỹ, một cách tất yếu, quy định sự khác biệt giữa trào lưu Văn học Vết thương ở Trung Quốc với bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam từ nội dung cho tới quá trình vận động và phát triển. Do vậy, một cái nhìn so sánh theo trục lịch đại giữa hai bộ phận văn học này sẽ là cần thiếp giúp chúng ta có thể khu biệt hai đối tượng này trên những đường nét cơ bản nhất.
Đây cũng chính là nội dung chủ yếu của chương 1 mà chúng tôi sẽ triển khai dưới đây. Trà ưu V ọc Vết t ươ ở Trung Qu c Năm 1959, sau những thất bại nặng nề trong kế hoạch Đại nhảy vọt của mình, Mao Trạch Đông buộc phải từ chức Chủ tịch nhà nước. Những năm đầu thập niên 60 sau đó, mặc dù vẫn giữ chức chủ tịch đảng song Mao Trạch Đông gần như buộc phải đứng bên ngoài những vấn đề thường nhật của nhà nước và chính phủ. Đặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ, những người đang nắm quyền trong nhà nước và chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ, dường như muốn trục xuất Mao Trạch Đông ra khỏi bộ máy quyền lực nhưng vẫn giữ ông ta trong vai trò biểu tượng quốc gia.
Mao Trạch Đông đương nhiên không thể chấp nhận điều đó. Để lấy lại vị trí và quyền lực của mình và loại bỏ đối thủ trực tiếp khi đó là Lưu Thiếu Kỳ, Mao đã phát động cái gọi là Đại Cách mạng Văn hóa Giai cấp Vô sản, thường gọi tắt là Đại Cách mạng văn hóa. Trong bản Thông cáo 16/5 được thông qua sau Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng của Đảng Cộng sản Trung Quốc 24 z Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới ngày 16 tháng 5 năm 1966, viện ra lý do rằng, “một số lớn nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản, phần tử xét lại phản cách mạng đã chui vào trong đảng, nhà nước, quân đội” và “quyền lãnh đạo của một số lớn các đơn vị đã không còn trong tay những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin và quần chúng nhân dân”; “Phái đương quyền theo con đường tư bản chủ nghĩa trong đảng đã hợp thành bộ tư lệnh của giai cấp tư sản, chúng có mặt ở tất cả các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương” và “các cuộc đấu tranh trước đây không giải quyết được vấn đề này”, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chỉ có thể tiến hành một cuộc Đại cách mạng văn hóa vô sản công khai, toàn diện, làm từ dưới lên trên, phát động quần chúng nhân dân bóc trần bộ mặt đen tối của chúng, mới có thể giành lại được quyền lực bị mất do phái đi con đường tư bản chủ nghĩa tước đoạt” [66]. Trong suốt 10 năm sau đó, dưới danh nghĩa của cách mạng, Đại Cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông khởi xướng đã bức tử, đày đọa hàng triệu trí thức, thanh niên, đẩy họ về nông thôn, sống một cuộc sống khổ ải để “phục hồi lại tinh thần cách mạng”.
Bên cạnh sự bần cùng hóa về vật chất, Đại Cách mạng văn hóa còn là một sự bức hại về tinh thần khi tất cả những giá trị về văn hóa, những quan niệm xã hội, chính trị và đạo đức gần như bị đảo lộn toàn bộ. “Các tiệm sách phải đóng cửa hết. Trong 6 năm liền không in tập sách nào cả, trừ tập Sách đỏ của Mao và ít cuốn về kỹ thuật… Trong các thư viện, người đọc sách chỉ được mượn những tác phẩm ngoại quốc đã được lựa chọn kỹ: Balzac, Dickens, Zola “những tác giả chứng nhân của thời đại mục nát, tan rã của giai cấp tiểu tư sản”. Người ta duyệt lại các giá trị văn hoá cũ của nhân loại: Shakespeare, Mozart, Bethoveen, Bach bị đả kích; ngay Tolstoi, Hugo trước kia được coi là tiến bộ nay cũng bị mạt sát… Các đền đài, viện bảo tàng đóng cửa hết, có nơi dùng làm kho chứa rác, làm trại lính.
Bảo vật, nhất là các tượng bị phá huỷ” [30]. Trong suốt thời gian đó, thứ duy nhất người ta bị nhồi nhét vào đầu chính là tư tưởng Mao Trạch Đông và họ buộc phải coi đây là chân lý nếu không muốn trở thành phản động. Hoàn toàn không ngoa khi người ta nói rằng, 25 z Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới mười năm của Đại cách mạng văn hóa chính là 10 năm hỗn loạn, bi ai và xót xa nhất trong lịch sử hiện đại Trung Quốc. Với những số phận cá nhân, Đại cách mạng văn hóa chính là một biến cố đầy đau khổ và cực kỳ ám ảnh cho tới tận ngày nay, khi cuộc đại cách mạng này đã trôi qua gần 40 năm.
Năm 1976, cuộc Đại Cách mạng văn hóa kéo dài suốt 10 năm cuối cùng cũng kết thúc khi Mao Trạch Đông qua đời vào tháng 4 và sau đó, “bè lũ bốn tên” gồm Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên bị bắt. Khi cái biến cố khủng khiếp đã trở thành quá khứ thì cũng là lúc người dân Trung Quốc bàng hoàng thức tỉnh trước những gì họ vừa trải qua. Đó cũng là lúc họ ý thức được rằng, Đại Cách mạng văn hóa 10 năm qua đã đày đọa, bức hại và để lại những “vết thương” trầm trọng cả về tinh thần lẫn thể xác đối với họ.