Chương 1: Mối quan hệ trong gia đình truyền thống Chương 2: Mối quan hệ trong gia đình hiện đại Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật tiêu biểu thể hiện đề tài gia đình 10 z Chƣơng 1: MỐI QUAN HỆ TRONG GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước với vốn văn hóa bản địa cùng với việc ảnh hưởng của một số yếu tố văn hóa ngoại lai đặc biệt là tư tưởng Nho giáo đã hình thành nên nếp nghĩ, lối sống của người Việt. Gia đình truyền thống của người Việt Nam được xây dựng trên nền tảng văn hóa đó. Trong những gia đình truyền thống thường có nhiều thế hệ cùng sinh sống theo kiểu tam, tứ, ngũ đại đồng đường nên có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống. Theo các nhà nghiên cứu, kiểu gia đình này phổ biến nhiều nhất ở vùng nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ.
Gia đình truyền thống luôn hướng tới sự chuẩn mực về đạo đức. Những chuẩn mực này không được quy định thành văn bản nhưng được tồn tại và tiếp nối trong tâm khảm, lối sống của các thế hệ trong gia đình tạo thành gia phong, gia đạo, gia lễ. Kiểu gia đình này được tổ chức có tôn ti, trật tự, trên kính dưới nhường, luôn đặt quyền lợi, danh dự gia đình, dòng tộc lên trên hết. Mọi thành viên trong gia đình đều lấy sự ổn định, bền vững của gia đình, lấy tình nghĩa, đạo hiếu làm trọng.
Gia đình truyền thống ở Việt Nam là gia đình phụ quyền: “Trong chế độ phụ quyền, ngƣời đàn ông làm chủ gia đình (gia trƣởng) là ngƣời có quyền uy tuyệt đối…Về nguyên tắc ngƣời phụ nữ, tức ngƣời vợ hoặc ngƣời mẹ, tất không có quyền gì cả” [19, tr. Hiện nay kiểu gia đình truyền thống này vẫn thể hiện được ưu điểm nhưng cũng tồn tại không ít những bất cập. Với cái nhìn nhạy bén và tài năng, các tác giả Ma Văn Kháng, Dạ Ngân, Nguyễn Bắc Sơn đều thể hiện các vấn đề của gia đình truyền thống trong tác phẩm của mình thông qua hàng loạt các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Mối quan hệ vợ - chồng Có thể nói quan hệ vợ chồng là mối quan hệ cơ bản, nền tảng tạo nên sự hình thành, tồn tại và phát triển của gia đình.
Những quy tắc, chuẩn mực 11 z đạo đức của gia đình truyền thống đã quy định cách ứng xử trong mối quan hệ vợ chồng. Trong quan hệ vợ chồng nghĩa tình, thủy chung được coi là những giá trị đạo đức căn bản để có được cuộc hôn nhân hạnh phúc, bền vững. Những tình cảm quý báu này có được là nhờ sự quan tâm, gắn bó, yêu thương, cùng nhau chia sẻ gánh vác công việc gia đình giữa vợ và chồng. Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vƣờn, Ma Văn Kháng xây dựng một gia đình thành thị ở thời kỳ đầu đổi mới có ba thế hệ cùng sinh sống: thế hệ ông bà (ông bà Bằng), các con (các cặp vợ chồng: Tường- Hoài, Đông- Lý, Luận- Phượng, sau này là Cần- Vân), các cháu (Dư- con trai của vợ chồng Đông Lý, Nga- con gái vợ chồng Luận Phượng, Quân anh, Quân em- con trai của Cừ).
Trong gia đình lớn ấy, gia đình nhỏ của Phượng và Luận là một gia đình lí tưởng. Gia đình Phượng – Luận ở trong một căn phòng hẹp nhưng “Đây là vũ trụ thu nhỏ, ở đó sống chung hai con ngƣời hiểu nhau, tôn trọng nhau và dắt dìu nhau. Ở đây có cả hạnh phúc chăn gối thân mật mà không suồng sã thô bạo…Chị là sự dịu dàng, êm ái, bản năng nhân từ, tinh tế, bền bỉ, sâu kín. Anh, thông minh, khách quan, ý chí, duy ngã, mạnh mẽ” [16, tr.
Cả hai hài hòa, đắp đổi cho nhau, tạo nên mối quan hệ bền vững. Hai vợ chồng đều là cán bộ công nhân viên chức trong thời kì bao cấp, cuộc sống của họ về vật chất còn thiếu thốn đủ thứ: Luận đi một đôi giày rách hết mõm, quần áo của Phượng thì cũ kĩ, sờn rách. Lấy nhau nhưng phải sống xa nhau tới chín năm vì Luận đi bộ đội, Phượng về tỉnh nhỏ công tác. Tưởng chừng cuộc sống thiếu thốn, xa cách ấy sẽ làm mai một đi tình cảm vợ chồng nhưng ngược lại họ sống với nhau rất tình nghĩa, thủy chung.
Trong cuộc sống khó khăn, họ nhường nhịn nhau từng miếng ăn, luôn quan tâm, chăm sóc cho nhau: “- Anh Luận, anh về ăn cơm đi Luận nhìn vợ, tràn ngập yêu thƣơng: - Anh ăn rồi. Sao em cứ nhịn nhƣờng cho anh thế? - Em ăn thật rồi mà. 12 z - Phƣợng, em nói dối anh phải không?” [16, tr. Luận luôn tâm sự, sẻ chia với vợ để cả hai cùng hiểu nhau hơn.
Anh đã từng nói với Phượng: “Dân tộc mình sống có nghĩa, có tình sâu sắc, một nghĩa tình gừng cay muối mặn, tao khang, vì đã qua lửa đạn, gian truân. Em cứ nghĩ mà xem: không có lòng nhân hậu, vị tha, sự hy sinh và nhẫn nại thì sao mà có tình yêu đƣợc, làm sao biết sống làm ngƣời đƣợc” [16, tr. Đây không chỉ là quan niệm mà nó đã trở thành cách sống, lối sống của Luận trong cách ứng xử vợ - chồng. Anh muốn khẳng định tình cảm vợ chồng thiêng liêng như cha ông ta từng sống “tay bƣng chén muối đĩa gừng/ gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”.
Đó là cái tình, cái nghĩa vợ chồng rất mặn mà, son sắt. Ở Phượng toát lên hình ảnh của người vợ dịu hiền, hết mực thương yêu chồng. Chị biết hy sinh, chịu đựng, biết lo toan, gánh vác công việc của nhà chồng. Phượng đã cùng Luận cưu mang vợ con Cừ, sống hài hòa với mọi người trong gia đình, hiếu thảo với cha mẹ.
Bởi vậy Luận lại càng thương yêu, tôn trọng Phượng. Từ đó tình cảm vợ chồng càng khăng khít, bền chặt hơn. Gia đình vợ chồng Luận- Phượng là mẫu gia đình lí tưởng trong thời buổi kinh tế thị trường khi mà đồng tiền có sức mạnh chi phối mọi mặt trong đời sống. Xây dựng mối quan hệ vợ chồng Luận- Phượng, Ma Văn Kháng muốn ca ngợi vẻ đẹp, sức sống của văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc.
Ông Bằng trong tác phẩm cũng được coi là hình mẫu của một người sống hết mình với đạo đức truyền thống dân tộc. Là nhân viên bưu điện, nhà giáo, nhà báo, giờ ông Bằng đã nghỉ hưu, sống quây quần bên con cháu. Với ông, những gì thuộc về truyền thống đều tốt đẹp. Ông luôn có ý thức giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống.
Trong mối quan hệ vợ chồng cũng vậy, từ ngày bà Bằng mất cùng với tuổi già, sức yếu, ông Bằng cảm thấy cô đơn, hụt hẫng và trống trải. Mặc dù đã kết bạn với bà lang Chí mong để tìm được người sẻ chia khi về già nhưng tình nghĩa vợ chồng ông không bao giờ quên. Bởi vậy, trong những ngày cuối cùng trên giường 13 z bệnh, hình ảnh người vợ vẫn hiện về trong ông với bao kỉ niệm: “Cái tình cái nghĩa vợ chồng dẫu có cách lìa đôi ngả vẫn cứ ngàn năm sắt vàng…Ông nhớ lại toàn bộ chi tiết cuộc sống chung của vợ chồng ông. Ông nhớ cái buổi đầu tiên ông gặp bà…Ông nhớ ngày bà bị ốm, rụng hết tóc, ông ngồi cạnh giƣờng bà, đọc cho bà nghe cuốn truyện nôm “Tống Trân- Cúc Hoa”, mắt bà ƣớt nhoèn nƣớc mắt” [16, tr.
Bà lang Chí cũng là một người vợ, người phụ nữ hiện thân cho vẻ đẹp truyền thống văn hóa và đạo đức. Bà không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong cuộc sống vợ chồng. Nhưng người vợ ấy vẫn nhớ đến tình nghĩa vợ chồng với nhau. Những ngày giỗ chồng bao giờ bà cũng lo lắng chăm chút chu đáo.
Như vậy vợ - chồng ăn ở có tình có nghĩa không chỉ là khi còn sống mà cả khi đã lìa xa cõi đời thì họ vẫn nặng lòng với nhau. Ma Văn Kháng đã rất có lý khi ông cho rằng chừng nào con người còn gìn giữ được những nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc thì “Sự bền vững của các mối quan hệ tình cảm gia đình là tự nhiên, vốn có. Chồng yêu quý vợ. Cha yêu con.
Cái tình đƣơng nhiên ấy cũng ngàn năm tồn tại, vĩnh hằng tồn tại, nhƣ tình yêu đất nƣớc, giống nòi vậy thôi” [16, tr. Trong các tiểu thuyết viết về đề tài gia đình, Nguyễn Bắc Sơn chú ý nhiều hơn đến các vấn đề của gia đình hiện đại. Tuy nhiên các vấn đề của gia đình truyền thống vẫn được nhà văn nhìn nhận và phản ánh.Tiểu thuyết Vỡ vụn, viết về mối quan hệ của vợ chồng Chính- Thu, một cuộc hôn nhân không có hạnh phúc dẫn đường. Chính và Thu đều làm công tác giảng dạy.
Thu hơn hẳn Chính về bằng cấp, chị là Phó giáo sư của một Viện nghiên cứu, Chính chỉ là giảng viên bình thường. Nhưng Thu lại thua xa chồng về hiểu biết thực tế đời sống xã hội. Họ sống bên nhau nhưng trở thành những người xa lạ. Thậm chí ở cùng nhà nhưng chẳng ai nhìn ai, một “khu phi quân sự” đã hình thành trong ngôi nhà của họ.
Chính gặp Thảo, họ có con với nhau, Thu mắc bệnh không có khả năng nói và đi lại được nữa. Tưởng rằng Chính sẽ li dị Thu để sống bên Thảo. Nhưng chính lúc này cái nghĩa vợ chồng ăn ở với 14 z nhau đã không cho phép Chính làm như vậy. Có thể Chính giữ thể diện như lời của Thảo: “Bởi thầy giáo còn có danh dự, uy tín xã hội, họ tộc, nhà trƣờng, sinh viên nữa cơ mà…” [38, tr.
Nhưng đây có lẽ chưa phải là những lí do quyết định việc Chính vẫn ở lại bên Thu trong lúc này. Tình yêu, sự hòa hợp vợ chồng không còn nhưng giữa hai người là cái nghĩa vợ chồng: “Chính từ chối tất cả những học phần dài ngày ở xa. Hằng ngày, lên lớp hay đi đâu, làm việc gì anh đều về nhà ngủ. Ngày nào cũng nhƣ ngày nào, ít nhất hai lần vào thăm vợ trƣớc khi đi đâu hoặc trƣớc khi đi ngủ.
Những lúc ấy mắt chị sáng lên lấp lánh niềm vui và biết ơn” [38, tr. Anh thấy không thể sống ích kỉ, hẹp hòi, bỏ rơi vợ để có được hạnh phúc mới cho riêng mình trong hoàn cảnh này. Chính vẫn muốn làm hết trách nhiệm của một người chồng với Thu. Trong cuốn Luật đời & cha con, Nguyễn Bắc Sơn rất ca ngợi về tình nghĩa, thủy chung của cặp vợ chồng Thảo Tần và Trần Kiên.
Trần Kiên là một bí thư Quận ủy tài năng và tâm huyết với công việc. Bởi vậy Thanh Diệu- cấp dưới của anh rất ngưỡng mộ và say mê anh.