chương 1 Xuất hiện ở giai đoạn thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, truyện Song Tinh Bất Dạ là một tác phẩm có vai trò là truyện Nôm bác học đầu tiên thuộc văn học xứ Đàng Trong. Truyện viết về đề tài tình yêu nam nữ với những khát vọng tình yêu chính đáng của con người đời thường là một bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành thể loại truyện Nôm tài tử - giai nhân, thể hiện sự thay đổi quan trọng trong tư duy nghệ thuật của các tác giả văn học trung đại Việt Nam. 17 Chương 2 SONG TINH BẤT DẠ - DẤU MỐC CỦA BƯỚC CHUYỂN ĐỔI TỪ PHẠM TRÙ CHỮ “TÂM” SANG CHỮ “THÂN” 2. Sự chuyển đổi tư duy từ phạm trù chữ “tâm” sang chữ “thân” trong văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại Việt hình thành và phát triển là một hành trình dài từ hế kỷ X đến hết thế kỷ XIX.
Trong suốt hành trình đó, các tác giả văn học có những bước chuyển về tư duy nghệ thuật. Theo nhà nghiên cứu GS. Trần Đình Sử, tư duy văn học là một tiêu chí để phân kì văn học và thế kỷ XVIII là một dấu mốc quan trọng. Bởi vậy, ông phân chia văn học trung đại thành hai giai đoạn lớn: từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII và từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX.
Ông khẳng định rằng, cách chia này, phù hợp với tiến trình tự ý thức của con người trong văn học: “Trước thế kỷ XVIII con người trong văn học chủ yếu được khẳng định trong các lý tưởng lớn, vì dân tộc, trong đạo đức phong kiến theo quan điểm Nho giáo hay trong sự siêu thoát với đạo lão, đạo thiền; từ thế kỷ XVIII trở đi con người trong văn học tự khẳng định mình qua các nhu cầu sống trần tục” [20; 56]. Như vậy, có thể thấy giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỷ XVII, tư duy nghệ thuật của các tác giả trung đại hướng đến vấn đề lý tưởng lớn lao về đạo đức, nghĩa vụ hay nói cách khác là hướng đến vấn đề chữ “tâm”; còn giai đoạn sau đó, các tác giả đã chuyển sang vấn đề chữ “thân” tức là hướng đến ý thức về thân phận khổ đau của cá nhân và những khát vọng về tình yêu hạnh phúc đôi lứa, nhu cầu trần tục, đời thường nhất của con người. Giai đoạn thế kỉ X – XVII có thể nói là giai đoạn văn học hướng về chữ “tâm”. Cái “tâm” của con người thời này phản ánh là lương tâm, nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo lí, là hướng tới những vấn đề tư tưởng lớn lao của xã hội, dân tộc, thậm chí là cái tâm siêu nghiệm, đứng ngoài sinh diệt, đau khổ.
Những nhu cầu, 18 khát vọng đời thường thường không được chú trọng, ít nhắc đến mà có nhắc đến cũng không thoát ra được khỏi vòng của chữ “tâm” lí tưởng. Theo quan điểm của đạo Thiền, thân xác con người chỉ là pháp tướng, là một dạng thức tồn tại của bản thể, thân xác có chết đi cũng chỉ là kết thúc một dạng thức tồn tại, còn bản thể thì không mất. Cái “tâm” của nhà Phật là cái tâm thanh tịnh, hư không, vạn vật, kể cả thân xác mình dầu có hay không cũng không quan hệ gì: “Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô”. (Thân người như bóng chớp, có rồi lại không, Cây cối đến tiết xuân thì tươi, đến tiết thu lại héo.) (Thị đệ tử - Vạn Hạnh) “Thân như tường bích dĩ đồi thi, Cử thế thông thông thục bất bi” (Thân người ta khi đã thành cái xác chết giống như tường vách đổ, Thì ai đời mà chẳng hoảng hốt, buồn đau.) (Tâm không - Viên Chiếu) Người ta coi vô thân mới là chân thân, coi mọi biến đổi của vạn vật như không, không cần sợ, không kinh ngạc, hơn nữa là có thái độ điềm nhiên, bình thản trước cái chết của chúng sinh và của chính mình.
Thái độ của Phật giáo xem bản thân, cuộc đời con người như huyễn ảnh, không có thực. Như vậy, là đã phủ nhận cái thân của chính mình mà chỉ chú trọng đến cái tâm siêu nghiệm, hướng đến thoát tục lên với cõi niết bàn. Cũng có khi, người ta thấy văn học Phật giáo cũng có con người giải phóng cá tính khỏi các giáo điều của Thiền tông như Trần Tung (1230 – 1291) khi trả lời em gái hỏi tại sao ông lại ăn thịt, đã nói : “Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh”.
Ý nói không cần theo giới 19 luật quá cứng nhắc, Phật là tâm, tâm là Phật, mình phải an nhiên theo con đường của mình, theo cái tâm của mình. Mọi thứ đều xuất hiện với “tâm” và mất đi với “tâm”. Đó là con người “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “Đói thì ăn chừ, cơm tuỳ ý/ Mệt thì ngủ chừ, làng không làng!.” làm chủ trong mọi biến đổi. Có thể nói đó là con người tự do nhưng tự do này là tư do hướng nội, tự do vứt bỏ tất cả để tạo lập một thế giới riêng trong tâm tưởng của riêng mình chứ chưa gắn với đời sống thực tại.
Đậm đặc hơn, văn học thời kì này chủ yếu phản ánh ý thức của con người là hướng đến vấn đề đạo đức, lí tưởng lớn theo tư tưởng của Nho giáo. Con người được thể hiện với cái tâm lớn lao là trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước độc lập, dân chủ, tâm thế sánh ngang tầm vũ trụ thể hiện được chí nợ tang bồng, công danh “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo thai sơn nhẹ tựa hồng mao”, xả thân vì nghĩa lớn: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Thuật hoài- Phạm Ngũ Lão) Tư duy của con người trung đại hướng đến những vấn đề đạo đức như chữ “trung” – trung quân ái quốc, cái chí của nhà nho, “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” (Nguyễn Đình Chiểu). Trong đó không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi, một con người nhân nghĩa, yêu nước, thương dân. Là một nhà nho đích thực nặng mối tiên ưu, “lòng hãy lo bền đạo Khổng môn”, ông luôn đeo đẳng lí tưởng: “Bui có một niềm chăng nỡ trễ – Đạo làm con với đạo làm tôi”, mong được đem sức tàn giúp việc đời, trọn đạo vua tôi: 20 - “Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.” (Thuật hứng - IV) - “Còn có một lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung.” (Thuật hứng - XXIII) Hay như Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà nho cũng mang nặng một “Tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi”.
Cả cuộc đời vẫn muốn giúp nước, giúp dân nhưng cuối cùng chỉ biết “thẹn già không có tài”, không đem được tài, sức ra để thực hiện lí tưởng, đạo lí. Xuyên suốt trong văn học trước thế kỉ XVIII, các tác giả là các nhà nho mang trong mình những lý tưởng lớn lao, vĩ đại của xã hội, vấn đề thân phận và những khát vọng cá nhân thường không được nhắc đến. Con người sống theo luân lí đạo đức, theo lí tưởng thời đại thì được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những ước muốn trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách. Nói như vậy, không có nghĩa là văn học thời kì này không nhắc đến con người đời thường nhưng nó chỉ xuất hiện như những chấm sáng nhỏ bé.
Đó là những lúc Nguyễn Trãi muốn “lại tu thân khác, mặc thi thư” (Mạn thuật - XII), muốn an phận, an lòng trở về với thiên nhiên để hưởng thân nhàn “Lều nhàn vô sự ấy lâu đài” (Tự thán - XIV). Hoặc như Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn lối sống ẩn dật, khép kín, yên phận “Yên đòi phận, dầu tự tại/ Lành dữ khen chê cũng mặc ai”, tự nhận mình là ngu dại, kém cỏi “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao”. Mặc dù, các nhà nho dần ý thức về số phận cá nhân, về bản lĩnh con người, muốn được sống thảnh thơi cho mình. Song, thân muốn nhàn nhưng tâm không nhàn, họ vẫn bắt buộc mình đi theo 21 khuôn khổ lễ giáo với đạo vua tôi, làm việc lớn, ích quốc lợi dân, chứ không phải đi tìm cái lợi cho con người cá nhân của mình.
Sang Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, con người của hoài bão, lí tưởng cao siêu theo quan niệm Nho giáo dần bị phai nhạt, con người không đi theo lí tưởng, hoài bão lớn lao nữa mà đã hướng đến thể hiện tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, đời sống và lý tưởng của kẻ sĩ. Mặc dù đã hướng tới nhu cầu cơ bản của con người nhưng lại được biểu hiện với những mặt phản diện tiêu cực như: Trình Trung Ngộ tham dục với hồn ma cây gạo (Nhị Khanh); chàng Hà Nhân đắm chìm với hai hồn hoa Liễu Nương, Đào Nương; Đào Hàn Than với sư Vô Kỷ tham dục sau biến thành Thuồng luồng; Lý tướng quân làm ác bị Diêm Vương trị tội; người con gái Nam Xương chết oan vì chồng ghen bóng ghen gió, v. Tức là, đã táo bạo trong việc thể hiện cuộc sống cũng như quan niệm cá nhân về con người, lên tiếng đấu tranh cho quyền sống, khát khao hạnh phúc, tự do cá nhân nhưng về cơ bản quan niệm chủ đạo của Nguyễn Dữ là bảo vệ lễ giáo phong kiến. Những nhu cầu, khát vọng đời thường nhất của con người như tình yêu và chữ “dục” vẫn bị xem khinh, lên án qua các cuộc tình của những giống yêu ma, những kẻ đa dục.
Bước sang thế kỷ XVIII đã xảy ra một bước ngoặt lớn trong tư duy, tư tưởng con người, làm nở rộ một dòng văn học nhân đạo, khác với văn học nhân nghĩa làm chủ đạo trước đó. Bước ngoặt làm đổi thay tư duy của con người ấy là: Trước thế kỷ XVIII con người chỉ được đánh giá trong thang bậc của đạo lý và ở sức mạnh tinh thần, con người lý trí càng vươn lên khắc phục được cá nhân nhỏ bé, phàm tục thì càng có giá trị. Sang thế kỷ XVIII tình hình đổi thay, dần hướng đến quyền sống của con người đời thường, giá trị con người thân xác với bao thứ “dục” chính đáng được xem là trung tâm.