Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Văn học Việt Nam với đề tài "Giá trị thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn" do sinh viên Đỗ Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. An Thị Thúy tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2017).
Thời đại Hồng Đức ghi nhận một giai đoạn thịnh trị của nhà nước phong kiến Hậu Lê, đồng thời đánh dấu bước phát triển quan trọng của nền văn học dân tộc với sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập. Mặc dù tập thơ quy tụ nhiều sáng tác mang tính chất cung đình xướng họa, tác phẩm đã kế thừa xuất sắc những thành tựu của thơ Nôm trước đó, đặc biệt là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Trong đó, thơ vịnh sử là một đề tài lớn, phản ánh nguồn cảm hứng lịch sử của cả Việt Nam và Trung Quốc, thể hiện nhân cách, quan điểm nhân sinh và lòng tự hào dân tộc của các tác giả thời bấy giờ. Tuy nhiên, trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu học thuật, người tiếp cận thường tập trung vào mảng thơ vịnh cảnh, vịnh vật mà chưa khảo sát toàn diện, hệ thống mảng thơ vịnh sử Nôm.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu:
- 1.1. Góp phần tìm hiểu về tác giả Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn.
- 1.2. Xác lập cái nhìn khái quát về thơ vịnh sử trong văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt là trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- 2.1. Nêu những nét khái quát nhất về diện mạo thơ vịnh sử trong văn học trung đại.
- 2.2. Làm rõ giá trị của thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
Đối tượng nghiên cứu: Các bài thơ viết về nhân vật, sự kiện và di tích lịch sử trong văn bản Hồng Đức quốc âm thi tập do Phạm Trọng Điền và Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú giải và giới thiệu.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở việc phân tích, đánh giá các giá trị nội dung và nghệ thuật của mảng thơ vịnh sử trong thi tập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng khái niệm "thơ vịnh sử" từ Từ điển thuật ngữ văn học: thơ vịnh sử là thể tài thơ ca vịnh sự kiện và nhân vật lịch sử, xuất hiện từ thời cổ đại (như Kinh Thi, Li Tao, bài thơ Vịnh sử của Ban Cổ đời Hán viết về nàng Đề Oanh). Đề tài này khai thác chất liệu lịch sử ở ba bình diện: nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử và di tích lịch sử; dựa trên hai nguồn chính là truyền thuyết/dân gian và chính sử. Khóa luận cũng tiếp thu các đánh giá chuyên môn từ các công trình nghiên cứu của Phạm Trọng Điền, Bùi Văn Nguyên, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Na - Lã Nhâm Thìn - Đinh Thị Khang (Văn học trung đại Việt Nam, tập 1) và bài viết của PGS. Bùi Duy Dân trên Tạp chí Văn học số 8-1997.
Tác giả sử dụng phối hợp bốn phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Rà soát toàn bộ 328 bài thơ trong Hồng Đức quốc âm thi tập để lọc ra 48 bài thơ vịnh sử, phân loại theo đối tượng đề vịnh (nhân vật lịch sử, nhân vật truyền thuyết, di tích lịch sử; phân chia nguồn gốc Bắc sử và Nam sử).
- Phương pháp phân tích, bình giảng: Phân tích cấu trúc hình tượng, thi pháp thơ Đường luật chữ Nôm, làm sáng tỏ nội dung tư tưởng và cảm xúc thẩm mỹ.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh đặc điểm tiếp cận giữa mảng thơ vịnh Bắc sử và Nam sử; so sánh diện mạo thơ vịnh sử thời Hồng Đức với giai đoạn trước (thời Lý, Trần, đầu thời Lê) và giai đoạn sau (thế kỷ XVI–XVIII).
- Phương pháp tổng hợp: Đúc kết quy luật vận động của thể loại và khẳng định vị trí lịch sử của tác phẩm trong tiến trình văn học dân tộc.
Nguồn dữ liệu: Văn bản khảo sát chính là cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập (Phạm Trọng Điền - Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú giải, giới thiệu, NXB Văn học); kết hợp tư liệu lịch sử từ Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Thoái thực kí văn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 1 tập trung trình bày bối cảnh lịch sử ra đời tác phẩm, tiểu sử người chủ xướng, cấu trúc hội Tao Đàn và tiến trình vận động của thể loại thơ vịnh sử trong văn học trung đại Việt Nam:
- Tác giả và tác phẩm:
- Hội Tao Đàn: Thành lập vào tháng 11 năm Ất Mão (1495) do vua Lê Thánh Tông (1442–1497) sáng lập và giữ vai trò Tao Đàn nguyên súy. Nhà vua chọn 28 văn thần phong làm "Tao Đàn nhị thập bát tú" (với Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm Phó nguyên súy, cùng các học sĩ, thị thư, kiểm thảo như Ngô Luân, Ngô Hoán, Lưu Hưng Hiếu, Nguyễn Xung Xác, Nguyễn Quang Bật...) và 2 sái phu là Lương Thế Vinh, Thái Thuận (theo Thoái thực kí văn).
- Văn bản tập thơ: Toàn bộ Hồng Đức quốc âm thi tập hiện có 328 bài thơ chữ Nôm, phân bổ thành 5 phần: Thiên địa môn (59 bài), Nhân đạo môn (46 bài), Phong cảnh môn (66 bài), Phẩm vật môn (69 bài), Nhàn ngâm chư phẩm (83 bài).
- Tiến trình thơ vịnh sử:
- Giai đoạn trước thời Hồng Đức: Thời Lý có thơ ca ngợi thiền sư (như Lý Nhân Tông có bài Tặng Giác Hải thiền sư). Thời Trần mở rộng sang vịnh danh nhân (Hưng Đạo Vương, Trần Nguyên Đán, Chu Văn An), nhân vật Bắc sử (Hán Cao Tổ, Đường Trúc Tông, Hạng Vũ) và di tích chiến công (Hàm Tử Quan, Chi Lăng Động, Bạch Đằng Giang). Đầu thế kỷ XV, Lý Tử Tấn có bài Pháp Vân cổ tự kí, Nguyễn Trãi sáng tác các bài chữ Hán vịnh di tích như Vân Đồn, Bạch Đằng giang, Đề Kiếm.
- Giai đoạn sau thời Hồng Đức: Thơ vịnh sử phát triển thành dòng chuyên đề quy mô lớn như Cổ tâm bách vịnh (chữ Hán của Lê Thánh Tông), Việt giám vịnh sử (Đặng Minh Khiêm - 125 bài), Khiếu vịnh thi tập (Hà Nhiệm Đại - 106 bài), Tư hương vạn lục (Lê Quang Bí, Vũ Công Đạo), các sáng tác của Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Cư Trinh, Cao Bá Quát, Nguyễn Du (Bắc hành tạp lục), cùng sự xuất hiện của các tập diễn ca lịch sử quy mô như Thiên Nam ngữ lục (hơn 8.000 câu lục bát) và Thiên Nam minh giám (936 câu song thất lục bát).
Chương 2: Giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn
Chương 2 trình bày kết quả thống kê 48 bài thơ vịnh sử và phân tích toàn diện hai bình diện nội dung và nghệ thuật.
1. Thống kê và phân loại thơ vịnh sử
Khóa luận lập danh mục phân loại 48 bài thơ vịnh sử thành 26 nhóm đối tượng nhân vật và 1 di tích lịch sử:
| STT |
Đối tượng / Nhân vật được đề vịnh |
Số lượng |
Nhân vật lịch sử |
Nhân vật truyền thuyết |
Nam sử (Việt Nam) |
Bắc sử (Trung Quốc) |
| 1 |
Ngưu Lang - Chức Nữ |
3 bài |
|
x |
x |
x |
| 2 |
Thánh Gióng (Xung thiên thần vương) |
1 bài |
|
x |
x |
|
| 3 |
Chử Đồng Tử |
1 bài |
|
x |
x |
|
| 4 |
Triệu Ân (Triệu Thị Trinh) |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 5 |
Trưng Vương |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 6 |
Lý Ông Trọng |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 7 |
Lê Du |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 8 |
Lương Thế Vinh (Điếu cao hương Lương trạng nguyên) |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 9 |
Nguyễn Trực (Điếu nghĩa bang trạng nguyên) |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 10 |
Vũ Nương |
1 bài |
|
x |
x |
|
| 11 |
Mỵ Ê |
1 bài |
x |
|
x |
|
| 12 |
Lưu Nguyễn và Tiên Tử |
1 bài (*) |
|
x |
|
x |
| 13 |
Vương Chiêu Quân |
3 bài |
x |
|
|
x |
| 14 |
Tô Vũ |
2 bài |
x |
|
|
x |
| 15 |
Khổng Tử |
3 bài |
x |
|
|
x |
| 16 |
Quan Vân Trường (Quan Thánh) |
6 bài |
x |
|
|
x |
| 17 |
Gia Cát Lượng |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 18 |
Triệu Tử Long |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 19 |
Tào Tháo |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 20 |
Điêu Thuyền |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 21 |
Hán Cao Tổ (Lưu Bang) |
1 bài (**) |
x |
|
|
x |
| 22 |
Hạng Vũ |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 23 |
Trương Lương |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 24 |
Tiêu Hà |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 25 |
Hàn Tín |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 26 |
Mẹ Vương Bằng |
1 bài |
x |
|
|
x |
| 27 |
Di tích Bạch Đằng giang |
1 bài |
— |
— |
x |
— |
Ghi chú theo văn bản:
- (*) Trong bảng thống kê mục 2.1 ghi 1 bài Lưu Nguyễn, nhưng trong phần khảo sát phân tích mục 2.2.2.2 tác giả chỉ rõ có chùm 10 bài vịnh mối tình Lưu Nguyễn và Tiên Tử núi Thiên Thai.
- (**) Tương tự, mục Hán Cao Tổ có các bài khảo sát đánh số bài 1, bài 2.
2. Giá trị nội dung
- Khắc họa chân dung anh hùng dân tộc (Nam sử):
- Đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và vẻ đẹp truyền thống của người Đại Việt. Các tác giả xây dựng tượng đài nữ tướng Triệu Ân oai phong lẫm liệt ("Mác dài trỏ vây tan đàn giặc"), khởi nghĩa Hai Bà Trưng ("Tô Định bay hồn âng một trận / Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành"), sức mạnh dũng tướng Lý Ông Trọng ("Phò nam, dẹp bắc tài văn võ / Chắc nước, dời non sức quỷ thần").
- Vịnh các danh nhân đương thời như Trạng nguyên Lương Thế Vinh ("Khuất ngón tay than tài cái thế / Lấy ai làm trọng nước Nam ta!") và Trạng nguyên Nguyễn Trực ("Nam bắc hai triều danh dậy / Phong lưu một cửa họ sang").
- Khác với thơ vịnh Bắc sử, thơ vịnh Nam sử không bị chi phối nặng nề bởi quan niệm Nho giáo giáo điều mà bắt nguồn trực tiếp từ cảm hứng dân tộc và lòng yêu nước.
- Khắc họa nhân vật lịch sử Trung Hoa (Bắc sử):
- Thể hiện tư tưởng Nho giáo thịnh trị, khẳng định đạo vua tôi và lòng trung quân: tấm gương trung trinh của Tô Vũ 19 năm chăn dê ở đất Bắc ("Đất Hồ sương tuyết gầy mình hạc / Đền Hán ngày đêm nhớ mặt rồng"); bộ ba công thần Hán tộc Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín ("Nghìn vàng tấc tấc đền ơn mụ / Một gánh quằn quằn trả nợ vua").
- Đặt các nhân vật vào thế đối lập đạo đức: đối lập đức nhân nghĩa của Quan Vân Trường (được vịnh tới 6 bài) với sự đa nghi, bất nhân của Tào Tháo; đối lập tư tưởng thu phục hiền tài khoan hòa của Hán Cao Tổ với sự tàn bạo, hẹp hòi của Hạng Vũ.
- Cảm thông cho thân phận người phụ nữ chịu áp bức của chế độ phong kiến qua hình tượng Vương Chiêu Quân (Chiêu Quân xuất tái, Chiêu Quân tự tình), phê phán sự bất công của triều đình Hán Nguyên Đế và tên thợ vẽ Mao Diên Thọ.
- Vịnh nhân vật truyền thuyết và khát vọng nhân văn:
- Truyền thuyết dân tộc: Tái hiện biểu tượng chống ngoại xâm Thánh Gióng (Xung thiên thần vương) và hình mẫu hiếu thảo, hiển linh cứu nước của Chử Đồng Tử.
- Khát vọng tình cảm lứa đôi: Khai thác sâu sắc tâm tư, nỗi sầu muộn và nỗi nhớ nhung phân cách qua mối tình Ngưu Lang – Chức Nữ (Ngưu Lang từ Chức Nữ, Chức Nữ ức Ngưu Lang) và chùm 10 bài Lưu Nguyễn nhập động Thiên Thai (Lưu Nguyễn động trung ngộ Tiên Tử, Tiên tử hoài Lưu Nguyễn...). Ngòi bút thi nhân đã trần thế hóa chuyện tiên giới thành tiếng lòng khao khát hạnh phúc lứa đôi mang tính hiện thực.
- Vịnh di tích lịch sử (Bạch Đằng giang):
- Bài thơ duy nhất vịnh di tích lịch sử, nhìn nhận chiến tích sông Bạch Đằng từ tư thế thanh bình, đĩnh đạc của một quốc gia thịnh trị ("Bốn phương phẳng lặng kình bằng thóc / Thong thả dầu ta bủa lưới câu"), kết hợp miêu tả cảnh quan sông nước với niềm kiêu hãnh chiến thắng ngoại xâm.
3. Giá trị nghệ thuật
- Sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật chuẩn mực: Vận dụng nhuần nhuyễn niêm, luật, vần, đối và cấu trúc bốn phần Đề - Thực - Luận - Kết (minh chứng qua các bài Xung thiên thần vương, Chử Đồng Tử, Lý Ông Trọng...).
- Sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn: Tiếp thu cấu trúc cách tân từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, xen cài các câu thơ 6 chữ vào vị trí câu luận hoặc câu kết (như trong bài Lưu Nguyễn nhập động hay bài vịnh Mỵ Ê), tạo nhịp điệu uyển chuyển, đậm đà bản sắc ngôn ngữ dân tộc.
- Nghệ thuật sử dụng thi liệu và ngôn ngữ Nôm: Vận dụng điêu luyện điển tích, điển cố kết hợp bút pháp tả cảnh ngụ tình, đưa từ ngữ thuần Việt mộc mạc vào cấu trúc thơ cung đình trang trọng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả và xác lập các đóng góp học thuật cụ thể:
- Hệ thống hóa số liệu: Khảo sát và xác lập hệ thống 48 bài thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập, phân nhóm chi tiết theo 26 cụm nhân vật (Việt Nam, Trung Quốc; lịch sử, truyền thuyết) và 1 di tích lịch sử (sông Bạch Đằng).
- Phát hiện về tư tưởng thẩm mỹ: Chỉ ra nét khác biệt mang tính bản chất giữa hai mảng thơ: mảng vịnh Bắc sử mang đậm tính giáo huấn Nho giáo chính thống (trung quân, nhân nghĩa, tiết hạnh), trong khi mảng vịnh Nam sử lại mang cảm hứng dân tộc, ý thức độc lập tự cường sâu sắc. Đặc biệt, mảng thơ vịnh truyền thuyết (Ngưu Lang - Chức Nữ, Lưu Nguyễn) đã thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi và cảm xúc nhân văn trần thế.
- Khẳng định vị trí thể loại: Làm rõ đóng góp của Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn trong việc đặt nền móng vững chắc cho dòng thơ Nôm vịnh sử, vừa làm chủ thể thơ Đường luật bác học, vừa sáng tạo thể thất ngôn xen lục ngôn mang phong vị tiếng Việt.
- Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khắc phục tính chất tản mạn, khái quát chung của các công trình trước đây; cung cấp một chuyên luận khảo sát toàn diện, phân tích chi tiết từng dẫn chứng thơ vịnh sử trong tập thơ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi tư liệu trên văn bản Hồng Đức quốc âm thi tập theo bản phiên âm, chú giải của Phạm Trọng Điền và Bùi Văn Nguyên; do tính chất sáng tác tập thể xướng họa thời Hồng Đức nên chưa thể bóc tách, định danh tác giả tuyệt đối cho từng bài thơ đơn lẻ ngoài những bài đã xác định của Lê Thánh Tông.
- Hướng nghiên cứu mở rộng: Từ kết quả khảo sát 48 bài thơ Nôm thời Hồng Đức, có thể mở rộng nghiên cứu đối sánh thi pháp với tập thơ vịnh sử chữ Hán Cổ tâm bách vịnh của Lê Thánh Tông, hoặc so sánh với các thi tập vịnh sử lớn ở các thế kỷ sau như Việt giám vịnh sử (Đặng Minh Khiêm) và Khiếu vịnh thi tập (Hà Nhiệm Đại).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Ngữ văn, Sư phạm Ngữ văn; giảng viên giảng dạy văn học trung đại Việt Nam; các nhà nghiên cứu lịch sử văn học thời Hậu Lê.
- Nội dung giá trị: Bảng thống kê phân loại 48 bài thơ vịnh sử; hệ thống dẫn chứng bình giảng thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV; phương pháp đối sánh nội dung tư tưởng giữa thơ vịnh Bắc sử và thơ vịnh Nam sử.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, có bao nhiêu bài thơ thuộc đề tài vịnh sử và được phân loại như thế nào?
Khóa luận thống kê được 48 bài thơ vịnh sử, phân chia thành 26 nhóm nhân vật (bao gồm nhân vật lịch sử và nhân vật truyền thuyết của cả Việt Nam và Trung Quốc) cùng 1 di tích lịch sử duy nhất là Bạch Đằng giang.
2. Nhân vật lịch sử nào của Trung Quốc được vịnh nhiều nhất trong tập thơ?
Quan Vân Trường (Quan Thánh) là nhân vật Bắc sử được vịnh nhiều nhất với 6 bài thơ, ca ngợi tấm lòng trung nghĩa, trong sạch và trọn vẹn lời thề huynh đệ đối lập với mưu mô của Tào Tháo.
3. Sự khác biệt cơ bản giữa thơ vịnh Nam sử và thơ vịnh Bắc sử trong thi tập là gì?
Thơ vịnh Bắc sử chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo với mục đích giáo huấn đạo đức (trung quân, nhân nghĩa, tam cương ngũ thường), trong khi thơ vịnh Nam sử lấy cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc làm chủ đạo, ca ngợi chiến công anh hùng vệ quốc và danh nhân văn hóa mà không bị ràng buộc bởi tư tưởng Nho giáo giáo điều.
4. Khía cạnh tình cảm lứa đôi được thể hiện qua những bài thơ vịnh truyền thuyết nào?
Khát vọng tình cảm và nỗi sầu muộn chia ly được thể hiện rõ nét qua chùm 3 bài vịnh Ngưu Lang - Chức Nữ và chùm 10 bài vịnh mối tình Lưu Nguyễn nhập động Thiên Thai, phản ánh khát vọng hạnh phúc trần thế thông qua chất liệu thần tiên.
5. Điểm độc tác về thể thơ của mảng thơ vịnh sử Nôm trong tác phẩm là gì?
Bên cạnh việc sử dụng chuẩn mực thể thất ngôn bát cú Đường luật nguyên thể, các tác giả hội Tao Đàn đã kế thừa sáng tạo của Nguyễn Trãi để viết các bài thơ theo thể thất ngôn xen lục ngôn, khẳng định tính dân tộc và sự linh hoạt của ngôn ngữ Nôm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Đỗ Thị Phương Thảo đã khảo sát có hệ thống 48 bài thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập, khẳng định vị trí khởi đầu vững chắc của Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn đối với dòng thơ Nôm viết về lịch sử. Nghiên cứu làm sáng tỏ giá trị tư tưởng của tác phẩm ở sự kết hợp giữa tinh thần Nho giáo chính thống, lòng yêu nước tự hào dân tộc và cảm quan nhân văn lãng mạn. Về mặt nghệ thuật, công trình chứng minh năng lực làm chủ thể thơ Đường luật và sự phát triển của ngôn ngữ Nôm thế kỷ XV, trở thành tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam.