Chương 1 NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG 1. Tác giả và tác phẩm 1. Tác giả Tác giả của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là những nhân sĩ thời Hồng Đức mà chủ yếu là những nhân sĩ tập hợp trong hội Tao Đàn. Theo các sách Đại Việt sử kí toàn thư đời Lê, Việt sử thông giám cương mục đời Nguyễn, tháng 11 năm Ất Mão (1495) nhân gặp thời tiết thuận hòa, mùa màng tươi tốt, mọi việc nhàn rỗi, Lê Thánh Tông sáng tác chín khúc ca làm thành Quỳnh uyển cửu ca, tự soạn bài tựa, tự xưng là Tao đàn nguyên súy, chọn hai mươi tám văn thần ứng với hai mươi tám ngôi sao trên trời, phong làm Tao Đàn nhị thập bát tú, và truyền họa lại dung vần chín khúc Quỳnh uyển cửu ca nói trên.
Hai mươi tám người đó là Đại nguyên soái: Lê Thánh Tông 1. Thân Nhân Trung, (Yên Ninh – Yên Dũng - Bắc Giang), Đông các đại học sĩ, Phó Nguyên Súy. Đỗ Nhuận, (Kim Anh - Phúc Yên), Đông các đại học sĩ, Phó nguyên súy. Ngô Luân, (Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh), Đông các hiệu thư.
Ngô Hoán, (Tượng Đáp - Nam Sách - Hai Dương), Đông các hiệu thư 5. Lưu Hưng Hiếu, (Hà Lương - Quảng Hóa - Hưng Hóa), Hàn lâm viện thị độc tham trưởng viện sự. Nguyễn Xung Xác, (Kim Đôi - Võ Giàng - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thi độc tham trưởng viện sự. Nguyễn Quang Bật (Bình Ngô - Gia Bình - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thị thư.
Nguyễn Đức Huấn, (Yên Định - Chí Linh - Hải Dương), Hàn lâm viện thị thư. Vũ Dương, (Mạnh Nhuế - Nam Sách - Hải Dương), Hàn lâm viện thị thư. Ngô Thầm, (Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thị thư. Ngô Văn Cảnh, (Yên Ninh - Yên Dũng - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thì chế.
Phạm Trí Kiêm, (An Trang - Lang Tài - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thị chế. Lưu Thư Mậu, (Đa Nghi - Vĩnh Bảo - Hải Dương), Hàn lâm viện thị chế. Nguyễn Tôn Miệt, (Vĩnh Phú), Hàn lâm viện hiệu lý. Nguyễn Nhân Bị, (Kim Đôi - Võ Giàng - Bắc Ninh), Hàn lâm viện lý.
Ngô Quyền, (Nghiêm Xá – Thường Tín - Sơn Nam - Hà Đông), Hàn lâm viện lý. Nguyễn Bảo Khê, (Lý Hải - Yên Lăng - Sơn Tây), Hàn lâm viện lý. Bùi Phố, (Lê Xá - Kiến Thụy - Kiến An - Hải Dương), Hàn lâm viện lý. Dương Trực Nguyên, (Thượng Phúc - Thường Tín - Hà Đông - Hà Nội), Hàn lâm viện lý.
Bùi Phổ, (Lê Xá - Kiến Thụy - Kiến An - Hải Dương), Hàn lâm viện lý. Chu Hoãn, (Hải Dương), Hàn lâm viện lý. Phạm Cẩn Trực, ( Đàm Xá - Gia Lộc - Hải Dương), Hàn lâm viện kiểm thảo. Nguyễn Ích Tốn, (Mậu Hòa - Đan Phượng - Hà Nội), Hàn lâm viện kiểm thảo.
Đỗ Thuần Thứ, (Tú Kiều - Khoái Châu - Hưng Yên), Hàn lâm viện kiểm thảo. Phạm Như Huệ, (Thái Bình), Hàn lâm viện kiểm thảo. Lưu Dịch, (Lãi Xuyên - Kim Thành - Hải Dương), Hàn lâm viện kiểm thảo. Đàm Nhuận Huy, (Hương Mặc - Từ Sơn - Bắc Ninh), Hàn lâm viện kiểm thảo.
Phạm Đạo Phú, (Nghĩa Hưng - Sơn Nam - Nam Định), Hàn lâm viện kiểm thảo. Chu Huân, (Ngọc Đô - Võ Giàng - Bắc Ninh), Hàn lâm viện kiểm thảo. Theo sách Thoái thực kí văn còn có thêm hai người nữa gọi là sái phu: Lương Thế Vinh (Cao Hưng - Nghĩa Hưng - Nam Định) và Thái Thuận (Liễu Lâm - Thuận Thàn - Bắc Ninh). Hội viên Tao Đàn thường làm thơ chữ Hán, hoặc quốc âm để xướng họa cùng nhau, hay nói dùng hơn là họa những bài xướng của Lê Thánh Tông.
Lê Thánh Tông là người đứng đầu hội Tao Đàn và là người đứng ra thành lập hội. Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), mất ngày 30/1 năm Đinh Tỵ (1497), có tên là Tư Thành, là con trai út của vua Thái Tông. Thân Mẫu là bà Ngô Thị Ngọc Dao con gái của Thái Bảo Ngô Từ, một trong những công thần khai quốc nhà Lê, người làng Động Bàng, huyện Yên Định (Thanh Hóa). Vua Lê Thánh Tông là vị vua không chỉ có tài trị quốc mà còn là vị vua có tâm hồn thi sĩ, học sĩ Đào Cử đã nói về Lê Thánh Tông một cách hết sức tôn kính như sau: “Từ khi đức vua lên ngôi, trong ngoài đều phục, mưa nắng thuận hòa , dân yên, vật thịnh.
Trong khi nhàn rỗi nhà vua thường bỏ hết thú vui như đàn hát, săn bắn, khiến cho sạch lòng, dục ít. Như cây ngay từ gốc, nước trong từ nguồn…, biểu hiện ở lời ngâm vịnh. Ngài chỉ phóng bút một lúc chín bài xong ngay. Trước thì vịnh thời tiết thuận năm được mùa ….
Nghĩa lý thật cao xa, lời lẽ thật mạnh mẽ, thiện ý khuyên răn, chan chứa ở lời, thực là văn dạy người ở bậc đế vương…. Người 8 đã cổ súy việc bình thơ và sáng tác thơ, tạo điều kiện cho thơ ca phát triển, trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông là một tác giả lớn với nhiều bài thơ được xác định do nhà vua sáng tác, đó là những bài xướng về những chủ đề như vịnh năm canh, vịnh tứ thời, vịnh các nhân vật lịch sử Trung Quốc, vịnh các nhân vật lịch sử Việt Nam. Được sự khuyến khích của nhà vua, các nhân sĩ thời Hồng Đức đều hăng say sáng tác thơ, những bài mang tính chất vịnh được xác định là của các văn thân xong rất khó xác định một cách chính xác ai đã viết bài nào. Như vậy, có thể khẳng định tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là tập hợp những sáng tác của nhiều tác giả, chủ yếu là thành viên của hội Tao Đàn trong đó không thể thiếu vua Lê Thánh Tông, cũng có người không phải là thành viên của hội Tao Đàn, bình thơ và sáng tác thơ dưới sự chủ súy của nhà vua.1 Hoàn cảnh ra đời Văn học là một hiện tượng xã hội vì thế sự hình thành và phát triển của một nền văn học, một dòng văn học hay chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học bao giờ cũng gắn liền với những tiền đề lịch sử - xã hội, văn hóa – văn học nhất định.
Sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, hòa bình được lập lại, Lê Thái Tổ đã xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền dựa trên một cơ sở xã hội khác hẳn thời Trần. Sự nghiệp đó tiếp tục được củng cố về mọi mặt qua các đời vua Thái Tông, Nhân Tông, đặc biệt là vua Thánh Tông. Đến nửa sau thế kỉ thứ XV, nhà nước phong kiến thời Hậu Lê đã đạt tới giai đoạn cực thịnh, là quốc gia cường thịnh nhất khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ.
Đây cũng chính là tiền đề quan trọng cho sự phục hưng văn hóa, văn học thế kỉ thứ XV nói chung và nửa sau thế kỉ thứ XV nói riêng. 9 Công cuộc phục hưng văn hóa thế kỉ thứ XV xuất phát xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử những năm đầu thế kỉ. Có thể khẳng định: công cuộc phục hưng văn hóa thời Hậu Lê được tiến hành đồng bộ qua cánh ứng xử với văn hóa vật chất, chú ý nâng cao văn hóa – tổ chức đời sống xã hội và phát triển mạnh văn hóa giáo dục. Bên cạnh đó, sự phát triển của Nho giáo đã đồng thời khích lệ sự phát triển của văn hóa, văn học… Môi trường xã hội ấy là những tiền đề quan trọng cho việc phát triển một nền văn hóa, văn học rực rỡ.
Vì thế văn học nửa sau thế kỉ thứ XV đã kế tục xuất sắc những thành tựu văn học của thời đại Lý – Trần, văn học nửa đầu thế kỉ tiếp nối và phát triển dòng thơ Nôm Đường luật với một đội ngũ sáng tác đông đảo, đứng đầu là Lê Thánh Tông. Hồng Đức quốc âm thi tập đã ra đời trong không khí xã hội ấy. Không chỉ có vậy, sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của dòng văn học chữ Nôm trước đó. Đặc biệt là tập Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
Có thể khẳng định rằng, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là một cột mốc lớn, ở vị trí hàng đầu của chặng đường phát triển tiếng Việt, là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập, tạo nên một thời đại thơ Nôm phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử văn học tiếng Việt thời trung đại. Đặc biệt, tháng 11 năm Ất Mão (1495) nhân gặp tiết trời thuận hòa, mùa màng tươi tốt, mọi việc nhàn rỗi, Lê Thánh Tông sáng tác chín khúc ca làm thành Quỳnh uyển cửu ca, tự soạn bài tựa, tự xưng là Tao đàn nguyên súy, chọn hai mươi tám văn thần, phong làm Tao đàn nhị thập bát cú, và truyền họa lại đúng vần chín khúc Quỳnh Uyển cửu ca nói trên. Sự ra đời của hội Tao đàn chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập. Trên đây là những tiền đề lịch sử - xã hội, văn hóa – văn học đưa đến sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập.
Hiểu được những tiền đề xuất hiện tác 10 phẩm này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn, một cách đánh giá đầy đủ, khoa học và chính xác hơn, tránh được lối áp đặt, giáo điều khi khảo sát, nghiên cứu khi khảo sát văn chương nhất là văn chương cổ. Nội dung chính Về nội dung của tập Hồng Đức quốc âm thi tập, tác giả Phạm Trọng Điền và Bùi Văn Nguyên trong cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập cho rằng: “ Đây là tập hợp thơ nhiều tác giả cho nên ý thơ và lời thơ cũng muôn màu muôn vẻ… Tuy nhiên, hướng sáng tác vẫn tập trung dưới sự chỉ đạo của nhà vua, từ trật tự đến các chủ đề chung: tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu chính nghĩa, yêu trí óc thông minh, yêu tâm hồn trong sáng, và từ đó toát lên niềm tự hào dân tộc, trong tổ quốc độc lập và thanh bình.” [3, tr 17] Bên cạnh đó, Hồng Đức quốc âm thi tập cũng có nét mô tả đời sống nhân dân trong thôn xóm, trong đồng ruộng mặc dù còn sơ sài nhưng rất quý. Các nhà thơ ở đây đã chú ý đến hình dáng “con trâu”, “đụn củi”, đến “cơm trắng”, “cá tươi” của người bình dân và phần nào thấy được cảnh khổ của những người thuộc lớp dưới. Toàn tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập hiện có 328 bài, chia làm năm phần như sau: 1.
Thiên địa môn, gồm 59 bài.