Luận văn thạc sĩ đóng góp của xuân diệu trong sự nghiệp phê bình văn học trung đại qua các nhà thơ cổ điển việt nam

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu đóng góp của xuân diệu trong sự nghiệp phê bình văn học trung đại qua các nhà thơ cổ điển việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2011

115
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quan niệm của Xuân Diệu về thơ

Xuân Diệu quan niệm thơ là sự sống, là cuộc đời trần thế. Ông nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa thơ và cuộc sống, phê phán những quan niệm thần bí, thoát ly. Thơ, theo ông, là sản phẩm của cảm xúc, trí tuệ, và tinh chất cuộc đời. Xuân Diệu cho rằng thơ phải chân thật, không được giả dối. Ông đề cao tính chân thật của tác phẩm nghệ thuật, coi đó là yếu tố căn bản. Thơ là trái tim chân thật, là quy luật tình cảm, và nhà thơ lớn là người nắm bắt sâu sắc quy luật của trái tim.

1.1. Thơ là cuộc sống

Xuân Diệu khẳng định thơ trước hết là cuộc sống, là sự sống tươi trẻ, say mê, nồng ấm. Ông phê phán những quan niệm thơ thoát ly hiện thực, coi thơ là sản phẩm của cảm xúc và trí tuệ. Thơ phải phản ánh chân thật cuộc sống, không được giả dối. Ông nhấn mạnh mối quan hệ máu thịt giữa nhà thơ và cuộc đời, coi thơ là tinh chất cuộc đời được lọc qua tâm hồn và trí tuệ của nhà thơ.

1.2. Tính chân thật trong thơ

Xuân Diệu đòi hỏi thơ phải chân thật, không được giả dối. Ông coi tính chân thật là yếu tố căn bản của tác phẩm nghệ thuật. Thơ phải phản ánh sự thật của cuộc sống và tâm hồn người. Ông phê phán thơ giả, coi đó là hiểm họa đối với nghệ thuật. Thơ chân thật là thơ đi từ trái tim đến trái tim, là quy luật tình cảm của con người.

II. Phương pháp phê bình của Xuân Diệu

Xuân Diệu coi phê bình là phương tiện để tập hợp và đánh giá các tác phẩm văn học. Ông nhấn mạnh vai trò của nhà phê bình trong việc phát hiện cái đẹp, quy phạm hóa cái đẹp, và phủ định những quy phạm lỗi thời. Xuân Diệu cho rằng phê bình phải dựa trên sự cảm thông và thấu hiểu tác phẩm, không chỉ đơn thuần là khen hay chê. Ông coi mỗi tác phẩm là một cơ thể sống, cần được đánh giá một cách toàn diện.

2.1. Phê bình là sự cảm thông

Xuân Diệu cho rằng phê bình không chỉ là khen hay chê, mà quan trọng hơn là sự cảm thông và thấu hiểu tác phẩm. Ông coi mỗi tác phẩm là một cơ thể sống, cần được đánh giá một cách toàn diện. Nhà phê bình phải có khả năng biện biệt cái hay và cái dở, đồng thời phải hiểu được tâm hồn và ý đồ của tác giả.

2.2. Phê bình và quy phạm hóa cái đẹp

Xuân Diệu nhấn mạnh vai trò của phê bình trong việc quy phạm hóa cái đẹp. Ông cho rằng nhà phê bình phải có khả năng phát hiện và nâng cao các quy phạm nghệ thuật. Phê bình không chỉ là đánh giá tác phẩm, mà còn là quá trình tìm kiếm và mở rộng các giá trị thẩm mỹ. Ông phê phán những nhà phê bình chỉ biết bảo vệ các quy phạm cũ mà không dám đổi mới.

III. Đóng góp của Xuân Diệu trong phê bình văn học trung đại

Xuân Diệu đã có những đóng góp lớn trong việc đánh giá các tác giả và tác phẩm văn học trung đại Việt Nam. Ông đã phân tích sâu sắc các giá trị nội dung và nghệ thuật của các nhà thơ cổ điển như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, và Hồ Xuân Hương. Xuân Diệu đã làm nổi bật những giá trị tinh hoa của văn học truyền thống, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong sáng tác và phê bình của các tác giả này.

3.1. Đánh giá về Nguyễn Trãi

Xuân Diệu đã đánh giá cao tư tưởng yêu nước và nhân văn trong thơ Nguyễn Trãi. Ông nhấn mạnh sự kết hợp giữa tư tưởng chính trị và nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Trãi. Xuân Diệu cũng chỉ ra những hạn chế trong cách diễn đạt và ngôn ngữ thơ của Nguyễn Trãi, nhưng vẫn khẳng định vị trí quan trọng của ông trong nền văn học Việt Nam.

3.2. Đánh giá về Nguyễn Du

Xuân Diệu đã dành nhiều sự quan tâm đến Nguyễn Du, đặc biệt là tác phẩm Truyện Kiều. Ông đánh giá cao nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ thơ của Nguyễn Du. Xuân Diệu cũng chỉ ra những giá trị nhân văn sâu sắc trong tác phẩm của Nguyễn Du, đồng thời phê phán những quan điểm phê bình thiếu khách quan về Truyện Kiều.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Sự vận động trong quan niệm về thơ và phê bình thơ của Xuân Diệu 1.1 Quan niệm của Xuân Diệu về thơ Sở dĩ nói quan niệm văn học của Xuân Diệu trước hết và chủ yếu là quan niệm về thơ vì thơ chính là đối tượng xuyên suốt hoạt động phê bình nghiên cứu của ông. Thơ trước hết là cuộc sống, cuộc sống trần thế nơi trần tục này Với Xuân Diệu, quan niệm bao trùm thơ đó là sự sống. Quan niệm này chi phối cả cuộc đời lao động sáng tạo của ông. Nó không chỉ nhấn mạnh đến tầm quan trọng và mối quan hệ hữu cơ giữa thơ với cuộc sống mà còn có tác dụng phê phán những quan niệm thần bí, thoát ly và dung tục hóa thơ.

Với ông, chân lý cuối cùng, chân lý cao nhất, suy đến cùng vẫn là cuộc sống. Chân lý thứ hai mới là chân lý nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm thơ ở ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, từ ngữ, âm thanh.Trước Cách mạng, tuy nhiều lúc Xuân Diệu cảm thấy: “Rợn ở trong hồn một luồng gió heo may lạnh toát”. Hay: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt” (Vội vàng) Nhưng nỗi buồn và sự cô đơn đó xét ở chiều sâu của vấn đề lại là do quá yêu mê cuộc sống. Yêu đến mức đắm say ngấu nghiến, cuồng nhiệt nên Xuân Diệu luôn có cảm giác e sợ, phấp phỏng.

Vì: “Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian; 10 Nói làm chi răng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.” (Vội vàng) Mặc dù là một nhà thơ lãng mạn, luôn say đắm trong tình yêu, thoáng qua, tưởng là thơ thoát ly hiện thực nhưng trái lại đó chính là niềm khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu. Trong thơ ông không thiếu những vần thơ thể hiện rõ quan niệm về mối quan hệ máu thịt giữa nhà thơ với cuộc đời hay cuộc đời với nhà thơ: “Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ Mà vạn vật là muôn đá nam châm.” (Cảm xúc) Hay: “Kẻ đựng trái tim trìu máu đất Hai tay chín móng bám vào đời.” Khái quát hơn, Xuân Diệu quan niệm bản chất của thơ “là sự cộng thêm vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình cảm, một sáng tạo” hay nói cách khác, từ hiện thực cuộc sống, thông qua tâm hồn trí tuệ, biết lọc lấy tinh chất và “đóng con dấu riêng” của cá tính sáng tạo và tác phẩm là những khía cạnh thuộc bản chất của thơ. Khi quan niệm về nhà thơ, Xuân Diệu cho rằng làm thi sĩ là một cuộc đấu tranh, một sướng vui trong gian khổ. Người làm thơ không thể không trải qua một sự “rèn luyện cật lực”, phải chân thực đừng mượn hơi người khác thổi cái bong bóng của mình.

11 Nhà thơ còn phải có tài, có vốn sống sâu rộng có bản lĩnh, phải biết hy sinh cho thi phẩm của mình. Ông khẳng định: “Tôi sáng tác vậy thì tôi tồn tại”, hồn vía của nhà thơ là ở cây bút và tác phẩm. Với Xuân Diệu, ngay từ thời Thơ thơ và Gửi hương cho gió đến sau này Tôi giầu đôi mắt, Hồn tôi đôi cánh, Thanh ca. ta thấy quan niệm về thơ của ông thường thì luôn có sự nhất quán.

Khi đã ở tuổi sáu mươi, bản thân Xuân Diệu đã nói một cách tổng hợp về đời thơ và quan niệm làm thơ của mình: “Tôi muốn nói rằng tôi là cũ và tôi là hiện đại, và cả hai phương pháp sáng tác, hai “hồn thơ”, hai giai đoạn lịch sử của nước tôi hòa lẫn trong tôi. Tôi không chút nào từ bỏ các sáng tác về nước mình. Tôi tìm thấy hạnh phúc giàu có hơn, sáng tạo hơn trong khi ở với cha tôi là Nhân dân và mẹ tôi là Tổ quốc”. Ở đây chúng ta có thể đối sánh quan niệm của Xuân Diệu và của Chế Lan Viên về thơ.

Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên phức tạp, khúc khuỷu hơn. Nếu như Xuân Diệu quan niệm thơ luôn phải là tiếng nói của tình cảm và sự nghiệp thơ ông cũng đã chứng minh điều đó, thì Chế Lan Viên dường như lại quan niệm thơ là tiếng nói của trí tuệ. Từ trí tuệ mà tác động đến trái tim. Trong quy trình sáng tạo thơ, theo Xuân Diệu cái chính không phải là vấn đề kỹ thuật mà cái chính phải là ở chất cảm xúc.

Nhưng nói như thế không có nghĩa là ông không coi trọng kỹ thuật làm thơ. Trái lại, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ có quan niệm hết sức nghiêm túc, công phu, tỷ mỷ và sâu sắc về nghề thơ, “công việc bếp núc” của nhà thơ. Tất cả những điều đó để đi đến một quan niệm có tính chất then chốt, điểm đến cuối cùng, hay điểm hội tụ các quan niệm về thơ của ông. Đó là chất lượng của thơ.

Xuân Diệu quan niệm một bài thơ hay cũng cho biết được cả một tác giả, hay “tính sổ xong, cái còn lại của các nhà thơ là những bài thơ hay”. Ông quan niệm thơ hay là “một vấn đề quan trọng, một vấn đề nền tảng”. Việc ông khẳng định thơ hay và phê phán thơ dở là làm tăng mỹ cảm cho người đọc, góp phần nâng cao chất lượng thơ. Tóm 12 lại, với Xuân Diệu, quan niệm nhất quán, bao trùm: Thơ là sự sống tươi trẻ, say mê, nồng ấm; thơ là sản phẩm của cảm xúc, của trí tuệ, là tinh chất cuộc đời.

Thơ là cuộc sống mà “Đã là cuộc sống, thì chẳng bao giờ chán nản”. Xuân Diệu càng quan tâm đến vấn đề chất sống, chất đời trong thơ bao nhiêu, Xuân Diệu càng đề cao tính chân thật của tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu. Rất nhiều lần trong các bài nói chuyện, trong các công trình tiểu luận phê bình, Xuân Diệu vẫn hằng như một yêu cầu thường trục: “Thơ phải: Chân, chân, chân thật, thật, thật!” Với ông, “thật” là sự có thật ở trong đời, ở trong sự sống; “chân” là tính có thật ở trong lòng người, tâm hồn người. Tính chân thật của thơ nói riêng và văn học nói chung là sự biểu hiện sự kết hợp hữu cơ giữa khách quan và chủ quan, giữa sự am tường đời sống và một “nội tâm rất đầy” của nhà thơ, hay giữa ngoại cảnh và tâm cảnh.

Đối với Xuân Diệu, “cái giả” là một thứ hiểm hoạ và ông đã tuyên chiến với nó như tuyên chiến với cái xấu, cái ác, “phải ghét cái giả như ghét rắn độc, thấy nó là phải triệt”. Thơ là trái tim chân thật, là qui luật tình cảm. Thơ vốn là thể loại thiên về phía bộc lộ cảm xúc, tình cảm. « Thơ còn là thơ nữa » là cách nói của Xuân Diệu về quy luật của nghệ thuật, quy luật của tác phẩm, cụ thể hơn là những đặc trưng của thơ, bí quyết của thơ- « đức tính thơ ».

Xuân Diệu quan niệm nhà thơ lớn là nhà thơ nắm bắt được sâu sắc nhất qui luật của trái tim, con đường ngắn nhất để thơ đến với người đọc là con đường thẳng trực tiếp từ trái tim đến trái tim. Cho nên “đức tính” trước tiên của tác phẩm thơ cũng như của nhiều tác phẩm nghệ 13 thuật khác là “sự cộng thêm vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình cảm, một sáng tạo”. Xuân Diệu cho rằng đây là một vấn đề khá tinh vi, “tất cả chất liệu trong cuộc sồng đều có khả năng hoá thành thơ, nhưng không phải cái gì cũng ôtômatích ra thơ” cả. Kế thừa và phát huy những quan niệm của thơ ca truyền thống dân tộc, Xuân Diệu cũng hết sức đề cao vai trò của tình cảm trong thơ.

Xuân Diệu muốn qua đó để làm nổi bật “cái mà người ta đòi hỏi hơn cả ở văn học và đặc biệt là ở thơ, ở nhà thơ là dù nói đến người, đến vật, đến việc cũng phải tràn trề tình cảm”. Thơ văn hay đối với Xuân Diệu bao giờ cũng ra đời trong nỗi niềm “đầy rẫy cảm xúc” như thế; nó là “quy luật của trái tim”. Nhà thơ lớn, theo Xuân Diệu là người “nắm bắt sâu sắc nhất những quy luật của trái tim con người”. Cùng quy luật với tình cảm, Xuân Diệu luôn có ý thức khẳng định quy luật thẩm mĩ như một phẩm chất đặc trưng của “đức tính thơ” : ”Không có giá trị thẩm mĩ, thì bất thành tác phẩm nghệ thuật”.

Trong cuộc đời, cũng như trong nghệ thuật hình như bao giờ Xuân Diệu cũng muốn đến với mọị người, muốn làm sao cho mọi người hiểu mình và diễn đạt làm sao để những điều cao sâu nhất cũng vẫn dễ hiểu với nhiều người. Có lẽ đây là một điểm khác nhau trong quan niệm về thơ giữa Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Một bên thiên về cảm xúc trực tiếp, một bên thiên về trí tuệ; một bên suốt đời làm quán để “tha hồ muôn khách đến”, để “lắng nghe, dò xét tâm lí của con người, để mà bắt chộp cho được những trạng thái dặc biệt của tâm hồn, những thoáng run rẩy của nội tâm”. Một bên suốt đời đi tìm ‘hương sắc lạ”, hướng về vẻ đẹp thơ gắn với cái đột biến, cái bất ngờ.

Cũng từ sự khác nhau ấy, mỗi nhà thơ đã mở ra một 14 hướng thơ và tự làm nên những phong cách lớn trong nền thơ và nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại. Là trái tim chân thật, Xuân Diệu đòi hỏi văn học nghệ thuật không được giả dối một tí nào. Đối với thơ, ông lại càng yêu cầu một cách riết róng, quyết liệt. Xuân Diệu chấp nhận có thơ hay, thơ khá, thơ thường, thơ kém, thơ dở, thơ thành công nhiều ít hoặc thơ không thành công chứ nhất định đừng có thơ giả, cũng như “là vàng, là bạc, là đồng, là thiếc hay là chì, chứ nhất định đừng là vàng giả”.

Xuân Diệu coi đó là điều căn bản trước nhất vì đó không chỉ là chuyện văn chương mà còn thể hiện cả nhân cách người cầm bút. Không phủ nhận thơ là một nghề, hiểu rất rõ “nghề thơ cũng lắm công phu”, nhưng Xuân Diệu không bao giờ coi cái tài, cái khéo là quyết định tất cả… Cần phải “có hồn để sai khiến kĩ xảo”, cần phải có mạch đập trái tim sau từng con chữ thì thơ mới đi vào được cõi lớn rộng, dài lâu. Muốn vậy, người làm thơ phải sống thật, yêu thật, phải hiểu việc đời, việc người vô cùng sâu sắc, còn “sống cạn như đĩa đèn” thì làm sao mà có thơ hay được. Quan niệm của Xuân Diệu về phê bình thơ 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đóng góp của Xuân Diệu trong phê bình văn học trung đại qua các nhà thơ cổ điển Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu khám phá vai trò và ảnh hưởng của Xuân Diệu trong việc phân tích, đánh giá các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ làm nổi bật cách Xuân Diệu tiếp cận và phê bình các nhà thơ cổ điển mà còn giúp độc giả hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa, lịch sử của giai đoạn này. Đây là nguồn tư liệu quý giá cho những ai quan tâm đến văn học trung đại và sự phát triển của phê bình văn học Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ Hán Nôm nghiên cứu văn bản tác phẩm Sứ Hoa Tùng Vịnh của Nguyễn Tông Khuê, một nghiên cứu chi tiết về văn bản cổ và cách tiếp cận văn học trung đại. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn học yếu tố ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn cung cấp góc nhìn thú vị về sự kết hợp giữa ca dao và thơ lục bát, một thể loại quan trọng trong văn học dân gian. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nghệ thuật tự sự trong văn học hiện đại, một chủ đề bổ trợ cho việc nghiên cứu văn học trung đại.