Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỆN THƠ NÔM VÀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở chương này, luận văn trình bày những vấn đề lý thuyết về khái niệm “tính dục”, khái lược về truyện thơ Nôm và yếu tố tính dục in dấu trong văn học trung đại Việt Nam. YẾU TỐ TÍNH DỤC TRONG TRUYỆN THƠ NÔM TRUNG ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG Trong chương này, luận văn sẽ tiến hành khảo sát và phân tích biểu hiện của yếu tố tính dục trong các tác phẩm truyện thơ Nôm đã được giới hạn ở phần phạm vi nghiên cứu của đề tài. Từ đó thấy được quan niệm của người xưa về vấn đề tính dục và những khao khát thầm kín của con người khi phải sống trong xã hội không chú trọng những vấn đề thuộc về con người cá nhân.
YẾU TỐ TÍNH DỤC TRONG TRUYỆN THƠ NÔM TRUNG ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT Trong chương này, luận văn sẽ tiến hành khảo sát và phân tích biểu hiện của yếu tố tính dục thông qua các thủ pháp nghệ thuật, xây dựng không gian và thời gian nghệ thuật và giọng điệu của tác phẩm. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỆN THƠ NÔM VÀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Khái lược về thể loại truyện thơ Nôm 1. Khái niệm Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm định nghĩa: “Truyện Nôm là tiểu thuyết viết bằng văn vần”.
Một số nhà nghiên cứu khác gọi truyện Nôm có dung lượng lớn như Truyện Kiều là “truyện dài Việt Nam” hoặc “trường thiên tiểu thuyết”. Trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Thế kỉ X – XIX, tập 3) có định nghĩa về khái niệm “Truyện Nôm” như sau: “Truyện Nôm cũng gọi là Truyện thơ Nôm là thể loại tự sự chuyên dùng lục bát đa chức năng và sắc thái thẩm mỹ, để diễn Nôm những tích truyện cổ Việt Nam, Trung Quốc.” Tóm lại, thuật ngữ truyện thơ Nôm có nhiều cách gọi như truyện Nôm, truyện thơ Nôm, truyện thơ…Tuy nhiên, chúng tôi chọn cách gọi những tác phẩm tự sự trong văn học trung đại được viết chủ yếu dưới hình thức thơ là truyện thơ Nôm. Vì thuật ngữ này vừa thể hiện được chức năng kể chuyện, vừa thể hiện được hình thức của tác phẩm là thơ và chữ viết ở giai đoạn này là chữ Nôm. Vấn đề phân loại truyện thơ Nôm Vấn đề phân loại truyện thơ Nôm là một vấn đề phức tạp và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Có thể thấy, truyện thơ Nôm được phân loại dựa vào ba cách: Cách thứ nhất là dựa vào tiêu chí có tên tác giả hoặc không có tên tác giả. Đối với cách chia này thì truyện thơ Nôm được chia thành hai loại: truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh. Cách chia này xuất hiện vào giai đoạn đầu của giới nghiên cứu khi tiến hành phân loại truyện thơ Nôm. Hầu hết các truyện Nôm khuyết là truyện Nôm bình dân.
Số lượng những truyện Nôm hữu danh chiếm tỉ lệ ít hơn và thường là truyện Nôm bác học. Cách phân loại dựa 11 vào yếu tố “hữu danh” hay “khuyết danh” nghiêng về tính hình thức nên chưa thực sự khoa học. Cách thứ hai là dựa vào nguồn gốc các đề tài để sáng tác nên truyện thơ Nôm. Từ đó, truyện thơ Nôm được chia thành ba loại: truyện lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian (Tấm Cám, Thạch Sanh…), truyện lấy đề tài từ văn học Trung Quốc (truyện Phan Trần, truyện Kiều…) và truyện lấy đề tài từ những sự tích ở Việt Nam (Bích Câu kỳ ngộ, Tống Trân Cúc Hoa…).
Cách chia này phân loại truyện thơ Nôm dựa trên đề tài mà truyện thể hiện lại dựa vào nội dung là chủ yếu. Vì thế vẫn chưa thực sự có ý nghĩa khoa học. Cách thứ ba dựa vào nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Từ đó ta có truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học.
Truyện thơ Nôm bình dân được sáng tác bởi các nho sĩ bình dân nên nội dung của truyện dân dã, nghệ thuật mộc mạc, cách sử dụng từ ngữ bình dị. Còn truyện thơ Nôm bác học được sáng tác bởi những nho sĩ thuộc tầng lớp trên nên cách kể chuyện hấp dẫn, tâm lí nhân vật được xây dựng phức tạp, cách sử dụng từ ngữ, biện pháp nghệ thuật cũng điêu luyện hơn, tinh tế hơn so với truyện thơ Nôm bình dân. Cách phân loại này được các nhà nghiên cứu như Kiều Thu Hoạch, Trần Đình Sử đồng tình. Ở luận văn này, người nghiên cứu chọn cách phân loại về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm vì cách chia như vậy giúp người tiếp nhận hiểu ý nghĩa đích thực của bản chất các sáng tác.
Từ đó làm căn cứ để giải mã những biểu hiện về tính dục có trong các tác phẩm. Trong quá trình khảo sát và phân tích, người viết sẽ sử dụng các tác phẩm thuộc loại truyện thơ Nôm bác học làm dẫn chứng là chủ yếu vì những tác phẩm ấy có tính nghệ thuật cao hơn. Bên cạnh đó, người nghiên cứu cũng sẽ khảo sát và phân tích những tác phẩm thuộc loại truyện thơ Nôm bình dân để có cái nhìn khái quát hơn, toàn diện hơn về vấn đề tính dục trong các sáng tác truyện thơ Nôm. Khái quát về nội dung và hình thức của truyện thơ Nôm 1.
Nội dung Truyện thơ Nôm được hình thành do điều kiện lịch sử - xã hội, kinh tế, tư tưởng, chữ viết. Vấn đề chính trị là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời mạnh mẽ của thể loại truyện thơ Nôm. Giai đoạn thế kỉ XVI – XVIII, xã hội phong kiến rơi vào khủng hoảng và tan rã. Ở miền Bắc thì chúa Trịnh đàn áp những cuộc khởi nghĩa nông dân.
Ở miền Nam thì chúa Nguyễn ra sức bóc lột người nông dân. Vì thế trong xã hội tồn tại những mâu thuẫn lớn. Đó là mâu thuẫn bên trong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân. Lúc bấy giờ xuất hiện tình trạng mua quan bán chức.
Quan lại không biết lo cho dân, khiến cho đời sống người dân càng thêm nghèo khổ, cơ cực. Từ đó nổi lên các cuộc khởi nghĩa của nông dân nhằm lật đổ bộ máy quan lại mục rỗng, thối nát. Bên cạnh đó, vấn đề kinh tế ở nước ta có sự chuyển biến và phát triển cũng là nguyên nhân khách quan dẫn đến sự ra đời của thể loại truyện thơ Nôm. Tầng lớp thị dân gồm thương nhân, thợ thủ công… là những người có cuộc sống thường xuyên xê dịch, tiếp xúc với những người từ các quốc gia khác nên họ có sự thay đổi về tư tưởng.
Họ bắt đầu nhận ra sự khắt khe, gò bó của chế độ phong kiến đối với cuộc sống của con người. Trong hoàn cảnh xã hội như vậy, truyện thơ Nôm ra đời. Trước hết, truyện thơ Nôm ra đời với mục đích bảo vệ những đạo lý tốt đẹp, những truyền thống văn hóa lâu đời của Việt Nam khi xã hội đang loạn lạc. Bên cạnh đó, truyện thơ Nôm còn là tiếng nói của tầng lớp người bình dân vốn không có tiếng nói trong xã hội, bị những ràng buộc của lễ giáo phong kiến vây quanh.
Có lẽ vì thế mà nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đưa ra nhận định: “Truyện thơ Nôm là một thể loại thể hiện khuynh hướng dân chủ, đã thể hiện làn gió tiên tiến của thời đại” (Trần Đình Sử, 1999). 13 Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là thời kì phát triển cực thịnh của truyện thơ Nôm với đề tài về tình yêu và hôn nhân gia đình, đấu tranh xã hội. Nội dung truyện đề cao tình yêu tự do vượt thoát khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Họ yêu nhau và lấy nhau vì tình yêu chứ không quan tâm đến vấn đề “môn đăng hộ đối” như trước.
Ở truyện thơ Nôm bình dân, tác giả xây dựng những mối tình hoàn toàn tự do nhưng sâu sắc thủy chung giữa những người có gia cảnh đối lập với nhau. Đó là tình yêu của nàng Ngọc Hoa dành cho chàng trai ăn xin nghèo nhưng ham học – Phạm Tải. Ngọc Hoa thương chàng và được gia đình chấp nhận nên hai người nên duyên vợ chồng. Không may mắn như Ngọc Hoa được gia đình ủng hộ mối tình không “môn đăng hộ đối”, nàng Cúc Hoa vì có tình yêu với Tống Trân nghèo khổ bị cha đuổi ra khỏi nhà.
Tuy nhiên nàng vẫn dũng cảm theo đuổi tình yêu đến cùng. Để hỗ trợ cho chồng ăn học và đi thi, nàng vừa lo cho mẹ chồng vừa lo cho chồng ăn học. Khi đỗ Trạng Nguyên, chồng không đồng ý lấy công chúa nên bị vua đày đi sứ mười năm. Khi đó Cúc Hoa bị cha ép tái giá nhưng nàng đã trốn vào rừng và nhờ cọp chúa đưa thư cho chồng.
Sau bao trắc trở thì vợ chồng cũng đoàn tụ và sống hạnh phúc bên nhau. “Thoắt thôi vợ chồng hồi gia, Phòng loan gối phượng đuốc hoa sánh bày.” Rõ ràng tác giả những truyện thơ Nôm này muốn đề cao hôn nhân dựa vào sự tự do lựa chọn trong tình yêu, phủ định quan niệm hôn nhân phải “môn đăng hộ đối” hay tư tưởng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Truyện thơ Nôm bác học cũng viết về đề tài tình yêu tự do đầy lãng mạn. Nếu ở truyện thơ Nôm bình dân, sự tự do trong tình yêu được thể hiện thông qua việc hai người yêu nhau và lấy nhau bất chấp gia cảnh, không câu nệ chuyện “môn đăng hộ đối” thì ở các truyện thơ Nôm bác học, các nhân vật yêu nhau đều thuộc tầng lớp thượng lưu, thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt như Thúy Kiều, Kim Trọng (Truyện Kiều, Nguyễn Du) hay Dao Tiên và Lương Sinh ( 14 Truyện Hoa Tiên, Nguyễn Huy Tự).
Tình yêu của họ có những lúc vượt thoát khỏi lễ giáo phong kiến như việc nàng Kiều “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang nhà Kim Trọng. Rồi Thúy Kiều và Kim Trọng tự nguyện đính ước, thề nguyền với nhau trong đêm trăng tình yêu mà không cần sự đồng ý của gia đình. Các cặp đôi yêu nhau tự do, say đắm. Tình yêu của họ đầy lãng mạn với những buổi hẹn hò, gặp gỡ, những đêm thề nguyền, hẹn ước dưới ánh trăng.
Những cung bậc cảm xúc, trạng thái tâm lý khi yêu được các tác giả chú ý: rung động, nhớ nhung hay thăng hoa. Chuyện tình của các cặp đôi tài tử giai nhân này thường trải qua rất nhiều biến cố, thử thách mới có thể có một kết thúc đoàn tụ, viên mãn.