Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ văn học "Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại" do nghiên cứu sinh Phạm Văn Hưng thực hiện năm 2016 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Trần Nho Thìn. Đề tài thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 34 01.

Trong lịch sử tư tưởng Đông Á, Nho giáo vận hành như một học thuyết đạo đức - chính trị mang màu sắc tôn giáo, hướng tới kiến tạo các khuôn mẫu nhân cách phục vụ mục đích giáo hóa và cai trị. Kiểu nhân cách "liệt nữ" là một trong những mô hình quan trọng thuộc hệ giá trị của nhà nho. Tiến trình vận động của kiểu nhân vật này trong văn học Việt Nam trung đại song hành với văn học nhà nho, kéo dài sang đầu thế kỉ XX và để lại dấu ấn trong văn học giai đoạn 1932 - 1945.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ sự bất cập của các điển phạm phân kỳ văn học truyền thống (như các định đề "khẳng định quốc gia, dân tộc", "khẳng định nhà nước phong kiến", "khẳng định con người"). Trong giai đoạn văn học thế kỉ XVIII - nửa trước thế kỉ XIX (thường được định danh là giai đoạn khẳng định con người), nhân vật liệt nữ – biểu tượng của sự tuân thủ nghiêm ngặt các tín điều Nho giáo – lại xuất hiện với tần suất dày đặc. Việc nghiên cứu nhân vật phụ nữ từ quan điểm giới, phân tích tính nữ bên cạnh vai trò công dân hay vai trò xã hội, là một hướng tiếp cận cần được bổ sung nhằm đánh giá khách quan quá trình Nho giáo hóa, cảm quan nhân đạo và tiến trình dân chủ hóa nền văn học.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác lập trên hai bình diện:

  1. Mục tiêu thực tiễn: Thống kê, khảo sát các tư liệu đã công bố và dịch thuật để chọn lọc các tác phẩm tiêu biểu có sự xuất hiện của nhân vật liệt nữ; qua đó xác định diện mạo, đặc điểm và quy luật vận động của loại hình nhân vật này qua các nhóm tác phẩm, thể loại và giai đoạn văn học.
  2. Mục tiêu lí luận: Từ kết quả thực tiễn, luận giải các vấn đề lí luận về sự vận động và phân kì lịch sử văn học Việt Nam trung đại; củng cố các kết luận khoa học về văn học nhà nho và khẳng định tính khả thi của phương pháp tiếp cận liên ngành.

Đối tượng nghiên cứu là hình tượng nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại qua các thể loại tự sự: truyện kí, tiểu thuyết, truyện thơ Nôm và sử truyện. Luận án loại trừ các nhân vật nữ trong tuồng (như Điêu Thuyền trong Phụng Nghi đình, Xuân Hương trong Ngoại tổ dâng đầu) vì thể loại này nhấn mạnh phương diện "Trung" hơn "Trinh". Thơ đề vịnh chữ Hán, chữ Nôm và các ghi chép chính sử, dã sử chỉ được sử dụng làm tư liệu tham chiếu mở rộng.

Phạm vi thời gian khảo sát trải dài từ thế kỉ X (mốc khởi đầu của văn học trung đại) đến hết thế kỉ XIX, được cấu trúc theo ba chặng phân kì lịch sử văn học: thế kỉ X - XV, thế kỉ XVI - XVIII và thế kỉ XIX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu về nhân vật liệt nữ được tác giả phân tích qua các giai đoạn và nhóm công trình:

Vào đầu thế kỉ XX, vấn đề phụ nữ thủ tiết trở thành tâm điểm của cuộc tranh luận học thuật và tư tưởng giữa Phan Khôi (phê phán Nho giáo và sự trói buộc của hủ tục thủ tiết) và Tản Đà (người bảo vệ luân lý Nho giáo qua các tác phẩm Đài gương kinh, Đàn bà Tàu, ca ngợi Mị Ê, Phan Thị Thuấn, Nguyễn Thị Kim). Về phương diện nghiên cứu nước ngoài, các công trình của Tạ Chí Đại Trường (Thần, người và đất Việt) và Yoshiharu Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 - 1885) đã đề cập đến nguồn gốc hình tượng Mị Ê và ý thức hệ Nho giáo thời Nguyễn.

Ở trong nước, giai đoạn từ sau năm 1954:

  • Giai đoạn 1954 - 1975: Văn Tân và Nguyễn Hồng Phong khảo sát nhân vật trong Trinh thử và Phạm Tải - Ngọc Hoa dưới góc nhìn đấu tranh giai cấp, chưa nhận diện đầy đủ kiểu nhân vật liệt nữ.
  • Giai đoạn từ sau năm 1975 đến đầu thế kỉ XXI:
    • Đặng Thanh Lê (1979, Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm) phân tích quan niệm về chữ Tiết, chữ Trinh và sự rạn nứt của chuẩn mực phong kiến tĩnh tại.
    • Bùi Duy Tân nghiên cứu các nhân vật "nghĩa phụ" (Nhị Khanh, Dương thị, Lệ nương, Túy Tiêu) trong Truyền kì mạn lục.
    • Nguyễn Lộc khảo sát hình tượng người phụ nữ giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX.
    • Lâm Vinh tiếp cận đạo đức và thẩm mĩ trong Truyện Lục Vân Tiên.
    • Phạm Tú Châu phân tích hành vi tuẫn tiết của hoàng phi Nguyễn Thị Kim trong Hoàng Lê nhất thống chí.
    • Nguyễn Phạm Hùng chỉ ra áp lực của nam quyền phong kiến đối với người phụ nữ trong Truyền kì mạn lục.
    • Trần Đình Sử phê phán quan niệm tiết liệt cổ lậu trong Kim Vân Kiều truyện.
    • Đặng Thị Hảo chỉ ra sự đề cao cực đoan lòng tiết nghĩa trong Truyền kì tân phả.
    • Trần Nho Thìn nghiên cứu toàn diện từ góc độ Nho giáo và nữ quyền, chỉ ra hạn chế của quá trình điển chế hóa (canonization) đối với quả phụ và mặt trái của mô hình nhân cách lý tưởng phong kiến nam quyền.

Vị trí của luận án: Luận án khắc phục tính chất phân tán, điểm xuyết của các công trình đi trước, đặt kiểu nhân vật liệt nữ vào một hệ thống tiến trình lịch sử hoàn chỉnh từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX thông qua việc đối sánh giữa Văn và Sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung khái niệm và lý thuyết công cụ:

  • "Nhân vật văn học": Hình tượng nghệ thuật về con người, thể hiện các thuộc tính người trong tác phẩm tự sự và kịch, mang số phận và nhân cách cụ thể.
  • "Liệt nữ" (烈女): Phân biệt với chữ "liệt" (列 - hàng ngũ) trong Liệt nữ truyện (列女傳) của Lưu Hướng. Luận án định nghĩa: "Liệt nữ 烈女 là người phụ nữ hi sinh tính mạng của mình để bảo toàn trinh tiết, chứng minh sự trinh tiết, hoặc để thể hiện lòng chung thủy đối với chồng".
  • "Văn học Việt Nam trung đại": Nền văn học viết chữ Hán và chữ Nôm (thế kỉ X - XIX), mang đặc trưng nguyên hợp Văn - Sử - Triết bất phân và chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho gia.

Cơ sở lý thuyết vận dụng bao gồm:

  • Học thuyết Tống Nho và đạo đức Nho giáo: Hệ thống quan niệm "Tồn thiên lí, diệt nhân dục", quan điểm của Trình Di ("Chết đói là việc rất nhỏ mà thất tiết là việc rất lớn"), thuyết Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, quan điểm của Phùng Hữu Lan, Vi Chính Thông, Dịch Trung Thiên về sự áp đặt nam quyền và hạn chế bản năng.
  • Nữ quyền luận và nghiên cứu giới: Điểm tựa phương pháp luận từ mệnh đề của Simone de Beauvoir ("Người ta không phải sinh ra là phụ nữ: Người ta trở thành phụ nữ"), kết hợp góc nhìn phân tâm học.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đặt trọng tâm vào mối quan hệ giữa Văn và Sử, tái hiện bối cảnh văn hóa - xã hội để lý giải quá trình chuyển hóa tư liệu lịch sử thành hình tượng nghệ thuật.
  • Phương pháp lịch sử - xã hội, thi pháp học, loại hình học; kết hợp các thao tác phân tích, so sánh, chứng minh, mô hình hóa và nghiên cứu trường hợp (case study).

Nguồn tư liệu khảo sát:

  • Tác phẩm văn học tự sự: Việt điện u linh (Lí Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái, Tân đính Lĩnh Nam chích quái, Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Đại Nam liệt truyện, Nam Xương liệt nữ Vũ thị tân truyện, Vân nang tiểu sử.
  • Văn bản lịch sử và pháp điển: Đại Việt sử lược, Đại Việt sử kí Toàn thư, Đại Việt sử kí Tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Hội điển toát yếu, cùng các chiếu lệnh, quy chế phong hóa qua các triều đại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm và tiến trình lịch sử của đạo đức Nho giáo tác động lên người phụ nữ tại Trung Quốc và Việt Nam. Tại Trung Quốc, tư tưởng kiềm chế bản năng, đề cao Trinh tiết gắn liền với Tam cương xuất hiện từ Tiên Tần (Hàn Phi Tử, Khổng Tử, Kinh Lễ, Kinh Dịch), được Đổng Trọng Thư chính thống hóa thời Hán, Lưu Hướng soạn Liệt nữ truyện, Ban Chiêu viết Nữ giới, Trương Hoa và Bùi Di viết Nữ sử châm. Đến đời Tống, Lí học Trình - Chu đẩy quan niệm thủ tiết lên mức cực đoan. Sang đời Minh và Thanh, hoạt động biểu dương trinh tiết phát triển với việc xây dựng các cơ sở Toàn tiết đường, Thanh tiết đường.

Tại Việt Nam, Nho giáo thâm nhập chậm thời Bắc thuộc (ghi nhận trường hợp Kim thị năm 767 trong Đường thư). Thời Lí - Trần còn lưu giữ nhiều yếu tố văn hóa bản địa phi Nho giáo, các trường hợp tử tiết như Mị Ê (1044), Hà thị (1113), Lê Thị Ta (1295) xuất hiện thưa thớt. Thời Lê sơ đẩy mạnh Nho giáo hóa qua chính lệnh: nêu khen Lê Thị Liễn (1437), ban hành Huấn dân đại cáo (1461), Huấn điều 24 điều (1499). Thời Lê Trung Hưng tiếp tục với 47 điều giáo hóa (1663), các đợt nêu khen năm 1684, 1717, 1720, 1772 và sự kiện Phan Thị Thuấn tuẫn tiết năm 1786.

Thời Nguyễn đánh dấu giai đoạn quy phạm hóa và pháp điển hóa việc nêu khen tiết phụ qua các văn bản pháp luật (1804, 1827, 1833, 1841, 1848, 1850, 1856, 1866, 1893, 1900), quy định chặt chẽ về độ tuổi và các hành vi tử tiết xuất sắc.

Văn bản / Nguồn sử liệu Số lượng ghi nhận Tỉ lệ liên quan trinh tiết Ghi chú và đặc điểm
Đại Nam thực lục (1804 - 1925) ~310 người - Tập trung vào các năm: 1830 (20 người), 1858 (18 người), 1870 (27 người), 1897 (35 người), 1917 (39 người).
Đại Nam nhất thống chí 108/109 người 81/87 đời Nguyễn (93,1%) Gồm triều Lí (1), Trần (2), Lê (18), không rõ (2), đời Nguyễn (87). Thừa Thiên có 5 người.
Liệt nữ truyện (Đại Nam liệt truyện) 57 người 55/59 truyện (93,2%) 14 người tự tử thành công hoặc bị hại chết (23,7% liệt nữ chuẩn), 9 người tự tử bất thành, 3 người vì hiếu nghĩa.

Chương 1 cũng tổng kết lịch sử nghiên cứu từ đầu thế kỉ XX đến nay của các học giả trong và ngoài nước.

Chương 2: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ X - XV

Chương 2 phân tích hai trường hợp tiêu biểu:

  • Trường hợp Mị Ê trong Việt điện u linh: Mị Ê là cung phi Chiêm Thành tự vẫn khi bị Lí Thái Tông bắt giữ năm 1044. Cái chết bắt nguồn từ tâm lý tuyệt vọng trước cảnh nước mất nhà tan đã được các nhà nho Đại Việt tiếp nhận và Nho giáo hóa. Qua các văn bản từ Đại Việt sử kí Toàn thư đến Tân đính Lĩnh Nam chích quái, hình tượng Mị Ê được chuyển hóa từ phản xạ tự nhiên thành ý thức tuân thủ đạo Tam cương ("tráng sĩ cứu nạn, liệt nữ tuẫn thân"), di chuyển từ phương diện Trinh sang Trung, trở thành liệt nữ "khai khoa" nhằm thiết lập khuôn mẫu đạo đức cho xã hội bản địa.
  • Trường hợp Lê thái hậu và Nguyễn thị trong Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng): Đây là những hình tượng liệt nữ bản địa đầu tiên xuất hiện trong văn học tự sự. Luận án chỉ ra sự lấn át của phương diện Trinh so với Trung trong cách khắc họa, phản ánh kết quả của tiến trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt giai đoạn cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV.

Chương 3: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XVI - XVIII

Chương 3 tập trung vào sự chuyển biến của hình tượng liệt nữ trong giai đoạn xã hội biến động:

  • Nhân vật liệt nữ trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ): Các nhân vật mang dáng dấp giai nhân, là sản phẩm của bối cảnh loạn lạc và trật tự nam quyền bất bình đẳng. Đạo lý Nho gia chỉ đạt được sự thắng thế nửa vời khi các giá trị thẩm mĩ của văn học nghệ thuật (Văn) lấn át tính quy phạm của lịch sử (Sử).
  • Nhân vật An Ấp liệt nữ trong Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm): Nhân vật được miêu tả với đời sống nội tâm phong phú trong mô hình liệt truyện mở rộng. Dưới ngòi bút của nữ sĩ họ Đoàn đầu thế kỉ XVIII, có sự chuyển biến từ phạm trù Tình sang Tính, mở đường cho sự xuất hiện của mẫu người tài tử - giai nhân.
  • Sự phân hóa lý tưởng Nho gia cuối thế kỉ XVIII:
    • Thúy Kiều trong Truyện Kiều (Nguyễn Du): Nhân vật vận động giữa hai nẻo Trinh liệt và Tà dâm, làm rạn nứt quan niệm đạo đức phong kiến tĩnh tại và cứng nhắc.
    • Đặng Thị Huệ trong Hoàng Lê nhất thống chí: Từ vị thế một "vưu vật khuynh quốc", nhân vật kết thúc cuộc đời bằng hành vi tiết liệt ngoài dự kiến của các nhà nho.

Chương 4: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XIX

Chương 4 khảo sát sự vận động của nhân vật liệt nữ trong nỗ lực phục hưng Nho giáo của triều Nguyễn:

  • Sự quy phạm hóa và mô hình hóa kiểu tự sự chính thống: Thể hiện rõ nét qua Đại Nam liệt truyện và làn sóng truyện thơ Nôm thế kỉ XIX, biến liệt nữ thành một mô hình nhân cách chuẩn mực phục vụ đường lối cai trị.
  • Sự tái sinh cốt truyện cũ, tính thời sự và tính duy lí nửa sau thế kỉ XIX:
    • Khảo sát Vũ Thị Thiết trong Nam Xương liệt nữ Vũ thị tân truyện và nhân vật Trinh phụ hai chồng trong Vân nang tiểu sử.
    • Phân tích tính duy lí và tính thời sự qua nhân vật mẹ Nguyễn Cao trong Vân nang tiểu sử, phản ánh sự thích ứng của mô hình nhân cách đạo đức trước những biến động lịch sử cuối thế kỉ XIX.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập các đóng góp khoa học:

  • Về mặt lý luận:
    • Luận giải quy luật vận động song hành giữa kiểu nhân vật liệt nữ và tiến trình phát triển của văn học nhà nho; làm rõ mối quan hệ tương tác giữa Nho giáo hóa và giải Nho giáo trong văn học trung đại Việt Nam.
    • Vận dụng quan điểm giới và nữ quyền luận để giải mã cơ chế xác lập trật tự đạo đức nam quyền phong kiến, chỉ ra mặt tiêu cực của việc lý tưởng hóa những cái chết vì trinh tiết.
    • Khẳng định hiệu quả của phương pháp tiếp cận liên ngành Văn - Sử trong việc nghiên cứu các hiện tượng văn học trung đại.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Thống kê, phân loại và hệ thống hóa diện mạo nhân vật liệt nữ qua từng chặng đường lịch sử từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX trên nguồn tư liệu văn bản tự sự Hán Nôm và chính sử.
    • Cung cấp luận cứ khoa học góp phần điều chỉnh nhận thức trong công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng, lịch sử văn hóa và quản lý xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi tư liệu chủ yếu tập trung vào các tác phẩm tự sự tiêu biểu đã được dịch thuật và công bố; chưa bao quát toàn bộ hệ thống văn bản Hán Nôm dã sử, gia phả, hương ước và văn khắc Hán Nôm.
  • Loại trừ các tác phẩm kịch hát dân gian và tuồng cổ; mảng thơ đề vịnh chữ Hán và chữ Nôm chỉ được khai thác như tư liệu bổ trợ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng diện khảo sát sang hệ thống thơ ca đề vịnh, văn bia, văn tế và các thể loại sân khấu truyền thống.
  • Nghiên cứu sự chuyển biến và dấu ấn của mô hình nhân cách liệt nữ trong giai đoạn văn học giao thời đầu thế kỉ XX (1900 - 1932) và văn học hiện thực, lãng mạn 1932 - 1945.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn học Trung Quốc, Hán Nôm, Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học và Xã hội học.
  • Các nhà nghiên cứu về Giới (Gender Studies) và Lịch sử Tư tưởng Phụ nữ Việt Nam.

Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:

  • Hệ thống khảo sát tư liệu lịch sử - pháp điển triều Nguyễn về chế độ khen thưởng tiết phụ ở Chương 1.
  • Phương pháp phân tích đối sánh Văn - Sử qua các trường hợp Mị Ê (Chương 2), An Ấp liệt nữ, Thúy Kiều (Chương 3) và hệ thống liệt nữ thế kỉ XIX (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định nghĩa thế nào về "liệt nữ" và phân biệt với chữ "liệt" trong "Liệt nữ truyện" của Lưu Hướng ra sao? Luận án định nghĩa: "Liệt nữ (烈女) là người phụ nữ hi sinh tính mạng của mình để bảo toàn trinh tiết, chứng minh sự trinh tiết, hoặc để thể hiện lòng chung thủy đối với chồng". Thuật ngữ này dùng chữ "liệt" (烈) mang nghĩa cương trực, oanh liệt, chết vì tiết nghĩa; khác với chữ "liệt" (列) mang nghĩa sắp xếp, hàng ngũ các phụ nữ tiêu biểu nói chung trong Liệt nữ truyện (列女傳) thời Hán của Lưu Hướng.

  2. Tại sao Mị Ê được coi là nhân vật liệt nữ "khai khoa" mang tính ngẫu nhiên và chịu sự gán ghép của nhà nho Đại Việt? Mị Ê vốn là cung phi Chiêm Thành, tự vẫn năm 1044 do phản ứng tâm lý trước cảnh ngộ nước mất nhà tan. Khi đưa vào Việt điện u linh và Đại Việt sử kí Toàn thư, các nhà nho đã Nho giáo hóa động cơ của bà thành việc thực hành chuẩn mực đạo Tam cương và đạo vợ chồng thuần túy, biến một phụ nữ ngoại tộc thành hình tượng mẫu mực để giáo hóa xã hội Đại Việt.

  3. Số liệu thống kê trong các bộ sử triều Nguyễn phản ánh điều gì về tiêu chuẩn liệt nữ? Số liệu trong Đại Nam nhất thống chí (81/87 liệt nữ đời Nguyễn liên quan đến trinh tiết, chiếm 93,1%) và Đại Nam liệt truyện (55/59 truyện liên quan đến trinh tiết, chiếm 93,2%) cho thấy dưới triều Nguyễn, trinh tiết là tiêu chuẩn quan trọng nhất để người phụ nữ được ghi chép và tôn vinh trong sử sách chính thống.

  4. Luận điểm "Tồn thiên lí, diệt nhân dục" của Tống Nho chi phối việc xây dựng nhân vật liệt nữ ra sao? Quan điểm Tống Nho coi tiết nghĩa là thiên lý tuyệt đối ("Chết đói là việc rất nhỏ mà thất tiết là việc rất lớn"), buộc người phụ nữ triệt tiêu bản năng cá nhân và nhu cầu hạnh phúc thân xác. Khi đi vào văn học, quan niệm này dẫn đến việc ngợi ca các hành vi tuẫn tiết cực đoan như một mẫu hình nhân cách lý tưởng.

  5. Sự khác biệt trong việc thể hiện nhân vật liệt nữ giữa "Truyền kì mạn lục" và "Truyền kì tân phả" là gì? Trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ, thế kỉ XVI), nhân vật liệt nữ mang dáng dấp giai nhân, chịu bi kịch do loạn lạc và bất bình đẳng giới. Sang Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm, đầu thế kỉ XVIII), nhân vật An Ấp liệt nữ được khắc họa với đời sống nội tâm phong phú, có sự chuyển biến từ phạm trù Tình sang Tính, mở đường cho mẫu người tài tử - giai nhân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Văn Hưng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hình tượng nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX. Dưới góc nhìn liên ngành Văn - Sử kết hợp lý thuyết giới và thi pháp học, tác giả đã làm rõ quy luật vận động của mô hình nhân cách liệt nữ gắn liền với tiến trình Nho giáo hóa xã hội và sự thăng trầm của văn học nhà nho. Công trình chỉ ra tính hai mặt của hình tượng nghệ thuật này: vừa thể hiện tinh thần chủ động bảo toàn nhân cách của con người, vừa phản ánh cơ chế áp đặt đạo đức của trật tự nam quyền phong kiến.