phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án có cấu trúc gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ X - XV Chƣơng 3: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XVI - XVIII Chƣơng 4: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XIX 7 (LUAN.dai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dai Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Giới thuyết một số khái niệm sử dụng trong luận án - Nhân vật: Trong nghiên cứu văn học, “nhân vật” hay còn gọi là “nhân vật văn học” được hiểu là “hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [8, tr. Với quan niệm như vậy, nhân vật văn học thể hiện các thuộc tính người trong các thể loại thuộc loại thể tự sự và kịch, với những số phận, nhân cách riêng. Là một hình tượng nghệ thuật, nhân vật văn học được thể hiện qua các yếu tố như ngoại hình, tâm lí, hành động, các mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình; giúp nhà văn thể hiện quan niệm, chính kiến, cách nhìn của mình đối với thế giới tự nhiên và xã hội.
- Liệt nữ 烈女: Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, “liệt 烈” có nghĩa là “cứng cỏi, chính đính”, “liệt nữ” là con gái cứng cỏi chết vì tiết nghĩa không chịu nhục thân” [26, tr. Trong Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh định nghĩa “liệt nữ” là “người đàn bà kiên trinh không chịu khuất tiết” [3, tr. Theo Hán ngữ đại từ điển: “Liệt nữ: Xưa chỉ người phụ nữ trọng nghĩa khinh sinh (…). Đặc chỉ người phụ nữ tuẫn tiết” [237, tr.
Từ hải thì định nghĩa: “Liệt nữ: Chỉ người phụ nữ trọng nghĩa khinh sinh. Theo Từ nguyên, “Liệt nữ: Người phụ nữ cương chính, có tiết tháo. Sử kí - Thích khách truyện: Chị của Nhiếp Chính ở ấp đau buồn mà chết bên xác Chính. Người nước Tấn, Sở, Tề, Vệ nghe được đều nói: “Không chỉ một mình Nhiếp Chính có thể [được gọi là anh hùng], mà chị của Chính cũng là liệt nữ”.
Xã hội phong kiến cũng gọi người phụ nữ không chịu cải giá, hoặc không chịu bị làm nhục mà tuẫn thân là liệt nữ” [238, tr. Ở Trung Quốc, không phải không có lúc người dùng bị nhầm lẫn hai chữ đồng âm này. Trong Liệt nữ truyện kim chú kim dịch, Trương Kính viết: “Trong sách vở thường co giãn hiểu “liệt nữ 列女” thành “liệt nữ 烈女”, cho nên trong dân gian khi răn dạy người phụ nữ không kiểm soát được hành vi của 8 (LUAN.dai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dai mình thường nói: “Bất độc Liệt nữ truyện 列女傳, bất hiểu phụ đức”, tức là đã hiểu “liệt 列” thành “liệt 烈” rồi” [243, tr. Nhà văn Lỗ Tấn từng giải thích: “Căn cứ vào ý kiến của các nhà đạo đức bấy giờ thì đại khái “tiết” là chồng chết thì không được tái giá, cũng không được chằng bậy với ai, chồng chết càng sớm, nhà nghèo thì “tiết” càng cao.
Nhưng “liệt” thì có hai loại: chết theo chồng hoặc chết khi có cường hào đến hiếp, chết càng thảm, càng đau khổ thì “liệt” càng cao” [169, tr. Sang đến Việt Nam, hệ thống nhân vật văn hóa - văn học này cũng gần như chưa bao giờ được định nghĩa một cách hoàn chỉnh trong các văn bản hành chính chính thống thời trung đại. Các nhân vật đó, đến thời Nguyễn thường được gọi chung là “tiết phụ” và dường như chỉ có danh hiệu “tiết phụ quyên sinh” và “trinh nữ” là được quy định cụ thể trong Lệ nêu thưởng thọ dân, thọ quan, nghĩa phu, tiết phụ, trinh nữ, hiếu tử, thuận tôn. sửa đổi năm 1866: “Tiết phụ quyên sinh, từ sau có người nào sau khi chồng chết, (không kể có con hay không) mà quyên sinh (như thắt cổ, tự vẫn, nhảy xuống sông, xuống giếng), cho vẹn tiết, có đủ người nhà chồng và hương lí bảo chứng khai rõ, do quan địa phương xét hỏi kĩ càng sự trạng đích xác, để tâu rõ, thưởng cấp cho một tấm biển, Nhà nước làm nhà riêng cho.
Trinh nữ, từ sau phàm con gái vẫn chưa đi lấy chồng, mà biết kiên trinh giữ tiết, không chịu để cho kẻ cường bạo làm nhơ nhuốc được, sự trạng đích xác, có thương tích làm bằng chứng, không kể có chết hay không, thưởng cấp cho một tấm biển như lệ tiết phụ, nhà nước làm nhà riêng cho, (2 khoản ấy trước đều đặc cách ban ơn, chưa có định lệ, đến nay mới vâng lệnh chước nghị)” [152, tr. Tuy nhiên, một phần vì sự lẫn lộn của hai chữ đồng âm, khái niệm “liệt nữ” được sử dụng không hẳn nhất quán tại Việt Nam. Trong luận án này, chúng tôi quan niệm: “Liệt nữ 烈女 là người phụ nữ hi sinh tính mạng của mình để bảo toàn trinh tiết, chứng minh sự trinh tiết, hoặc để thể hiện lòng chung thủy đối với chồng” dù cho người đó có được triều đình phong kiến nêu khen hay không. Những trường hợp được gọi là “trinh nữ”, 9 (LUAN.dai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dai “tiết phụ”… cũng được luận án xem xét để hiểu rõ hơn tính hệ thống của kiểu nhân vật này trong văn học Việt Nam trung đại.2 - Văn học Việt Nam trung đại: “Văn học Việt Nam trung đại”, hay còn gọi là “văn học cổ Việt Nam”, “văn học Việt Nam thời kì sử dụng chữ Hán và chữ Nôm”, “văn học viết Việt Nam thế kỉ X - XIX”,… có một số đặc trưng cơ bản như: Là sản phẩm của thời kì nguyên hợp Văn - Sử - Triết bất phân thể hiện ở việc khái niệm “văn” được hiểu một cách khá rộng rãi, “Tư tưởng kinh điển và tôn giáo đã cung cấp cảm hứng, đề tài, chủ đề và gợi ý các thể loại cho văn học trung đại” [168, tr.66], tính chất ước lệ gắn với việc sùng cổ, sử dụng điển tích điển cố, đội ngũ sáng tác chủ yếu là tăng lữ, quý tộc và nhà nho, sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học cổ Trung Quốc và có mối quan hệ qua lại với văn học dân gian Việt Nam.
Một số vấn đề về phụ nữ dƣới ảnh hƣởng của đạo đức Nho giáo trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam 1. Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong lịch sử Trung Quốc Trong lịch sử Trung Quốc, vấn đề khắc phục bản năng tình dục, khẳng định sự vượt trội và thống trị của nam giới với nữ giới, ý nghĩa của mối quan hệ giữa Trung, Hiếu, Trinh là một mối quan tâm kéo dài qua nhiều thời đại. Hàn Phi Tử (281 TCN - 233 TCN), đại diện tiêu biểu của Pháp gia từng viết trong Thiên Trung hiếu: “Thần nghe nói: “Tôi thờ vua, con thờ cha, vợ thờ chồng, ba việc đó thuận thì thiên hạ trị yên. Đó là cái đạo bất biến của thiên hạ.
Vị vua sáng, bầy tôi hiền không thể thay đổi được nó” [133, tr. Trong thời Chiến quốc, Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN) tuy chưa nói nhiều đến việc ngăn ngừa người phụ nữ tái giá hay cổ vũ họ tự tận theo chồng nhưng ông có khá nhiều lần phát ngôn xem thường phụ nữ như: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân nan vi dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán (Chỉ 2 Trong Luận án của chúng tôi, “liệt nữ 烈女” không phải có chú chữ Hán đi kèm như “liệt nữ 列 女”.dai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dai có đàn bà và tiểu nhân là khó nuôi thôi. Gần thì chúng nhờn, xa thì chúng oán )”3. Kinh Lễ có ghi lại chuyện Tử Tư khóc vì không được tổ chức lễ tang cho người mẹ của mình do bà đã tái giá.
Cũng trong Kinh Lễ, những ngăn ngừa, giới hạn trong ứng xử, giao tiếp, quan hệ nam nữ đã được ghi lại, trở thành khuôn mẫu cho mấy nghìn năm sau: “Người nam và người nữ, không được phép ngồi chung hỗn độn, quần áo không được treo chung trên cùng một giá treo áo; từng mỗi người tự có khăn lược của riêng mình, không được phép dùng lẫn lộn; đưa đồ vật cũng không được phép chính tay chuyền cho. (…) Giữa người con trai và con gái, nếu như chưa có thông qua mai mối của người trung gian, không được phép tự ý riêng tư trao đổi tên tuổi cho nhau” [127, tr. “Lễ kí - Giao đặc sinh nói: “Tín là đức hạnh của phụ nữ. Một khi đã sánh đôi với người thì trọn đời không thay đổi, nên chồng chết thì không lấy chồng khác” [138, tr.
Thực ra, những quan niệm này có nguồn gốc sâu xa từ tác phẩm triết học lâu đời bậc nhất của Trung Quốc - Kinh Dịch. Kinh Dịch quan niệm “Nhất âm nhất dương chi vị đạo (Một âm một dương gọi là đạo)” [98, tr.451] và cũng trong Kinh Dịch, quan niệm “Phụ nhân trinh cát, tùng nhất nhi chung dã” (Người đàn bà mà chính chuyên, ấy tốt: Theo một chồng cho trọn đời)” [Dẫn theo: 229, tr.156 - 157] đã được nhấn mạnh. Theo kinh điển Nho gia, “Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ; cập kì chí dã, sát hồ thiên địa (…) Đạo người quân tử khởi đầu mối từ vợ chồng; đến chỗ cùng cực của đạo ấy thì thấu triệt trời đất” (Tử Tư) [215, tr. Sự “tu thân” mà Nho giáo quy định “từ thiên tử cho tới thứ dân” là nhằm phục vụ cho mục đích chính trị (Đức trị - Nhân trị) và nhuốm màu sắc tôn giáo (Thiên nhân cảm ứng).
Việc tu thân được nhà nho đề cao bởi nó có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị. Trong Luận ngữ, Hữu tử nói: “Kì vi nhân dã hiếu đễ nhi hiếu phạm thượng giả tiển hĩ. Bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả vị chi hữu dã (…)” (Là người hiếu đễ mà thích phạm thượng thì thật ít thấy. Đã là người không thích phạm thượng mà thích làm loạn thực chưa từng có (…)”4.
Nhân vật liệt nữ ra đời trong bối cảnh văn hóa Nho giáo đó và có một ý 3 Phạm Văn Khoái (2004), Khổng phu tử và "Luận ngữ", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 4 Phạm Văn Khoái (2004), Khổng phu tử và "Luận ngữ", TLĐD, tr.dai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dai nghĩa nhất định trong việc khẳng định sự tồn tại của Hoàng quyền, Phụ quyền và Nam quyền.