Chương 1: Nữ quyền và ý thức nữ quyền trong văn học Nam Bộ đầu thê kỉ XX Trong chương này, chúng tôi tiến hành lí giải các thuật ngữ và vấn đề liên quan đến nữ quyền phương Tây và ý thức nữ quyền trong văn học miền Nam đầu thế kỉ XX. Từ đó, xác định ví trí của Phan Thị Bạch Vân trong dòng chảy văn học đó và đưa ra những quan điểm trong sáng tác của bà là mang đậm màu sắc nữ quyền. Chương 2: Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Phan Thị Bạch Vân nhìn từ phương diện nhân vật nữ Qua những quan điểm trong sáng tác của Phan Thị Bạch Vân từ phương diện ý thức nữ quyền chúng tôi tiến hành phân tích các tác phẩm văn xuôi của bà để thấy được những biểu hiện cụ thể. Chương này, chúng ta xác lập phạm vi nghiên cứu những biểu hiện ấy với các “kiểu nhân vật nữ” - như một minh chứng rõ ràng nhất cho hành trình nhận thức lại và hành động của ý thức nữ quyền.
Chương 3: Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Phan Thị Bạch Vân nhìn từ phương thức trần thuật Từ việc phân loại các “kiểu nhân vật nữ” trong văn xuôi Phan Thị Bạch Vân ở chương 2, chúng tôi tiến hành xác đinh các phương thức để tạo lập các kiểu nhân vật đó. Trong giới hạn của luận văn, trên tinh thần của tự sự học, 13 chúng tôi đi sâu nghiên cứu các khía cạnh: Ngôi kể, kết cấu, giọng điệu để chứng minh lối viết nữ mang đậm màu sắc nữ quyền. NỮ QUYỀN VÀ Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XX Có thể thấy, “trong lịch sử các lí luận khoa học xã hội, có lẽ không có một lý thuyết nào phát triển nhanh chóng và hoàn thiện không ngừng như lý thuyết nữ quyền” (Lê Ngọc Văn, 2006). Lý thuyết nữ quyền trở nên đa khuynh hướng ở các quốc gia và châu lục trên thế giới với nhiều trường phái nữ quyền như: Lý thuyết nữ quyền mácxít (Maxist Feminism); Lý thuyết nữ quyền tự do (Liberal Feminism); Lý thuyết nữ quyền phân tâm học (Psychoanalytic Fiminism); Lý thuyết nữ quyền da đen (Black Feminism); Lý thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism),… Các trường phái lý thuyết nữ quyền này thể hiện những quan điểm, giải pháp khác nhau của các nhà nữ quyền nhưng tất cả đều hướng tới sự bình đẳng giới.
Sự ảnh hưởng của các trường phái, các quốc gia với nhau cũng có mức độ, tính chất, quy mô phụ thuộc vào thực tiễn đấu tranh, giai đoạn lịch sự của từng khu vực. Giới thuyết về nữ quyền 1. Tổng quan về nữ quyền phương Tây Thời đại Phục Hưng cuối thế kỉ XI, chế độ quân chủ cùng sự độc tôn của nhà thờ đã bác bỏ và hạ thấp quyền lợi của người phụ nữ. Nhiều người phụ nữ phải buộc từ bỏ những chức vụ cao đang đảm nhiệm và bị nghiêm cấm tham gia vào một số nghề nghiệp.
Người phụ nữ trong gia đình tuyệt đối không được thay chồng quyết định vấn đề. Bên cạnh đó, họ bị tước đoạt mọi quyền quản lí tài sản, không có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội. Hệ quả là việc người phụ nữ không được tự chủ về tinh thần, tài chính và phải thực thi đầy đủ các phẩm hạnh, sống trong im lặng và tuyệt đối chung thủy. Trong bối cảnh Phục Hưng trước, Christine de Pisan (1364 - 1430) một phụ nữ hiếm hoi trong giới học thức thời bấy giờ đã lên tiếng bày tỏ những phẫn nộ của mình.
Bà đặt ra yêu cầu đấu tranh để người phụ nữ được quyền 15 học tập, đặt nền tảng cho xu hướng đấu tranh vì hòa bình nữ quyền sau này. Bà được nhiều tài liệu đánh giá là người bắt đầu cho vấn đề nữ quyền. Sau đó là Marie Wollstonnecraft (1759 - 1797) cho ra đời cuốn A vindication of the rights of women1. Trên cơ sở phê phán và đề xuất, Wollstonnecraft đã tạo ra một dấu mốc lớn cho tiền đề của sự phát triển các phong trào nữ quyền sau này.
Bà nhận ra rõ rệt sự khác biệt lớn giữa đàn ông và đàn bà là nằm ở việc họ nhận hai nền giáo dục khác nhau. Đã đến lúc, chúng ta cần có một cuộc cách mạng thực sự để xóa bỏ những quan niệm lệch lạc và trả lại công bằng, giá trị vốn có cho người phụ nữ. Nhìn chung, tuy rằng có những động thái nhất định đối với xã hội nhưng cuối thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, mọi đấu tranh cho quyền lợi người phụ nữ chỉ nằm ở việc ca ngợi những phẩm hạnh và đề cao năng lực nữ giới, từ đó có những phát ngôn đòi quyền khẳng định những điều này. Do tình trạng ấy, các phong trào nữ quyền lần lượt nổ ra.
Vấn đề phụ nữ và lý thuyết nữ quyền có sự quan hệ chặt chẽ với lịch sử của các phong trào đòi sự bình đẳng và tự do. Có thể chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, sau khi cách mạng Tư sản Pháp bùng nổ, để đòi lại quyền bình đẳng nam nữ nên vào tháng 10 năm 1789 một nhóm phụ nữ đã biểu tình và xông vào trụ sở Quốc dân đại hội ở Paris. Từ đó làm tiền đề cho nhiều phong trào đòi quyền bình đẳng của phụ nữ nổ ra trên thế giới kéo dài đến đầu thế kỉ XX; Giai đoạn thứ hai, bắt đầu khi các lý thuyết nữ quyền được hình thành từ đầu thế kỉ XX đến những năm 60. Hệ quả của các lý thuyết này khiến đại đa số các nước trên thế giới đều xác nhập vấn đề nam nữ bình quyền trong Hiến pháp; Giai đoạn thứ ba, từ cuối những năm 60, đầu những năm 70 đến nay được coi là thời kì phát triển mạnh mẽ của lý thuyết phê bình nữ quyền.
Thuật ngữ 1 A vindication of the rights of women ( Một chứng minh cho các quyền của đàn bà), tác phẩm mang tính chất khai phá cho học thuyết nữ quyền. Những vẫn đề được nêu vẫn còn giá trị cho đến tận ngày nay. Mục đích là đề xuất quyền được bình đẳng giáo dục của phụ nữ như nam giới nhờ đó mới có thể cải thiện được tình hình xã hội bấy giờ. 16 féminisme do Charles Fourier2 đưa ra lần đầu tiên năm 1830, đến năm 1837 thì thuật ngữ phong trào nữ quyền đã xuất hiện ở Pháp phổ biến và được đề cập đến trong từ điển.
Bên cạnh Fourier, còn xuất hiện những gương mặt tiêu biểu cũng đứng lên đấu tranh nữ quyền phải kể đến như Saint Simon, Flora Tristan, Magaret Fueller ở Mỹ, William Thomspon ở Anh. Nửa đầu thế kỉ XIX, phong trào nữ quyền chủ yếu tập trung vào các cuộc đấu tranh cho phụ nữ về việc làm công và chính sách giáo dục. Giai đoạn quan trọng nền tảng của phong trào nữ quyền là từ nửa cuối thế kỉ XIX đến những năm 30 của thế kỉ XX được đánh dấu bằng những cuộc biểu tình, đấu tranh đòi quyền chính trị và luật pháp cho phụ nữ. Cụ thể là người phụ nữ cần phải được có các quyền dân sự như: quyền sử dụng và quản lí tài sản của mình; quyền bầu cử và ứng cử.
Trên hết, các phong trào nữ quyền bấy giờ đã có sự liên kết vượt biên quốc gia với nhau. Bằng chứng là năm 1904, “Hiệp hội quốc tế đấu tranh cho quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ” đã diễn ra tại Berlin đã liên kết mọi xu hướng trong phong trào đấu nữ quyền lại. Giai đoạn phát triển quan trọng thứ hai của phong trào nữ quyền là cuối những năm 60 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX. Khi đó, các đòi hỏi đã được đặt ra ở thời kì trước dường như đã được thỏa mãn và mục tiêu lớn của giai đoạn này là xóa bỏ bất bình đẳng về thu nhập và vấn đề giữa tình dục - sinh sản.
Trên cơ sở đó, người phụ nữ có quyền giữ hoặc bỏ bào thai theo ý muốn. Cao trào của giai đoạn đấu tranh này là năm 1975 đã được Liên Hiệp Quốc chọn là năm của phụ nữ. Đồng thời, hội nghị Mexico - hội nghị chuyên đề về phụ nữ đầu tiên được diễn ra. Tại đây, các đại biểu tham gia đã mạnh 2 Charles Fourier (1772 - 1837), là một nhà thần học người Pháp.
Ông là người đặt ra thuật ngữ nữ quyền và ủng hộ mạnh mẽ cho quyền phụ nữ. Ông cảm thấy người phụ nữ trong hôn nhân tư bản ở Pháp bấy giờ bị áp bức. Ông cho rằng, mức độ phát triển của nền văn minh có thể xác định bởi mức độ người phụ nữ được giải phóng. 17 dạn nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường và tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào quá trình quyết định chính trị.
Có thể thấy, cuộc đấu tranh giành lại vị thế của người phụ nữ được nhen nhóm từ rất sớm trong lịch sử của cả phương Tây với quan niệm “đàn bà được sinh ra từ chiếc xương sườn của đàn ông…”3 và phương Đông với quan niệm “đàn bà và tiểu nhân thật khó nuôi dạy…”4. Từ đó khiến người phụ nữ trở thành kẻ lệ thuộc. Nhưng điều đáng nói là những quan niệm về “kẻ phụ thuộc”, “lệ thuộc”, “phái yếu”, “ngu dốt” đôi khi cũng do chính người phụ nữ tự đặt lên trên đầu mình. Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) ra đời như một trào lưu tư tưởng và xã hội chống lại chế độ nam quyền, đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ.
Phong trào này xuất phát từ ý thức về bản thân mình của giới nữ, được manh nha vào thời kỳ Khai sáng và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX đến nay. Bên cạnh đó, văn học nữ quyền là sự lên tiếng của các nhà văn nữ với tư cách là những chủ thể trải nghiệm và chủ thể sáng tạo, chống lại sự kiềm toả, áp đặt của tư tưởng nam quyền về hình ảnh người phụ nữ qua các sáng tác văn chương. Cùng với sáng tác, phê bình văn học nữ quyền cũng ra đời gắn liền với những phong trào phụ nữ cuối thập niên 60, đầu 70 của thế kỷ XX. Lý luận phê bình nữ quyền đã bắt đầu thịnh hành.
Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, được coi là thời kì manh nha của nữ quyền luận tại Anh và Mỹ. Từ đó, nó dấy lên những trào lưu gây được ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ. Mục đích chính là đấu tranh cho quyền tự do và bình đẳng của người phụ nữ. Song song là việc mở ra một không gian xã hội rộng lớn định nghĩa, giải cấu trúc những biểu tượng định kiến về người phụ nữ.