phần Mở đầu, Kết luận và Mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thuyết chung về phê bình sinh thái và truyện ngắn của Đỗ Phấn Chƣơng 2: Vấn đề đô thị hóa và tự nhiên trong truyện ngắn của Đỗ Phấn Chƣơng 3: Phụ nữ và tự nhiên với quá trình đô thị hóa trong truyện ngắn của Đỗ Phấn 9 Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN 1. Giới thuyết chung về phê bình sinh thái 1. Khái niệm phê bình sinh thái Thứ nhất về thuật ngữ “Phê bình sinh thái”- Ecocriticism.
Có nhiều thuật ngữ tƣơng đƣơng khác cũng đƣợc dùng để gọi về Phê bình sinh thái nhƣ: nghiên cứu văn học và môi trƣờng, sinh thái văn học, thi pháp sinh thái, phê bình văn học môi trƣờng, phê bình xanh, phê bình văn hóa xanh…Nhƣng thuật ngữ đƣợc nhiều học giả sử dụng nhiều nhất đó là Phê bình sinh thái. Cụ thể là ở Việt Nam những năm gần đây, giới nghiên cứu phê bình văn học chủ yếu dùng thuật ngữ Phê bình sinh thái. Năm 2017, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã cho ra đời cuốn sách và đặt tên sách cũng có cụm từ phê bình sinh thái: “Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương- Phê bình sinh thái”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 3/2017. Nhóm tác giả dịch thuật những tài liệu nghiên cứu về phê bình sinh thái do Hoàng Tố Mai chủ biên đã in thành sách lấy tên “Phê bình sinh thái là gì?”, nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 10/2017.
Trên trang web http://dovanhieu.com của riêng mình, Đỗ Văn Hiểu có một chuyên luận về văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái. Trong lần tổ chức hội thảo quốc tế gần đây nhất về phê bình sinh thái, Viện Văn Học Việt Nam đã đặt tên cho buổi hội thảo là “Phê bình sinh thái- Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu”, Hà Nội, 12/2017. Thuật ngữ sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, bao gồm Oikos (chỉ nơi sinh sống) và Logos (học thuyết). Theo đó, sinh thái học là bộ môn nghiên cứu về nơi sinh sống của các sinh vật, đối tƣợng của nó là toàn bộ mối quan hệ giữa các loài sinh vật với môi trƣờng.
Trong cái nhìn của sinh thái học, giữa các loài sinh vật và môi trƣờng sống luôn có mối quan hệ chặt chẽ, một khi sinh thái bị đảo lộn, sự sống của muôn loài cũng chấm dứt. Trong thế giới sinh vật, con ngƣời đƣợc coi là sinh vật phát triển cao nhất, bởi thế, từ chỗ tập trung nghiên cứu mối quan hệ “cơ thể - môi trƣờng”, sinh thái học dần chuyển 10 sang nghiên cứu mối quan hệ “con ngƣời - tự nhiên”, “xã hội - sinh quyển”. Cùng với những chuyển dịch theo hƣớng mở rộng, sinh thái học đã vƣợt ra khỏi “phạm vi sinh vật học thuần túy, tiếp cận với những vấn đề triết học”. Cái mà phê bình sinh thái hấp thu không phải là thành quả nghiên cứu cụ thể của khoa học tự nhiên mà là tƣ tƣởng cơ bản của sinh thái học, hoặc nói cách khác đó là tƣ tƣởng triết học sinh thái.
Tƣ tƣởng triết học sinh thái là khởi điểm lí luận và căn cứ của Phê bình sinh thái. Vì thế, vào cuối thế kỉ XIX, nhiều ngành nghiên cứu khoa học xã hội liên quan đến môi trƣờng sinh thái đã xuất hiện với những cái tên nhƣ: triết học sinh thái, mỹ học sinh thái, sinh thái văn học… Những nghiên cứu liên quan đến môi trƣờng này đều thể hiện mối quan tâm trƣớc vấn nạn môi trƣờng bị ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái; truy vấn về hành động bức tử môi trƣờng thiên nhiên của con ngƣời; đồng thời lên tiếng kêu gọi sự bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Phê bình sinh thái đƣợc coi là hƣớng nghiên cứu liên ngành, vì thế từ phê bình sinh thái xuất hiện rất nhiều nhánh nghiên cứu khác nhƣ: nữ quyền sinh thái, hậu hiện đại sinh thái, hậu thực dân sinh thái,… Và Phê bình sinh thái đƣợc coi là một môn khoa học mới xuất hiện, đƣợc xếp vào vị trí giao thoa giữa hai ngành: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn. Thứ hai về khái niệm Phê bình sinh thái: Có rất nhiều khái niệm về Phê bình sinh thái.
Giáo sƣ Cheryll Glotfelty- ngƣời khởi xƣớng nghiên cứu về Phê bình sinh thái ở Mỹ cho rằng “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học gắn liền với chủ đề môi trƣờng” (Cheryll Glotfelty, 1996). Theo định nghĩa của giáo sƣ Glotfelty thì Phê bình sinh thái có mối quan hệ mật thiết với văn học. Phê bình sinh thái thẩm định lại văn hóa nhân loại, nguy cơ sinh thái, nguồn gốc của văn hóa tƣ tƣởng thông qua văn học. Khi nghiên cứu văn học thì lấy đối tƣợng môi trƣờng trái đất làm trung tâm “Phê bình sinh thái mang đến một phƣơng pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm”.
Điểm chính trong khái niệm về Phê bình sinh thái của Glotfelty là thúc đẩy mối quan hệ hài hòa giữa con ngƣời và môi trƣờng tạo nên sự cân bằng của hệ thống sinh thái. Thế nhƣng, để có thể áp dụng đƣợc lí thuyết phê binh sinh thái trong việc đọc văn bản, hay để có thể 11 đọc văn bản văn học từ lăng kính của phê bình sinh thái, cần có những định nghĩa mang tính diễn giải và chỉ dẫn cụ thể hơn. Cùng quan điểm về Phê bình sinh thái với Cheryll Glotfelty khi nói về mối quan hệ giữa văn học và môi trƣờng, Giáo sƣ Lawrence Buell đã đƣa ra định nghĩa về Phê bình sinh thái nhƣ sau: “Từ tinh thần thực tiễn bảo vệ môi trƣờng, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trƣờng” (Lawrence Buell, 1996). Nhƣng cả hai định nghĩa có một hạn chế là chỉ chú trọng đến nội dung tƣ tƣởng, đề tài sinh thái, môi trƣờng trong tác phẩm văn học mà chƣa chú ý đến giá trị thẩm mĩ, nghệ thuật ngôn từ của tác phẩm văn học.
Thấy đƣợc điểm hạn chế trong định nghĩa về phê bình sinh thái của Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, học giả ngƣời Trung Quốc là Vƣơng Nặc đã đƣa ra một định nghĩa về phê bình sinh thái nhƣ sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hƣớng tƣ tƣởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái. Nó phơi bày nguồn gốc văn hóa tƣ tƣởng của nguy cơ sinh thái đƣợc phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Vƣơng Nặc, 2010, tr. Định nghĩa của Vƣơng Nặc đã bổ sung đầy đủ hơn về khiếm khuyết trong hai định nghĩa về phê bình sinh thái của Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, đồng thời chỉ rõ đặc trƣng, mục đích , nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu của phê bình sinh thái. Từ sự nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các định nghĩa về phê bình sinh thái của các nhà nghiên cứu Phê bình sinh thái của Tây Âu và Đông Á, nhà nghiên cứu nữ của Việt Nam về phê bình sinh thái là Nguyễn Thị Tịnh Thy có phát biểu nhƣ sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hƣớng tƣ tƣởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b, tr.
12 Nói chung, có rất nhiều khái niệm về phê bình sinh thái, nhƣng theo tôi khái niệm của Cheryll Glotfelty là ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu hơn cả: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trƣờng”. Định nghĩa của Cheryll Glotfelty đƣợc nhiều ngƣời đồng thuận hơn cả và thƣờng mƣợn định nghĩa này trong định nghĩa của mình về phê bình sinh thái, chỉ có điều họ giải thích là làm rõ hơn. Tuy nhiên, nhƣ đã nói ở trên, khái niệm của Cheryll Glotfelty còn bỏ sót tính chất nghệ thuật của phê bình văn học. Vì vậy, “Để hiểu đúng, vận dụng đúng yêu cầu của cả tôn chỉ phê bình sinh thái lẫn nghệ thuật văn chƣơng thì ngƣời nghiên cứu phải sử dụng lời giải nghĩa cho định nghĩa chứ không phải sử dụng định nghĩa của Cheryll Glotfelty” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b, tr.
Trên cơ sở đọc, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp những ý kiến định nghĩa về Phê bình sinh thái của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, tôi hiểu Phê bình sinh thái là phƣơng pháp nghiên cứu văn học, nghiên cứu mối quan hệ hài hòa giữa con ngƣời và tự nhiên trong một chỉnh thể sinh thái, vừa đảm bảo lợi ích của con ngƣời vừa đảm bảo lợi ích sinh thái, vừa đảm bảo tính thực tiễn vừa đảm bảo tính thẩm mỹ. Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái với nhiều cách diễn đạt và sự nhấn mạnh khác nhau. Từ những khái quát này, chúng ta có thể hình dung ra hai công việc cơ bản mà ngƣời nghiên cứu cần tiến hành khi tiếp cận văn bản văn học, hiện tƣợng văn học, truyền thống văn học từ góc độ phê bình sinh thái. Thứ nhất, đó là phân tích cách biểu đạt và nội dung về sinh thái, về mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên, về các bài học đạo đức liên quan đến sinh thái, quá trình nhận thức về sinh thái trong trong tác phẩm văn học.
Thứ hai, đó là phân tích nội dung đó và cách biểu đạt đó có thể có ảnh hƣởng gì trong việc hình thành ý thức về sinh thái và môi trƣờng trong ngƣời đọc và có ảnh hƣởng gì đến chính hiện thực tự nhiên và môi trƣờng. Vấn đề đô thị hóa trong phê bình sinh thái Đô thị là một danh từ, Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, nxb Hà Nội, 1995, đô thị là một không gian cƣ trú của cộng đồng ngƣời sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Theo thông tƣ 31/TTLĐ ngày 20/11/1990 của Bộ Xây dựng và Ban Tổ Chức Cán bộ Chính phủ (1990) thì Đô thị là điểm tập trung dân cƣ với mật độ cao, chủ yếu là lao động công nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tập trung chuyên ngành hay trung chuyển, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội của cả nƣớc hay của một vùng miền.