Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, truyện ngắn cùng với tiểu thuyết giữ vai trò là những thể loại có tính năng động, nhạy bén trong việc phản ánh các chuyển biến của đời sống xã hội. Sau dấu mốc lịch sử năm 1986, công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước đã tạo điều kiện làm thay đổi diện mạo đời sống văn học dân tộc. Trong bối cảnh này, sự xuất hiện với số lượng đông đảo và sự chuyển biến về bản lĩnh nghệ thuật của đội ngũ tác giả nữ đã trở thành một hiện tượng nổi bật của văn học đương đại. Các cây bút nữ đã tham gia sâu sắc vào việc phản tư các giá trị đời sống, thân phận con người và tâm hồn người phụ nữ, qua đó hình thành một bộ phận tác phẩm mang đặc trưng riêng thường được giới nghiên cứu gọi là "văn học mang gương mặt nữ".

Thể loại truyện ngắn được các tác giả nữ lựa chọn như một phương thức tự giác nhằm truyền tải thông điệp nghệ thuật. Dù vậy, việc lý giải thành tựu của truyện ngắn nữ Việt Nam từ năm 1986 đến nay bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử, từ đặc trưng thể loại hay từ đặc trưng giới tính vẫn là vấn đề học thuật cần được nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống. Vì các lý do trên, đề tài Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay được xác lập để thực hiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát sáng tác truyện ngắn của các tác giả nữ tiêu biểu từ năm 1986 đến nay, luận án hướng đến việc chỉ ra các nét đặc trưng làm nên bản sắc của lối viết nữ, đồng thời xác định vị trí của các cây bút nữ trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, khẳng định truyện ngắn nữ là bộ phận tiêu biểu tạo nên sự phong phú của nền văn học thời kỳ đổi mới và hội nhập.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ chính):
    1. Nhiệm vụ 1: Hệ thống hóa các quan điểm và công trình nghiên cứu về văn xuôi nữ nói chung, truyện ngắn nữ nói riêng để làm cơ sở định hướng nghiên cứu.
    2. Nhiệm vụ 2: Đặt truyện ngắn nữ trong bối cảnh đổi mới và hội nhập của văn chương Việt Nam đương đại để nhận diện các tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng và sự vận động nội tại của thể loại.
    3. Nhiệm vụ 3: Làm sáng rõ đặc trưng của truyện ngắn nữ thông qua việc phân tích các mô hình giao tiếp thẩm mỹ của các tác giả nữ.
    4. Nhiệm vụ 4: Khảo sát các dạng thái biểu hiện của lối viết nữ trên các phương diện tổ chức không gian, thời gian nghệ thuật và diễn ngôn mang đặc trưng giới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Truyện ngắn của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tập trung vào các phương diện: mô hình giao tiếp thẩm mỹ, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và diễn ngôn mang đặc trưng giới nữ.
  • Phạm vi tác giả và tác phẩm:
    • Tác giả tiêu biểu trong nước: Khảo sát các tập truyện ngắn của 11 tác giả gồm Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy.
    • Tác giả hải ngoại: Khảo sát tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhung Uyển, Trân Sa qua tuyển tập Khung trời bỏ lại (NXB Phụ Nữ, 1996).
    • Các tuyển tập truyện ngắn: Những truyện ngắn nữ đặc sắc từ 1986 đến nay (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn nữ 2000 – 2006 (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn nữ đầu thế kỷ 21 (NXB Văn học), Truyện ngắn nữ 2000 – 2009 (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn 9 cây bút nữ (NXB Văn học), Vũ điệu thân gầy, truyện ngắn 12 cây bút nữ (NXB Trẻ), Độc thoại trên tháp nhà thờ (NXB Hội Nhà văn).
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn khảo sát từ năm 1986 đến các tác phẩm được xuất bản đến năm 2017.
Nhóm nguồn tư liệu Chi tiết tác giả / Tác phẩm / Tuyển tập Nhà xuất bản / Năm
Tác giả trong nước Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy Khảo sát theo các tập truyện ngắn cá nhân (đến năm 2017)
Tác giả hải ngoại Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhung Uyển, Trân Sa (trong tập Khung trời bỏ lại) NXB Phụ Nữ, 1996
Tuyển tập truyện ngắn nữ Những truyện ngắn nữ đặc sắc từ 1986 đến nay
Truyện ngắn nữ 2000 – 2006
Truyện ngắn nữ đầu thế kỷ 21
Truyện ngắn nữ 2000 – 2009
Truyện ngắn 9 cây bút nữ
Vũ điệu thân gầy, truyện ngắn 12 cây bút nữ
Độc thoại trên tháp nhà thờ
NXB Phụ Nữ
NXB Phụ Nữ
NXB Văn học
NXB Phụ Nữ
NXB Văn học
NXB Trẻ
NXB Hội Nhà văn

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Qua tổng hợp tài liệu, luận án phân loại tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ tại Việt Nam thành bốn hướng tiếp cận chính:

                                  CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1. Tổng kết, đánh giá    2. Tư duy nghệ thuật          3. Tác giả nữ            4. Lý thuyết phê bình
   thành tựu tác giả nữ     và đặc trưng thể loại         cụ thể                   nữ quyền / phái tính
  1. Hướng 1: Tổng kết, đánh giá thành tựu của các cây bút nữ:

    • Bùi Việt Thắng (1993) trong bài viết Khi người ta trẻ (I) nhận định về sự xuất hiện của các cây bút nữ trẻ (Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Nguyễn Minh Dậu) với nhu cầu hòa nhập, đấu tranh cho tình cảm và thủ pháp lạ hóa. Đến năm 2015, trong bài viết Văn chương mang gương mặt nữ, ông tiếp tục khẳng định năng lực biểu đạt cảm xúc và chất trí tuệ trong văn xuôi nữ.
    • Hà Minh Đức (1995) trong bài Những tác giả nữ trong nền văn xuôi cách mạng (sách tuyển chọn giai đoạn 1945–1995) đã phân tích sự đổi mới cấu trúc câu chuyện, nhân vật bộc lộ cá tính và việc thể hiện các khát khao bản năng của người nữ.
    • Nguyễn Thị Bích Thu (2001) trong bài viết Văn xuôi phái đẹp chỉ ra việc các nhà văn nữ khai thác đề tài thế sự, đời tư, các chi tiết đời thường và thế giới nội tâm với bút pháp tự sự trữ tình.
    • Lê Viết Thọ (2006) trong bài viết Sức bật mới của những cây bút nữ ghi nhận sự xuất hiện của các thế hệ tác giả và mạch nguồn nhân hậu phía sau những trang viết thế sự.
    • Phạm Xuân Nguyên (2007) trong bài Vũ điệu văn chương trẻ đánh giá nỗ lực khám phá hiện thực và cách nhìn đời mới mẻ của thế hệ tác giả 7x, 8x (Nie Thanh Mai, Nguyễn Thúy Hằng, Ngọc Cầm Dương, Từ Nữ Triệu Vương).
    • Trần Thục (2013) trong bài Một góc nhìn về văn xuôi nữ tổng kết các chủ đề tình yêu, hôn nhân, mâu thuẫn gia đình và mật độ nhân vật nữ trung tâm (chiếm tới 2/3 hệ thống nhân vật).
    • Châm Khanh (2016) trong bài Phụ nữ và văn chương nêu lên các câu hỏi về hiện tượng phụ nữ viết văn xuôi nhiều hơn thơ và sự khác biệt giới trong sáng tác.
    • Lê Thị Hường (2017) trong bài Ba mươi năm truyện ngắn nữ trong xu thế hội nhập tổng kết toàn diện về trường nhìn hướng nội, đề tài lịch sử, chiến tranh, đời sống đô thị, cảm thức tính dục và việc sử dụng các cấu trúc phân mảnh của lối viết hậu hiện đại.
    • Các quan điểm hoài nghi, trái chiều: Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết Các nhà văn nữ và sự khủng hoảng trong văn học Việt Nam hiện đại đưa ra nhận định tiêu cực về sự đổi mới của tác giả nữ; Hoàng Đăng Khoa cũng bày tỏ sự nghi ngại về nguy cơ đánh mất bản sắc trong nỗ lực đổi mới hình thức.
  2. Hướng 2: Tiếp cận từ tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại:

    • Lê Thị Hường (1995) với luận án phó tiến sĩ Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995 và bài viết Tư duy biểu tượng trong văn xuôi nữ đã phân tích các mã thẩm mỹ như cổ mẫu Đất, Nước, biểu tượng người mẹ và biểu tượng màu sắc.
    • Lê Thị Hương Thủy (2013) trong luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (Nhìn từ góc độ thể loại) phân tích sự gia tăng của người viết nữ và việc sử dụng người kể chuyện xưng "tôi" với điểm nhìn bên trong.
    • Nguyễn Thị Năm Hoàng (2015) trong luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại khảo sát tác phẩm của Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư trong tiến trình vận động chung của thể loại.
    • Phạm Thị Thanh Phượng (2015) với luận án tiến sĩ Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại đã khảo sát có hệ thống các biểu tượng (con người dị biệt, sex, giấc mơ, thiên nhiên) và các yếu tố thi pháp thể loại (kết cấu, cốt truyện, người trần thuật ngôi thứ nhất).
  3. Hướng 3: Nghiên cứu về những tác giả nữ cụ thể:

    • Lê Minh Khuê: Được nghiên cứu qua các bài viết của Bùi Việt Thắng (Hiện tượng Lê Minh Khuê - nhấn mạnh cảm hứng thế sự, chi tiết nghệ thuật sắc sảo, đoạn kết bất ngờ), Trần Hoàng Thiên Kim, Phương Thúy.
    • Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lý Lan: Bùi Việt Thắng (Tứ tử trình làng) phân tích thủ pháp lạ hóa của Phan Thị Vàng Anh, tình huống kì ảo của Võ Thị Hảo, tính chất đa cực giữa chao chát và dịu dàng của Nguyễn Thị Thu Huệ, lối viết dòng ý thức tự do của Lý Lan.
    • Võ Thị Xuân Hà: Văn Giá (Đọc văn của Võ Thị Xuân Hà) chỉ ra trạng thái chập chờn giữa cõi thực và cõi ảo, cốt truyện tối giản và chất trữ tình nhịp chậm.
    • Trần Thùy Mai: Lê Thị Hường (Trần Thùy Mai – hành trình đi tìm hạnh phúc ảo), Hoàng Thị Huế, Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà phân tích không gian văn hóa Huế, chất tự sự nửa cổ tích nửa thế sự và cảm xúc nữ tính.
    • Nguyễn Ngọc Tư: Được khảo sát từ góc độ không gian văn hóa Nam Bộ và ngôn ngữ qua các bài viết của Hoàng Kim, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Bình, Thanh Bình, Trần Hữu Dũng, Tiền Văn Triệu, Thụy Khê, Trịnh Phương Thu, Trần Hoàng Thiên Kim; một số bài viết bước đầu tiếp cận dưới góc nhìn phê bình sinh thái.
    • Các tác giả khác: Y Ban, Đỗ Bích Thúy, Dương Thụy cũng được nhiều bài phê bình phân tích ở các khía cạnh phong cách riêng.
  4. Hướng 4: Tiếp cận từ góc độ vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền (Feminist criticism):

    • Nguyễn Đăng Điệp (2006) trong bài viết Ý thức phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại phân tích 4 biểu hiện: ngôn ngữ trải nghiệm cá nhân giới, sự xét lại các điển phạm nghệ thuật, việc thể hiện đề tài thân thể - tình dục, và việc bảo lưu hơi ấm nữ tính.
    • Nguyễn Thị Bình (2011) trong bài viết Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại làm rõ các tuyên ngôn về hành vi viết và mô hình người phụ nữ mới.
    • Hồ Khánh Vân qua các nghiên cứu về ý thức địa vị "giới thứ hai", quan niệm về lối viết nữ (l'écriture féminine), các mô típ tự thuật, thân thể, hình tượng người mẹ và người đàn ông bất toàn.
    • Đoàn Ánh Dương (2017) trong bài viết Trải nghiệm về giới sau đổi mới: nhìn từ truyện ngắn các nữ nhà văn phân tích việc người nữ kiến tạo hình ảnh người phụ nữ mới và xác lập ngôn ngữ thân thể.
    • Trần Huyền Sâm (2016) trong chuyên khảo Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại cung cấp khung lý thuyết nữ quyền phương Tây và chỉ ra các hạn chế của văn học nữ trong nước (về đề tài, ngôi kể và kỹ thuật xử lý yếu tố tính dục).
    • Hai công trình luận án chuyên sâu: Nguyễn Thị Thanh Xuân (2013) với luận án Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại và Mai Thị Thu (2015) với luận án Tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986.

Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Các công trình nghiên cứu ngoài nước về văn xuôi nữ Việt Nam chủ yếu xuất hiện dưới dạng bài viết phân tích bối cảnh toàn cầu hóa tác động đến việc giải phóng cái tôi cá nhân của tác giả nữ. Nổi bật về mặt nghiên cứu chuyên khảo là luận án tiến sĩ của Hoàng Dĩ Đình (Đại học Ngoại ngữ - Ngoại thương Quảng Đông, Trung Quốc) với đề tài Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ), ứng dụng ngôn ngữ học để phân tích chiến lược trần thuật, người trần thuật và điểm nhìn trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo và Phan Thị Vàng Anh.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy: phần lớn các nghiên cứu trước đây lồng ghép truyện ngắn nữ trong bức tranh chung của văn xuôi nữ, hoặc khảo sát các tác giả đơn lẻ, hoặc tiếp cận theo hướng phê bình xã hội học, phê bình nữ quyền thuần túy. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng một công trình chuyên biệt, khảo sát có hệ thống truyện ngắn nữ giai đoạn 1986–2017 dưới góc độ cấu trúc – kí hiệu học, tiếp cận tác phẩm như một mô hình giao tiếp nghệ thuật đa chiều (với thiên nhiên, với cuộc sống/con người, với chính mình), kết hợp phân tích các dạng thái biểu hiện của không gian, thời gian và diễn ngôn mang đặc trưng giới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết Cấu trúc – Kí hiệu học (Structural Semiotics): Luận án xem tác phẩm văn học là một hệ thống kí hiệu và một quá trình giao tiếp thẩm mỹ giữa người viết (chủ thể mã hóa) và người đọc (chủ thể giải mã). Khung phân tích này dùng để giải mã cấu trúc biểu hiện và các mô hình giao tiếp được kiến tạo trong văn bản truyện ngắn nữ.
  • Lý thuyết Phê bình nữ quyền (Feminist Criticism) và Lối viết nữ (l'écriture féminine): Ứng dụng các quan điểm về ba làn sóng đấu tranh nữ quyền thế giới (làn sóng thứ nhất về quyền chính trị - xã hội; làn sóng thứ hai về sự giải phóng toàn diện và phê bình văn học; làn sóng thứ ba về sự đa dạng bản sắc nội tại của giới nữ); khái niệm địa vị "giới thứ hai" và ý thức phái tính để phân tích phương thức nhà văn nữ kiến tạo diễn ngôn thân thể và tái định vị bản ngã.
  • Lý thuyết Thi pháp học (Poetics): Sử dụng quan niệm "hình thức mang tính quan niệm" để phân tích không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và tổ chức trần thuật.
  • Lý thuyết Loại hình thể loại: Xem xét các quy luật vận động nội tại của thể loại truyện ngắn trong mối tương quan với đặc trưng tư duy nghệ thuật của phụ nữ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính văn học chuyên ngành:

  1. Phương pháp cấu trúc – kí hiệu học: Phân tích cấu trúc nội tại của tác phẩm, phân tích các tầng bậc kí hiệu được mã hóa trong mô hình giao tiếp nghệ thuật.
  2. Phương pháp loại hình: Bao quát các đặc trưng thể loại truyện ngắn và sự tương thích giữa thể loại này với lối viết nữ.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu truyện ngắn nữ giai đoạn 1986–2017 với truyện ngắn của các tác giả nam cùng thời, cũng như với sáng tác của các tác giả nữ giai đoạn trước 1986.
  4. Tiếp cận theo hướng thi pháp học: Khám phá các phương diện tổ chức hình thức nghệ thuật như không gian sinh tồn, không gian tâm tưởng, thời gian hồi ức và thời gian phân mảnh.
  5. Các thao tác bổ trợ: Khảo sát văn bản, thống kê – phân loại tư liệu tác phẩm, phân tích, tổng hợp và phê bình văn học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương này thực hiện việc hệ thống hóa, phân loại và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước. Tác giả phân tích 4 hướng nghiên cứu chính tại Việt Nam (tổng kết thành tựu; tư duy nghệ thuật và thể loại; nghiên cứu tác giả đơn lẻ; lý thuyết nữ quyền/phái tính) và các nghiên cứu quốc tế. Từ việc chỉ ra thành tựu và hạn chế của các tài liệu đi trước, chương 1 xác lập tính cấp thiết, khoảng trống học thuật và định hình hướng tiếp cận mới của luận án từ góc độ cấu trúc – kí hiệu học và diễn ngôn giới.

Chương 2: Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

Nội dung chương 2 tập trung phân tích các tiền đề hình thành và phát triển của truyện ngắn nữ đương đại:

  • Những tác động ngoại sinh:
    • Bối cảnh lịch sử, xã hội sau năm 1986 với đường lối đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ hóa đời sống tinh thần.
    • Sự thay đổi hệ hình thẩm mỹ: từ cảm hứng sử thi, ca ngợi cái "ta" chung của cộng đồng trong thời chiến chuyển sang cái nhìn thế sự, đời tư, đề cao ý thức cá nhân và cá tính sáng tạo trong thời bình.
    • Tác động của quá trình toàn cầu hóa, bùng nổ truyền thông, văn học mạng và sự du nhập của các trào lưu tư tưởng phương Tây (chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại, phân tâm học, lý thuyết nữ quyền).
    • Sự biến chuyển về vị thế xã hội của phụ nữ Việt Nam, sự thức tỉnh ý thức bình đẳng giới và phản ứng đối với các định kiến Nho giáo truyền thống còn tồn tại.
  • Những vận động nội tại: Sự tự vận động của thể loại truyện ngắn với tính chất ngắn gọn, linh hoạt, phù hợp với nhịp sống hiện đại và trực cảm của tác giả nữ.
  • Khẳng định vị thế: Luận giải nguyên nhân truyện ngắn nữ trở thành bộ phận tiêu biểu thể hiện "bản lai diện mục" của nền văn học Việt Nam đương đại.

Chương 3: Những mô hình giao tiếp trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

Dựa trên cách tiếp cận kí hiệu học xem tác phẩm là hành vi giao tiếp nghệ thuật, chương 3 làm rõ 3 mô hình giao tiếp chủ đạo:

  • Mô hình giao tiếp với thiên nhiên: Thể hiện sự gắn kết giữa trực cảm của người phụ nữ với các yếu tố tự nhiên; sự xuất hiện đậm đặc của các cổ mẫu mang tính âm như Đất, Nước; sự hòa nhập giữa thiên nhiên và tâm thức sinh thái của con người.
  • Mô hình giao tiếp với cuộc sống và con người: Khai thác các xung đột thế sự, đời tư, va chạm trong đời sống đô thị và cấu trúc gia đình; sự nhìn nhận, giải mã hình tượng người đàn ông từ điểm nhìn của phụ nữ; sự thấu cảm đối với các số phận nhỏ nhoi, bất hạnh.
  • Mô hình giao tiếp với chính mình: Phương thức tự phản tư, tự thuật; quá trình khám phá thế giới vô thức, tâm linh, giấc mơ và cảm thức bản năng, thân thể; hành trình xác lập và khẳng định bản ngã nữ tính.

Chương 4: Những dạng thái biểu hiện trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 4 đi sâu phân tích các phương tiện nghệ thuật cụ thể kiến tạo nên lối viết nữ:

  • Không gian và thời gian nghệ thuật:
    • Tổ chức không gian: Không gian đời tư, không gian sinh hoạt thường nhật thu nhỏ, không gian đô thị ngột ngạt và không gian tâm tưởng mang tính hư ảo.
    • Tổ chức thời gian: Thời gian tâm trạng, thời gian hồi ức, sự xáo trộn trật tự thời gian tuyến tính truyền thống theo cấu trúc phân mảnh và dòng ý thức.
  • Diễn ngôn mang đặc trưng giới trong truyện ngắn nữ:
    • Ngôn ngữ thân thể và tính dục: Sử dụng diễn ngôn thân thể như một phương thức giải phóng bản ngã và xác lập quyền tự chủ của người nữ.
    • Cảm xúc và giọng điệu: Giọng điệu đa thanh, kết hợp giữa trữ tình dịu dàng với sự đối thoại sắc sảo, chao chát; cách tổ chức câu văn ngắn, linh hoạt, bộc lộ các trạng thái tâm lý phức tạp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận về thể loại truyện ngắn trong thời kỳ đương đại thông qua việc nhận diện các đặc trưng khu biệt của lối viết nữ.
  • Xác lập việc ứng dụng lý thuyết cấu trúc – kí hiệu học vào phân tích văn xuôi nữ, xem tác phẩm như một hệ thống mã hóa và các mô hình giao tiếp thẩm mỹ đặc thù (với tự nhiên, đời sống xã hội và nội tâm cá nhân).
  • Góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa giới tính của chủ thể sáng tạo và việc tổ chức các yếu tố thi pháp văn bản (không gian, thời gian, diễn ngôn).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xây dựng bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về diện mạo, thành tựu và quy luật vận động của truyện ngắn nữ Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2017.
  • Cung cấp tư liệu khoa học và khung phân tích cụ thể cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Văn học đương đại, Lý luận văn học và Phê bình nữ quyền tại các trường đại học, cao đẳng và các trường phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Giới hạn thời gian khảo sát: Do đối tượng nghiên cứu thuộc về mảng văn học đương đại đang trong quá trình tiếp diễn ("cái đương đại chưa hoàn thành"), luận án chỉ giới hạn khảo sát các tác phẩm xuất bản từ năm 1986 đến năm 2017, do đó chưa bao quát các tập truyện ngắn xuất bản sau mốc thời gian này.
  • Mức độ tiếp cận một số lý thuyết mới: Một số hướng tiếp cận chuyên ngành sâu như phê bình sinh thái học (ecocriticism) và phân tâm học sâu mới chỉ dừng lại ở mức độ liên hệ, chưa triển khai thành các chương mục phân tích chuyên biệt.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát các tập truyện ngắn nữ xuất bản sau năm 2017 nhằm cập nhật đầy đủ các biến chuyển mới của văn học nữ trong bối cảnh xã hội số.
  • Triển khai nghiên cứu liên ngành chuyên sâu giữa văn học nữ với phê bình sinh thái, xã hội học giới tính và lý thuyết tiếp nhận văn học đương đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu chi tiết (Chương 1) và khung phương pháp luận tiếp cận văn xuôi nữ qua cấu trúc – kí hiệu học và diễn ngôn giới, phục vụ cho việc thực hiện các đề tài khóa luận, luận văn, luận án về văn học đương đại.
  • Đối với giảng viên đại học, cao đẳng và giáo viên trung học phổ thông: Luận án là tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy các tác gia nữ tiêu biểu (Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh...) và chuyên đề về văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
  • Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa và giới tính: Cung cấp các phân tích thực chứng về sự biến đổi nhận thức giới và sự biểu hiện của ý thức nữ quyền trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam từ sau năm 1986.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát truyện ngắn của những tác giả nữ cụ thể nào?

Luận án tập trung khảo sát 11 tác giả tiêu biểu trong nước gồm: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy; cùng 3 tác giả hải ngoại là Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhung Uyển, Trân Sa (trong tập Khung trời bỏ lại).

2. Khung thời gian và phạm vi tư liệu khảo sát của luận án được giới hạn như thế nào?

Luận án khảo sát các truyện ngắn được sáng tác và xuất bản trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2017, bao gồm các tập truyện ngắn cá nhân và 7 tuyển tập truyện ngắn nữ xuất bản tại các nhà xuất bản trong nước.

3. Ba mô hình giao tiếp chính được luận án xây dựng ở Chương 3 là gì?

Ba mô hình giao tiếp thẩm mỹ gồm:

  1. Mô hình giao tiếp với thiên nhiên (gắn kết với các cổ mẫu Đất, Nước và cảm thức tự nhiên).
  2. Mô hình giao tiếp với cuộc sống và con người (khám phá hiện thực thế sự, đời tư, gia đình và hình tượng người đàn ông).
  3. Mô hình giao tiếp với chính mình (tự phản tư, giải mã cõi vô thức, giấc mơ, thân thể và khẳng định bản ngã).

4. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học nào để thực hiện đề tài?

Luận án sử dụng 4 phương pháp chính: phương pháp cấu trúc – kí hiệu học, phương pháp loại hình, phương pháp so sánh và tiếp cận theo hướng thi pháp học; kết hợp các thao tác bổ trợ gồm khảo sát văn bản, thống kê – phân loại, phân tích, tổng hợp và phê bình văn học.

5. Nghiên cứu sinh nước ngoài nào đã thực hiện luận án tiến sĩ về truyện ngắn nữ Việt Nam được điểm lại trong tài liệu?

Đó là PGS. Hoàng Dĩ Đình (Đại học Ngoại ngữ - Ngoại thương Quảng Đông, Trung Quốc) với luận án tiến sĩ Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ), khảo sát ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo và Phan Thị Vàng Anh.


Kết luận

Luận án Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay là công trình nghiên cứu chuyên biệt về sự phát triển của truyện ngắn do các tác giả nữ sáng tác trong giai đoạn Đổi mới và hội nhập đến năm 2017. Bằng việc kết hợp phương pháp cấu trúc – kí hiệu học, thi pháp học và lý thuyết phê bình nữ quyền, tác giả đã làm rõ các mô hình giao tiếp thẩm mỹ cùng các dạng thái biểu hiện của không gian, thời gian và diễn ngôn mang đặc trưng giới. Công trình khẳng định vị thế của truyện ngắn nữ như một bộ phận tiêu biểu phản ánh diện mạo và sự cách tân nghệ thuật của nền văn học Việt Nam đương đại.