phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục. Nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ LÝ THUYẾT NỮ QUYỀN VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG Trong chƣơng này, chúng tôi tập trung hệ thống lý thuyết nữ quyền, phê bình văn học nữ quyền.
Đồng thời, luận văn khái quát bối cảnh xã hội miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 và giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng. NỘI DUNG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN THỊ HOÀNG DƢỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN Luận văn tập trung tìm hiểu những cảm hứng chính trong tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng gồm chiến tranh và phận ngƣời; tình yêu và tình dục. Đồng thời, luận văn làm rõ các kiểu nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng: Nhân vật tìm kiếm bản thể, nhân vật bi kịch, nhân vật nổi loạn. Từ đó luận văn làm rõ ý thức nữ quyền đƣợc thể hiện qua tác phẩm.
NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN THỊ HOÀNG DƢỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN Trong chƣơng này luận văn tập trung vào các phƣơng diện nghệ thuật tiêu biểu đƣợc thể hiện trong tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng: điểm nhìn mang cảm thức giới, ngôn ngữ giàu cảm thức giới và giọng điệu dạt dào thiên tính nữ. 9 Chƣơng 1 HÁI QUÁT VỀ LÝ THUYẾT NỮ QUYỀN VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG 1. Lý thuyết nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền 1. Lý thuyết nữ quyền Trong những năm gần đây, thuật ngữ nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền đƣợc sử dụng khá phổ biến.
Vấn đề nữ quyền xuất phát từ phong trào thực tiễn. Đó là phong trào nữ quyền, phong trào này xuất hiện ở phƣơng Tây và đƣợc chia thành ba “làn sóng”. Mỗi làn sóng gắn với các khía cạnh khác nhau của vấn đề nữ quyền. Làn sóng thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Trong giai đoạn này, các nhà nữ quyền đấu tranh giành quyền lợi cho ngƣời phụ nữ ở cả hai lĩnh vực công cộng và riêng tƣ. Ở lĩnh vực công cộng, nổi bật là quyền bỏ phiếu và quyền bầu cử của phụ nữ. Đó cũng chính là mục tiêu, là đòi hỏi của các phong trào nữ quyền ở Pháp, Anh, Mỹ vào đầu thế kỉ XX. Ngoài ra, các nhà nữ quyền còn quan tâm đến quyền giáo dục, quyền thu nhập, quyền sở hữu tài sản và sự bình đẳng trong nghề nghiệp của ngƣời nữ.
Đối với họ đây chính là yếu tố để ngƣời nữ trở nên độc lập, không bị phụ thuộc vào nam giới. Bên cạnh lĩnh vực công cộng, các nhà nữ quyền tiến tới đòi quyền lợi cho ngƣời nữ ở lĩnh vực riêng tƣ. Trong lĩnh vực của đời sống riêng tư, các nhà nữ quyền quan tâm đến quyền “sở hữu” thân thể của ngƣời phụ nữ. Họ đấu tranh cho các quyền của ngƣời nữ nhƣ quyền tự quyết định trong hôn nhân, quyền kiểm soát mức sinh, quyền kế hoạch hóa gia đình hay quyền đƣợc độc thân.
Làn sóng nữ quyền thứ hai diễn ra vào khoảng năm 1918 đến năm 1968. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của làn sóng nữ quyền thứ nhất, làn sóng nữ quyền thứ hai đấu tranh cho quyền bình đẳng pháp lý và xã hội đối với ngƣời nữ. Các nhà nữ quyền trong thời kì này, đặc biệt chú trọng đến các quyền lợi xã hội của phụ nữ nhƣ quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe, quyền đƣợc tự do lao động sản xuất hay các quyền riêng tƣ của phụ nữ. Làn sóng nữ quyền thứ hai đã đem lại nhiều giá trị có ý nghĩa thực tiễn to lớn “Phong trào nữ quyền trong làn sóng thứ 10 hai đã trở thành tiền đề cho sự ra đời những nghiên cứu về phụ nữ.
Những nghiên cứu này nảy sinh từ thực tiễn chính trị nhằm nâng cao nhận thức cho ngƣời phụ nữ” (Nguyễn Thị Nga, 2017, tr21). Làn sóng nữ quyền thứ ba kéo dài từ năm 1968 đến nay. Nhìn chung đây là giai đoạn thể hiện sự trƣởng thành của phong trào nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền. Làn sóng nữ quyền thứ ba chịu sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa.
Theo đó, phong trào nữ quyền phát triển sâu sắc và khá toàn diện trên mọi lĩnh vực và nhiều ngành khoa học. Nhƣ vậy, phong trào nữ quyền là phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho phụ nữ trên mọi phƣơng diện và mọi lĩnh vực. Từ những quyền lợi về chính trị, kinh tế nhƣ quyền đƣợc bầu cử; quyền đƣợc tham gia vào các hoạt động xã hội; quyền đƣợc trả lƣơng ngang nhau;…cho đến những quyền lợi cơ bản, thiết thực của ngƣời phụ nữ trong cuộc sống hằng ngày nhƣ quyền đƣợc giáo dục; quyền sinh sản; quyền đƣợc bình đẳng trong gia đình; quyền đƣợc bảo vệ; quyền chống bạo lực tình dục; chống bạo lực gia đình;… Bắt nguồn từ phong trào thực tiễn, nữ quyền trở thành vấn đề đƣợc xã hội quan tâm và tiếp cận dƣới nhiều góc độ. Tuy cách tiếp cận có khác nhau nhƣng về cơ bản vấn đề hƣớng tới lại giống nhau.
Mọi khái niệm, định nghĩa đều hƣớng đến ngƣời phụ nữ cùng với sự ý thức về giới và bình đẳng giới. Theo đó, nhiều khái niệm, định nghĩa về nữ quyền, chủ nghĩa nữ quyền đƣợc đƣa ra. Có thể kể đến một số ý kiến sau: Theo Maggie Humm thì “Nói chung, nữ quyền là hệ tƣ tƣởng giải phóng phụ nữ với niềm tin cho rằng phụ nữ phải chịu đựng tình trạng bất công vì giới tính của họ” (Nguyễn Thị Nga, 2017, tr. Còn Sue Thornham cho rằng “bất kỳ một định nghĩa nào về nữ quyền đều cần thấy đây trƣớc hết là một lực lƣợng xã hội và chính trị, nhằm mục tiêu thay đổi những quan hệ quyền lực hiện tồn tại giữa nam giới và nữ giới” (Nguyễn Thị Nga 2017, tr.
Riêng Louise Toupin lại khái quát về nữ quyền với những đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: “Đây là một sự ý thức ban đầu mang tính cá nhân, sau đó mang tính tập thể, đƣợc gắn với một cuộc/sự nổi dậy chống lại sự sắp xếp các 11 quan hệ giới tính và địa vị lệ thuộc của phụ nữ trong một xã hội nhất định, vào một thời điểm trong lịch sử của xã hội đó. Đây còn là một cuộc đấu tranh nhằm thay đổi những quan hệ và tình trạng nhƣ vậy” (Nguyễn Thị Nga, 2017, tr. Đối với Mary Hawkesworth thì “nữ quyền là một phong trào chính trị toàn cầu để cải thiện các điều kiện sống của phụ nữ và để loại bỏ bất bình đẳng, bất công trên thế giới” (Nguyễn Thị Nga 2017, tr. Cũng trong cuốn sách Triết học nữ quyền: lý thuyết triết học về công bằng xã hội cho phụ nữ do Nguyễn Thị Nga chủ biên đã đƣa nhận định “nữ quyền là một phong trào lý luận và hành động [chính trị] ghi nhận những quan hệ bất bình đẳng và bị sắp đặt theo hệ thống tôn ti giữa giới nam và giới nữ và tìm cách xóa bỏ những khác biệt này” (Nguyễn Thị Nga 2017, tr.
Từ góc độ lý luận, ta thấy cách tiếp cận vấn đề nữ quyền khá phong phú và đa dạng. Nữ quyền là vấn đề nảy sinh từ phong trào thực tiễn. Đây là một phong trào xã hội rộng lớn, nó gắn liền với vấn đề nữ quyền và nhân quyền. Theo đó, có thể khái quát “Chủ nghĩa nữ quyền là một phong trào hoạt động xã hội rộng lớn nhằm gắn vấn đề nữ tính với nhân quyền.
Đó là cuộc hành trình “câm lặng và giông bão” trong lịch sử nhân loại, với mục đích đấu tranh cho một xã hội bình đẳng giới” (Trần Huyền Sâm, 2016, tr. Nhìn chung, mọi cách hiểu về vấn đề nữ quyền đều tập trung vào việc khẳng định vai trò, vị thế của ngƣời phụ nữ trong đời sống và trong mọi lĩnh vực. Nữ quyền là phong trào đấu tranh xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới. Ngoài ra, nữ quyền còn đƣợc hiểu là thái độ trân trọng, đề cao, bảo vệ và ghi nhận những đóng góp của ngƣời phụ nữ.
Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, ngƣời phụ nữ có nhiều điều kiện, cơ hội để khẳng định giá trị của bản thân, tự tin thể hiện chính mình, vƣợt qua mọi rào cản về giới tính. Nhƣ vậy, phong trào đấu tranh vì nữ giới là một phong trào vô cùng ý nghĩa và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Vì thế, nữ quyền trở thành vấn đề của nhân loại, của thời đại. Theo đó, phong trào nữ quyền, tƣ tƣởng nữ quyền xuất phát từ phƣơng Tây sau đó nhanh chóng lan rộng sang các nƣớc khác, trong đó có Việt Nam.
12 Ở Việt Nam, đầu thế kỉ XX là giai đoạn vấn đề nữ quyền, chủ nghĩa nữ quyền đƣợc bàn luận một cách sôi nổi. Nhìn vào lịch sử xã hội Việt Nam, phong trào đầu tiên đề cập đến vấn đề nữ quyền là phong trào Đông kinh nghĩa thục (1907). Đây là phong trào có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Phong trào này khuyến khích phụ nữ tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa.
Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam còn xuất hiện trong các tờ báo nhƣ Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Phụ nữ tân văn, Nữ giới chung,… Gắn với các tờ báo này, là những gƣơng mặt tiên phong trong phong trào nữ quyền. Có thể kể đến nhƣ Phạm Quỳnh với bài viết Sự giáo dục đàn bà con gái đăng trên Tạp chí Nam Phong số 4/1917, hay bài Bàn về sự học con gái bây giờ như thế nào cũng đăng trên tạp chí Nam Phong số 23. Cả hai bài viết trên đều thể hiện quan điểm của tác giả về tầm quan trọng của việc giáo dục đối với ngƣời phụ nữ. Có thể thấy, Phạm Quỳnh chịu ảnh hƣởng của tƣ tƣởng nữ quyền Phƣơng Tây khi đề cập đến vấn đề giáo dục và quyền lợi của ngƣời nữ.
Theo tác giả, phụ nữ ngày nay có quyền bình đẳng về giáo dục. Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam trở nên quen thuộc và có sức lan tỏa hơn khi tờ báo Nữ giới chung của Sƣơng Nguyệt Anh ra đời. Tờ báo này cất lên tiếng nói của ngƣời phụ nữ, dùng ngòi bút đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Đồng thời, kêu gọi phụ nữ hãy tham gia vào các hoạt động xã hội, hãy học hành, đấu tranh để xóa bỏ bất bình đẳng giới.
Vì vậy, nó nhận đƣợc sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, nhất là nữ giới. Ngoài Nữ giới chung thì Phụ nữ tân văn cũng là một trong những tờ báo đăng nhiều tác phẩm thể hiện tƣ tƣởng nữ quyền. Ngay từ số báo đầu tiên, Phan Khôi đã thể hiện quan điểm của mình về vấn đề nữ quyền.