Mở đầu chương này, ông tuyên bố muốn bàn đến lời văn, tức là ngôn ngữ trong tính toàn vẹn cụ thể và sinh động của nó chứ không phải ngôn ngữ với tính cách là đối tượng chuyên biệt của ngôn ngữ học. Cái gọi là chỉnh thể ngôn ngữ mà M. Bakhtin hay dùng thực chất là diễn ngôn. Sự phân tích ngôn ngữ của Bakhtin thực chất là phân tích diễn ngôn, ông nghiên cứu phần nội dung, ý nghĩa và sức mạnh do ngôn ngữ mang lại.
Bakhtin nêu xu hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học”, tức là lấy diễn ngôn (lời nói, văn bản) làm đối tượng nghiên cứu, hình thành khuynh hướng “diễn ngôn học”, mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận ngôn từ văn học. Thứ ba là hướng nghiên cứu diễn ngôn của các nhà xã hội học mà tiêu biểu là M. Foucault đã có công trong việc đưa diễn ngôn trở thành một khái niệm thực sự có ý nghĩa trong lịch sử tư tưởng thế kỷ XX. Cái mà Foucault bận tâm không phải là ý nghĩa nào ẩn chứa trong diễn ngôn mà là những quy tắc đã chi phối việc diễn ngôn ra đời và vận hành trong đời sống.
Trong các công trình như Kỉ luật và Trừng phạt (Disipline and Punish), Lịch sử tính dục (The History of Sexuality), ông chỉ ra mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong việc kiến tạo ra diễn ngôn; tri thức hay diễn ngôn chẳng qua chỉ là những sản phẩm cũng như công cụ để thực thi quyền lực. Foucault cho rằng các nhóm thống trị xã hội thông qua diễn ngôn để tạo ra tri thức, tạo ra chân lí, để áp đặt lên các nhóm bị trị những lĩnh vực tri thức đặc thù, những nguyên tắc và giá trị của mình nhằm muốn hợp pháp hóa quá trình trị vì thiên hạ của mình. Chính vì thế, những tri thức do diễn ngôn kiến tạo nên không thể mang tính khách quan, trung tính bởi nó luôn là sản phẩm của các quan hệ quyền lực. Trong Khảo cổ học tri thức (The Archaeology of Knowledge), theo Foucault, thực tại dù có trước, song thực tại ấy chỉ có thể tái tạo thành diễn ngôn thì mới trở thành ý thức của con người, con người sẽ hành xử với thế giới theo nội dung của diễn ngôn chứ không phải theo bản chất tự nhiên, vốn có của nó.
Thế giới khách quan vẫn tồn tại nhưng chúng chỉ có nội dung, ý nghĩa cụ thể thông qua diễn ngôn. Đến lượt mình, mọi diễn ngôn đều là kết quả của các quan hệ tri thức/quyền lực trong một thời đại cụ thể. Foucault định nghĩa diễn ngôn như sau: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định được cá thể hoá, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được qui ước nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định (statement)” [126, tr. Như vậy, Foucault không nói diễn 9 ngôn về mặt ngữ học, mà nói trên ý nghĩa triết học và tư tưởng hệ.
Theo diễn giải của tác giả Trần Văn Toàn, định nghĩa diễn ngôn của Foucault được hiểu theo ba cấp độ. Thứ nhất, diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung (tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực). Ở đây, diễn ngôn được hiểu là công cụ để con người tri nhận thế giới, việc lựa chọn diễn ngôn nào sẽ quy định cách hiểu của chúng ta về thế giới hiện thực. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực là quan hệ lựa chọn, chứ không phải là quan hệ phụ thuộc.
Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các nhận định được cá thể hóa. Nghĩa là các nhận định được đặt chung vào một nhóm khi chúng được tổ chức theo một quy ước chung, có một mạch lạc và hiệu lực chung. Theo đó, chúng ta có thể sử dụng các cách diễn đạt như diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thực dân, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn dân tộc… Đơn vị của diễn ngôn có thể lớn hoặc nhỏ, thuộc các cấp độ khác nhau, diễn ngôn lớn như y học lâm sàng, nhỏ như bệnh tâm thần… Thứ ba, diễn ngôn là một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định. Theo ý nghĩa này thì diễn ngôn còn bao gồm các nguyên tắc, cơ chế chi phối đến sự hình thành và vận hành của một tập hợp các nhận định nào đó.
Cơ chế kiểm soát/điều chỉnh diễn ngôn bao gồm hệ thống loại trừ từ bên ngoài (external system of exclusion) và hệ thống loại trừ bên trong (internal system of exclusion). Như vậy, cả Foucault và Bakhtin đều là nhà lịch sử, nhà tư tưởng, nhà triết học chứ không đơn thuần là nhà nghiên cứu văn học nên cả hai ông đều nhìn ngôn ngữ ở góc độ xã hội, ngôn ngữ là sản phẩm của tư tưởng hệ. Họ khẳng định rằng chính hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội đã trở thành cái logic nội tại, cái cơ chế thầm kín chi phối cách sử dụng ngôn từ của con người. Đặc điểm của diễn ngôn văn học Về cơ bản, diễn ngôn văn học cũng mang những đặc điểm của diễn ngôn nói chung, tuy nhiên, có một số đặc điểm thể hiện tập trung hơn, nổi bật hơn ở diễn ngôn văn học.
Trước hết, diễn ngôn văn học là hình thái nghệ thuật của tư tưởng. Diễn ngôn văn học là một hình thái nghệ thuật ngôn từ trong đó có sự thống nhất hữu cơ giữa hình thức và nội dung, giữa hình thức và tư tưởng. Ở diễn ngôn văn học, hệ thống diễn đạt bao gồm hình tượng, loại hình ngôn ngữ, các phương tiện tu từ đều gắn với những nội dung văn hóa, tư tưởng nhất định. Trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ, khi nghiên cứu về hình thức và tư tưởng của văn học, M.
Bakhtin cho rằng 10 mọi ngôn ngữ đều là ngôn ngữ ý thức hệ. Các nguyên tắc thế giới quan sẽ chuyển thành các nguyên tắc nghệ thuật chi phối hình thức biểu đạt của ngôn ngữ. Diễn ngôn văn học gắn chặt với lịch sử tư tưởng, nó là một bộ phận của hệ hình tư tưởng, nó chịu sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội, của ý thức hệ, của triết học, văn hóa, thẩm mĩ… Chẳng hạn cùng viết về số phận người kĩ nữ, song do lập trường tư tưởng, ý thức hệ khác nhau, mỗi tác giả sẽ tạo ra những cấu trúc diễn ngôn khác nhau. Với Xuân Diệu (Lời kĩ nữ), người kĩ nữ mang số phận bi kịch: cô đơn, không lối thoát.
Ngược lại, trong cái nhìn của Tố Hữu – một nhà cách mạng – thì người kĩ nữ (Tiếng hát sông Hương) hoàn toàn có thể thay đổi số phận của mình, hòa nhập vào cuộc sống mới và có một tương lai tươi sáng nhờ cách mạng. Tư tưởng thời đại chi phối đến việc xây dựng diễn ngôn văn học. Mỗi thời đại với tư tưởng khác nhau sẽ tạo nên khung tri thức khác nhau và từ đó sẽ tạo nên diễn ngôn khác nhau. Trước đây, quan niệm chủ nghĩa xã hội là lý tưởng, là tương lai đáng mơ ước đã tạo ra một loạt diễn ngôn kiểu “trời mỗi ngày lại sáng” như trong thơ Tố Hữu: “Năm năm mới bấy nhiêu ngày – Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều – Dân có ruộng dập dìu hợp tác – Lúa mượt đồng ấm áp làng quê” (Ba mươi năm đời ta có Đảng).
Ngược lại, khi quan niệm về Cách mạng xã hội chủ nghĩa thay đổi, không còn đơn giản, một chiều như thế thì một loạt diễn ngôn nhận thức lại kiểu như Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,… cho thấy những hậu quả đáng tiếc của chiến tranh. Tư tưởng thay đổi, hệ hình tư duy thay đổi sẽ dẫn đến cách kiến tạo nhân vật, cách sử dụng từ ngữ, sử dụng phương thức tu từ của diễn ngôn,… của văn học cũng thay đổi. Dưới chế độ phong kiến, nhân vật trung tâm của những diễn ngôn văn học mang nặng ý thức hệ phong kiến thường là những “con đẻ” của chế độ, một lòng phụng sự, bảo vệ lợi ích của chế độ ấy, những con người mang nặng đạo đức và lễ giáo phong kiến như người quân tử, liệt nữ, trượng phu, tiết phụ. Ngược lại vào thời điểm chế độ phong kiến suy vong, ý thức hệ phong kiến lung lay, thì kiểu nhân vật trung tâm của văn học lúc này là những “đứa con phản nghịch” của chế độ ấy như Từ Hải (Truyện Kiều), Bảo Ngọc, Đại Ngọc (Hồng lâu mộng), Thôi Oanh Oanh (Oanh Oanh truyện), Lâm Xung (Thủy hử truyện)… Tóm lại, diễn ngôn văn học là hình thức nghệ thuật của tư tưởng; nó là hình thức sử dụng ngôn từ để hình tượng hóa, tri thức hóa tư tưởng của thời đại.
Diễn ngôn chịu sự quy định của hệ thống tri thức xã hội và thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống tri thức xã hội. Qua diễn ngôn văn học, ta có thể thấy được sự phát triển của lịch sử tư tưởng. 11 Thứ hai, diễn ngôn văn học là sự kiến tạo những thế giới quan mới. Cũng giống như diễn ngôn nói chung, chức năng của diễn ngôn văn học là kiến tạo nên tri thức về đời sống theo một quan niệm tư tưởng hệ nhất định.
Điều đáng lưu ý là diễn ngôn văn học không chỉ hướng tới kiến tạo một hiện tượng đời sống cụ thể, một ý kiến riêng lẻ về đời sống mà là kiến tạo ra những nguyên tắc mới trong cách nhìn nhận về đời sống, về con người. Trước đây, người ta tin rằng có một thực tại là cái tồn tại khách quan trong vũ trụ, không phụ thuộc vào nhận thức của con người. Niềm tin này đã dẫn đến tham vọng dùng văn chương để phản ánh thế giới một cách chân thực. Dưới ánh sáng của lý thuyết diễn ngôn, các học giả đương đại cho rằng, thế giới là một hệ thống kí hiệu, nó được tạo nên thông qua các diễn ngôn, không có cái nằm bên ngoài diễn ngôn, bên ngoài văn bản.
Qua diễn ngôn văn học, thực tại hiện lên không phải như nó vốn có, mà bị biến dạng, thay đổi đi rất nhiều. Việc nhà văn miêu tả thế giới không bao giờ là một hành động vô tư, chỉ thuần túy làm nhiệm vụ cung cấp thông tin mà nó luôn bị nhào nặn bởi những quan hệ quyền lực, bởi ý thức hệ nhất định.