CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYET VE QUAN NIỆM NAM TÍNH - NU TÍNH, CÁI NHÌN ĐÀN ÔNG VÀ HIỆN TƯỢNG MƯỢN GIỌNG Như trên đã nói, chúng tôi dành chương đầu tiên này dé giới thuyết một số van đề lí thuyết về quan niệm nữ tính (trong quan hệ không thê tách rời với quan niệm về nam tinh), cái nhìn đàn ông và hiện tượng mượn giọng dé làm cơ sở cho những phân tích và kiến giải ở những chương sau. Quan niệm về nam tính - nữ tính nói chung Về quan niệm nam tính và nữ tính, trong chương này chúng tôi sẽ chỉ đưa ra những nét đại thé nhất. Ở chương hai chúng tôi sẽ riêng một phan dé khảo sát những biểu hiện cụ thể và tiêu biểu của chúng trong văn học nhà nho nói chung (trong văn học Trung Quốc) dé làm cơ sở cho việc phân tích sự chi phối của những quan niệm đó tới cách miêu tả người phụ nữ trong hai khúc ngâm. Trước khi đi sâu phân tích quan niệm về nữ tính trong văn chương nhà nho, chúng tôi cần phải giải thích những khái niệm then chốt “nữ tính” (và đề cập sơ lược khái niệm “nam tính” với tư cách là một van đề không thé thiếu dé hiểu được khái niệm nữ tính) đề làm cơ sở cho việc tìm hiểu những sự khác biệt trong quan niệm về nam tính và nữ tính ở các nền văn học khác nhau.
Nữ tính là những phẩm chất được xem là đặc trưng cho phụ nữ trong một nền văn hóa của một giai đoạn lịch sử nào đó. Theo nghiên cứu của nhiều học giả về giới trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, nữ tinh thường được gắn với sự tai sản sinh ra sự sống (sinh nở) và những phẩm chất thuộc về sự chăm sóc, nuôi dưỡng như thiên chức làm mẹ, sinh đẻ, sự nhã nhặn, dịu dàng, trực giác nhạy bén, tính sáng tạo, chu kỳ sinh học của cuộc sông. Cổ mẫu của người phụ nữ trong thần thoại và thế giới tâm linh thường được gắn liền với một lực lượng sáng tạo tự nhiên (đất me Gaia, bà Eve, .) Trong triết học Trung Quốc, khái niệm về âm biểu thi cho nửa thuộc giống cái trong cặp nhị phân âm/dương. Trong truyền thống văn hoa Hindu, Shakti là năng Tạ Thị Thanh Huyền -17- Cao hoc K52 Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn tir quan điểm giới lượng sáng tạo thần thánh mang tính nữ, là năng lượng thiêng vận động trong toàn bộ vũ trụ; đó là đối tác giống cái mà nếu thiếu thì giống đực còn lại, biểu thị cho ý thức và khả năng suy xét, sẽ bất lực và vô gia trị.
Theo đạo Hindu, lực lượng sáng tạo trong vũ trụ Yoni là giống cái với năng lực sáng tạo ra sự sống. Trong tâm lý học phương Tây, những cô mẫu chính được giới thiệu lần đầu tiên bởi Carl Jung và thường được vận dụng trong văn chương là những mô hình hành vi tuân theo chu kỳ sinh học của sự sống ở người phụ nữ và rơi vào một trong các vai trò sau: Con gái: đồng nghĩa với trinh nữ; Me: gắn với vai trò tái sản xuất sự sông (sinh nở) và nuôi dưỡng con cái - một chức năng xã hội, văn hóa và tôn giáo; Mu gia: là người có vẻ cau có, gắt gỏng, độc ác, hoặc nham hiểm, thường có phép thuật có thể hoặc giúp đỡ hoặc cản trở; bà ta bị gạt ra ngoài lề xã hội vì đã rút khỏi chu trình sinh sản; sự gần kề với cái chết đặt bà ta vào mối liên hệ với trí tuệ huyền bí; W# hoàng: chia làm hai kiểu mẫu. Nữ hoàng trị vì: là một vị vua đàn bà tự mình cai trị đất nước; hoàng hậu: là vợ của một ông vua tri vì, được chia sẻ tước hiệu nhưng không được chia sẻ quyền lực. Ngoài ra còn phải ké đến kiểu mẫu “người phụ nữ quyến rũ chết người” (fatale female): đó là người đàn bả rất đẹp và quyến rũ khiến đàn ông bị hấp dẫn về giới tính nhưng lại đem đến cho họ rắc rối hoặc bất hạnh.
Trong văn học Trung Quốc cô người ta thường dé cao cảnh giác với mẫu đàn bà quyến rũ va chi phối đàn ông (nhất là đẳng “thiên tử”) thậm chí dẫn đến sự sup đồ của một triều đại (“hồ ly” — như Đát Kỷ, Bao Tự, Triệu Phi Yến), hoặc kiểu phụ nữ có khí chất và tham vọng của đàn ông, dùng sắc đẹp và thủ đoạn để chiếm đoạt vai trò thống trị của đàn ông (“gà mái gáy sáng” — như Lữ Hậu, Võ Tắc Thiên, Từ Hy Thai hậu). Nữ tính không xuất hiện và tồn tại độc lập mà dựa trên tương quan với định nghĩa va quan niệm về nam tính (masculimty). Ở góc độ xã hội hoc, nam tinh là “những tiêu chuẩn hoặc mẫu hình mà nam giới trong một nền văn hóa được kỳ vọng sẽ noi theo nếu họ muốn tương tác một cách thích hợp và được chấp nhận bởi những người khác (nam và nữ)” [38, tr. Tạ Thị Thanh Huyền - 18 - Cao hoc K52 Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn tir quan điểm giới Theo Keneth Clatterbaugh, có ba thành tố cau thành nên khái niệm về nam tính là: “vai tro giới của người đàn ông, khuôn mẫu về nam tính, và lý tưởng về giới” [38, tr.
Theo ông, thành tô đầu tiên lý giải đàn ông là gi vì nó “là một tập hợp hành vi, thái độ và hoàn cảnh thường thấy ở những người đàn ông thuôc một nhóm xác định nào đó” [38, tr. Thành tố thứ hai liên quan đến cái mà người ta nghĩ về đàn ông: “Một khuôn mẫu là ý tưởng chung về cái mà hầu hết mọi người đều xem là vai trò giới của đàn ông. Khuôn mẫu dựa trên định nghĩa về đàn ông và vai trò mà đàn ông thực sự đảm nhận không phải bàn cãi. Còn lý tưởng về giới là “một quan niệm phô biến cho răng vai trò giới của người đàn ông nên như thế nào” [38, tr.
Ông cũng lưu ý rằng giữa ba thành tố này có những mối quan hệ tương tác và vì thế những ranh giới rạch ròi là không thé vạch ra mà là một sự kết hợp biện chứng. Các nhà lý thuyết về giới đều cho rằng không thể có một mẫu hình đàn ông chung cho mọi thời dai và mọi khu vực vì nam tinh, với tu cách là một cau trúc văn hóa, khó tránh khỏi thay đôi. Song Geng dẫn nhận định của Micheal Kimmel cho rằng: “nam tính có ý nghĩa khác nhau trong những thời điểm khác nhau đối với những người khác nhau. Chúng ta hiểu thé nào là một người đàn ông trong nền văn hóa của chúng ta bằng cách đặt những định nghĩa của chúng ta trong sự đối lập với một tập hợp của “những người khác" - những thiểu số về chủng tộc, về giới tính, và trên hết là phụ nữ” [38, tr.
Vì thé, “Phản nữ tinh (anti femininity) [.] là trong tâm của van dé nam tinh thống trị ở phương Tây, tức là một người dan ông thi có nghĩa là không giống như là một người phụ nữ nên nam tính được định nghĩa bởi cái mà người đàn ông không là hơn bởi cái họ là [38, tr. So sánh nam tính với nữ tính, William Jankowiak phát hiện ra rằng: “Sở hữu nữ tính đích thực thì hiếm khi đòi hỏi minh chứng bằng hành động hoặc sự đương dau với những tình huống nguy hiểm. trong khi đó nam tính lại vẫn phải dựa trên thành tựu đạt được [.] Đó là một phát hiện liên văn hóa phô biến về “nam tính” và “nữ tính”: nam tính được cho rằng phải là cái đạt được thông qua hành động cạnh tranh với những người đàn ông khác, dù là thuộc thể xác hay tinh thần, trong khi nữ tính thì Tạ Thị Thanh Huyền -19- Cao học K52 Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn tir quan điểm giới được liên hệ với những đánh giá VỀ Sự hấp dan về tình duc, kha năng sinh nở và sự tháo vat trong việc gia đình, nhà cửa.364] Như vậy, cả nam tính và nữ tính đều là những tập hợp các biểu hiện đặc trưng về giới (của nam giới hay phụ nit) được tao dựng nên, phố biến, thé chế hóa trong một nền văn hóa, một thời kỳ lịch sử nhất định. Trong cơ sở hình thành nên nam tính và nữ tính, những yếu tố sinh học tuy cũng đóng một vai trò không nhỏ nhưng quan trọng hơn cả là vị trí có tính tương quan của hai giới trong hệ thống chính trị - xã hội - kinh tế - văn hóa.
Vì thế, nam tính và nữ tính không phải là những giá trị “nhất thành bat biến” mà có tính lich sử, tính khu vực. Chúng vừa là những qui ước xã hội về giới áp đặt lên cá nhân từ bên ngoài vừa là ý thức tự áp dụng những qui ước đó của chính họ. Lý thuyết về cái nhìn đàn ông (male gaze) Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn lý thuyết về biểu hiện của “cái nhìn đàn ông” trong những tác phẩm văn chương của nam giới viết về nữ gidi. Cái nhìn dan ông là một ly thuyết điện ảnh xuất phat từ ly thuyết về Cái nhìn (gaze) vốn là thuật ng ữ của phân tâm học được phô biến rộng rãi bởi Jacques Lacan Theo sự diễn giải của Lưu Nguyễn Đạt thì cái nhìn “có tính cách thu hẹp đối tượng, đồng thời vật hoá đối tượng thành sự ham muốn của người nhìn.
Người nhìn như muốn khuếch xung, kéo dai mình nối tiếp với đối tượng dé thấy lại mình nơi hình dung đối tượng và chỉ muốn nhìn ở đối tượng những gi thích hợp với chính họ, với ban ngã, thói quen, văn hoá và vị thế của họ” [5]. Như một nhà phê bình đã chỉ ra, khi người ta nhìn vào một đồ vật, người ta không chỉ nhìn bản thân đồ vật đó mà còn đang nhìn cả mối liên hệ giữa nó và chính ho. Một người nao đó vẽ nên một bức tranh sơn dầu và tạo ra một bản sao của một cảnh tượng. Người xem đứng trước bức tranh và nhìn vào những sự vật được miêu tả.
Trong một bức tranh vẽ người phụ nữ khoả thân, người xem sẽ thấy răng nàng luôn được vẽ trong tư thế bất động, thường là đang năm ngả người, hoặc thậm chí đôi khi còn đang ngắm nhìn và ngưỡng mộ hình ảnh của chính mình trong một tắm gương — tat cả những chi tiét này déu nhăm nuôi dưỡng ý thức vê bản ngã va quyên sở hữu của Tạ Thị Thanh Huyền -20- Cao học K52 Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn tir quan điểm giới người xem kiêm chủ sở hữu.