đặt vấn đề một cách cụ thể và nói chung nếu không kích thích được sự chú ý, óc phán đoán của người nghe thì dầu vấn đề truyện nêu ra có ý nghĩa sâu sắc như thế nào đi nữa thì cũng không có tác dụng gì. Muốn gây cười được thì phải có sự chuẩn bị, vì tiếng cười hài hước là tiếng cười thông minh, tiếng cười của con người biết một cách sâu sắc và tế nhị các hiện tượng của cuộc sống. Cho nên, khi nghiên cứu truyện cười ta phải nghiên cứu trên hai loại kết cấu cơ bản sau: Kết cấu tiệm tiến và kết cấu “gói kín, mở nhanh”.1 Kết cấu “tiệm tiến” Kết cấu tiệm tiến là loại kết cấu trong đó tác giả dân gian kích thích tiếng cười của ta nhiều lần, làm cho tiếng cười nâng lên dần từng mức và đã kết thúc khi nó đạt tới tuyệt đỉnh. Chẳng hạn trong truyện Cháy, tác giả dân gian ba lần làm cho ta bất ngờ mà cũng ba lần tạo cho ta dịp tốt để chiến thắng và do đó đã ba lần cho 17 ta được cười.
Khi ông khách hỏi “Bố cháu có nhà không”, và em bé trả lời: “Mất rồi”, thì câu trả lời thực bất ngờ. Sự bất ngờ chỉ đem lại cho ông khách sự hốt hoảng. Chúng ta cũng thấy bất ngờ, nhưng lại hiểu ngay là em bé nói về tờ giấy và do đó bật cười. Khi ông khách giật mình hỏi: “Mất bao giờ?”, và em bé trả lời: “Mất tối qua”, thì đó là sự bất ngờ thứ hai.
Ông khách càng hốt hoảng mà chúng ta lại càng cười. Đến khi ông khách hỏi dồn: “Tại sao mất?”, và em bé trả lời: “Cháy!”, thì sự bất ngờ đối với ông ta gây sự hoảng hốt và sự ngạc nhiên cao độ. Còn về phần chúng ta được dịp cùng phá ra cười. Sự bất ngờ càng lớn, chiến thắng càng to, tiếng cười càng giòn giã.2 Kết cấu “gói kín, mở nhanh” Kiểu kết cấu này tác giả dân gian chỉ làm cho chúng ta cười vào lúc kết thúc truyện.
Mọi kịch tính, bất ngờ đều được giấu kín, được dồn nén đến tận cùng của truyện. Khi tiếng cười sảng khoái, cười giòn giã cất lên thì cũng là lúc câu truyện kết thúc. Trong truyện Tao thèm quá, khi oan hồn con lợn xuống âm phủ gặp Diêm Vương để tố cáo bọn dồ tể và Diêm Vương bảo nó khai rõ đầu đuôi sự việc, khi Diêm Vương hỏi vặn để biết sau khi lợn bị dội nước sôi và cạo lông rồi thì bọn đồ tể còn làm gì nữa, chúng ta thấy rằng ông Vua ở cõi âm này quả là quan tâm đến số phận đáng thương của con lợn kia. Ông hỏi cặn kẽ đến như thế chắc là để biết cho hết tội ác mà quyết định một sự trừng phạt nghiêm khắc.
Diêm Vương thật xứng đáng nói lên điều phán quyết cuối cùng đối với mọi hành vi tội ác ở thế gian này! Tác giả dân gian đã tạo ra tình huống rất bất ngờ, đang trên đà phát triển của truyện, người nghe như hiểu theo một chiều hướng phát triển khác của sự kiện, của nhân vật,. Mà ở đây, chính nhân vật lợn đã tin như thế, kể tiếp, hết sức tin tưởng rằng lời khai của mình giúp cho Diêm Vương cầm cân nẩy mực chính xác hơn, rằng vị thần công lý này sẽ giải cho mình mối hận thù to lớn. Lợn kể kĩ lưỡng, miêu tả tỉ mỉ công việc nấu nướng của bọn người độc ác: cũng vì mục đích ấy. Kể đến đoạn “bắc chảo lên.
phi hành mỡ cho thơm, cho mắm muối vào xào.” thì Diêm Vương ngăn lại: “Thôi thôi! Đừng nói nữa”. Có lẽ ngài không đủ can đảm để nghe những điều quá thương tâm ấy. 18 Nhưng không! Thật bất ngờ “. tao thèm quá!”.
Tác giả đã tạo một tình huống rất kịch tính. Đến đây lợn bị chưng hửng còn chúng ta thì chợt nhận ra bản chất của Diêm Vương để phá lên cười. Cười trong đau xót, cười mỉa mai châm biếm, cười ra nước mắt. Đó chính là bố cục “gói kín, mở nhanh”.
Nghệ thuật chơi chữ trong truyện cười dân gian Viêt Nam 2.1 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết 2.Chơi chữ theo cách cùng âm Từ ngữ cùng âm với cụm từ tự do vốn có theo ngữ cảnh thuận, được nhận ra bởi hình thứ cố định của chúng. Ví dụ: Ông khách nọ hỏi đứa bé, khi thấy vắng chủ nhà: - Bố cháu đâu? - Đang đánh chén! - Ở đâu? - Ở bờ ao. Ông khách chạy vội ra bờ ao, thấy chủ nhà đang ngồi rửa chén (thế có chán không kia chứ! )” “Đánh chén” (làm cho sạch chén bát bằng cách kỳ cọ, quay đảo) cùng âm với “đánh chén” là một từ thông tục, cùng nghĩa với ăn. + Từ ngữ cùng âm với từ ngữ vốn có theo ngữ cảnh thuận, được nhận ra bằng kiến thức, kinh nghiệm hay thực tiễn ngoài văn bản.
Nhà nọ nghèo, người mẹ thường uống nước vào chỗ sứt của chén, nhường chỗ lành lặn cho chồng con. Đứa con nhỏ thấy đó là việc không bình thường. Một hôm có ông khách đến thăm. Khay trà được đưa ra mời.
Qua quan sát ông khách cho rằng: "cái chén bị mẻ hẳn là ít ai chịu uống, nhất là chỗ mẻ, nó vệ sinh" nhất, bèn chỗ chén ấy mà uống. Trong lúc ông khách đang thích thú thưởng thức cả vị trà và sự sáng suốt của mình, thì đứa bé nọ chạy lại, la to lên: - " A, cái ông này! Sao lại uống vào lỗ của mẹ tôi!".Khiến ông suýt đánh rơi chén. Còn đứa bé không hiểu gì cả. Ở đây, tác giả dân gian đã sử dụng yếu tố cùng âm "lỗ" nghĩa là một chỗ bị khoét trống hay nói đến chỗ mẻ của chén (ý thằng bé muốn đề cập) với một bên là từ địa phương nghĩa là "chỗ" hay là "vùng kín" của người phụ nữ (ông khách hiểu theo cách này).
Cho nên đã tạo ra tiếng cười rất vui vẻ và 19 nghịch ngợm. Việc sử dụng hình thức chơi chữ theo lối đồng âm này tạo ra hiệu quả cao cho truyện cười dân gian. + Cùng âm Hán Việt - Hán Việt Hiện tượng vận dụng từ cùng âm Hán Việt trong truyện cười dân gian Việt Nam rất phổ biến. Đặc biệt là nước ta thời bấy giờ chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độ thống trị phương Bắc, chữ Hán đã từng thống lĩnh hệ thống giáo dục nước ta một thời.
Cho nên yếu tố Hán Việt đi sâu vào đời sống của nhân dân ta, vào truyện cười là điều không thể tránh khỏi. Chơi chữ bằng cách sử dụng các từ cùng âm Hán Việt đã làm cho hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam thêm phong phú. Ví dụ như trong truyện sau: "Ông nọ khoe ngôi nhà mới với khách. Nhìn ra cửa sau, ông nói: - Ông xem, hậu môn này của tôi có được không? Người khách hóm hỉnh, đáp: Thật là đại tiện!" "Hậu môn" (cửa sau) cùng âm với "hậu môn" (lỗ đít).
Ở đây hai từ này có chung chữ viết nhưng nghĩa thì hoàn toàn khác nhau, không có liên quan gì với nhau cả. Thông thường, người Việt chỉ nói cửa sau hay cửa hậu chứ ít ai nói như ông nọ. Vì vậy mà người khách đã dựa vào đó để trả lời "đại tiện" (rất tiện lợi) ; Do sự có mặt của "hậu môn", nên đại tiện cũng mang nghĩa tống phân ra ngoài. + Cùng âm có yếu tố riêng Có thể cùng âm chứa yếu tố riêng như: tên riêng, tên địa danh, địa điểm,.
Trong truyện cười sử dung nghệ thuật chơi chữ có yếu tố riêng để nhằm mục đích chủ yếu là đả kích, châm biếm, cười cợt nhũng hiện tượng, sự vật hay con người có bản chất xấu xa. Thông qua sự cùng âm đó mà tác giả dân gian bộc lộ thái độ chê trách, không đồng tình với chúng. Chẳng hạn, trong truyện Tiên sư thằng bảo thái, vận dụng yếu tố cùng âm có chứa yếu tố tên riêng: Trạng Quỳnh đã tạo ra một tình huống, hoàn cảnh rất hợp lôgic về việc sai người ra chợ bảo các hàng thịt, mai mỗi hàng thái sẵn vài cân. "Sáng hôm sau, các hàng thịt lo thái sẵn thịt chờ.
Đợi mãi chẳng thấy 20 ai tới lấy, họ kéo nhau đến nhà quan Trạng thì thấy vắng tanh. Quan Trạng vừa đi việc quan về,dừng lại bảo: - Chắc có đứa nào chọc phá bà con đấy. Cứ gọi thằng nào bảo thái ra mà chửi! Bạn hàng thịt tức giận, chửi toáng lên: - Tiên sư thằng bảo thái! Tiên sư thằng bảo thái. Vua Bảo Thái bị chửi một bữa inh cả phố".
"Bảo thái" (tiếng Việt: bảo xắt ra) cùng âm với niên hiệu Bảo Thái của Vua Lê Dụ Tông (1720 - 1726) đương thời. Tác giả dân gian đã chơi chữ cách này nhằm tạo ra tiếng cười hả hê, đánh thẳng vào tên Vua không mấy tốt đẹp này. Hay truyện Quỳnh đối ông Tú Cát, ông ta ra vẻ hợm hĩnh, kiêu căng ra câu đối: "Trời sinh ông Tú Cát". Quỳnh thấy vẻ chướng tai gai mắt của ông Tú nên đối lại: "Đất nứt con bọ hung".
"Cát" là tên của ông khách, do sự xuất hiện của "hung", biến thành "cát" (lành, tốt lành) ; Và từ "hung", từ tố trong tên gọi "bọ hung", cũng theo đó mà khoác nghĩa "hung" (dữ, dữ tợn) (từ Hán Việt tương ứng) .2 Chơi chữ theo cách nhại, cách gần âm + Nhại từ ngữ, lời nói, giọng nói Trong truyện cười, chơi chữ bằng phương thức nhại từ ngữ, lời nói, giọng nói cũng được vận dụng để tạo ra tiếng cười. Có thể nhại bằng cách đọc lệch, theo cách gần âm, sử dụng lại những từ ngữ, lời nói, giọng nói của nhân vật để nhằm mục đích chế giễu nhân vật hay đơn thuần chỉ để cười vui. Ví dụ, "Có anh nọ không được bao lăm chữ trong bụng, nhưng hễ nói là hay xổ ra khoe. Lần ấy, anh ta nói với người ăn kẻ ở rằng: "Sự bất đắc dĩ tao mới đánh mày, chứ tao cũng biết giáo đa thành oán".
Biết anh ta chẳng tốt lành gì, lại nữa vừa rồi vợ đẻ, anh ta tra một cái gáo thật dài cán để đưa cơm nước cho vợ (sợ đưa trực tiếp sẽ làm bẩn chữ thánh hiền trong óc) , người hàng xóm mới giả vờ mắng con rằng: - Sự mất bát đĩa tao mới đánh mày, chứ tao cũng biết gáo tra dài cán!". Ở lời nói của người hàng cười xóm, "sự bất đắc dĩ" biến thành "sự 21 mất bát dĩa" (đĩa) ", "giáo đa thành oán" (răn dạy thái quá, có thể gây oán thù) hoá ra "gáo tra dài cán"; Đây là cách nhại theo cách gần âm.